Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

Giả danh Phạm Thị Hoài gửi virus?

Tối nay đi họp về và xem qua thư điện tử thấy có 2 thư của Phạm Thị Hoài, và cả 2 thư đều đáng nghi ngờ. Một thư đề địa chỉ "Pham Thi Hoai -- hoaithipham@yahoo.de", gửi cho "Vantung Le -- vantung.le@numericable.com", với chủ đề là "Thông báo khẩn của Talawas - Reporting of emergencies www.talawas.de". Thư thứ 2 từ "Thi Hoai Pham -- phamthihoai@onlinehome.de" gửi cho "phamthihoai@onlinehome.de". Cả hai thư đều đáng nghi ngờ, vì 3 lí do. Thứ nhất, tôi đâu có quen biết với chị Hoài. Thứ hai, ai đó giả mạo một cách quá … ngu si. Trong thư có nội dung (nguyên văn) như sau:

"Thông báo của www.talawas.de khan

Xin Các anh xem file Chị Đinh kem.

Phạm Thị Hoài"

Nhà văn Phạm Thị Hoài đâu có ngớ ngẩn đến nổi viết không rành một câu tiếng Việt như thế.

Thứ ba, điều đáng nói là cả hai thư đều bị hệ thống internet kiểm tra báo cho biết:

"The following message attachments were flagged by the antivirus scanner:

Attachment [2.2] Thong, scan failed: Out of memory. Action taken: incomplete scan"

Thế là sự việc đã rõ: ai đó đã mạo danh Nhà văn Phạm Thị Hoài để gửi virus. Chắc là có người lạ (hay quen?) đã quá tuyệt vọng.

NVT

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Khoa học VN đang ở đâu trong năm 2009 ?

Tôi có thói quen làm kiểm kê cuối năm. Mấy năm gần đây, cứ đến thởi điểm gần cuối năm, tôi đếm số lượng ấn phẩm khoa học từ Việt Nam được công bố trên các tập san khoa học quốc tế. Để có con số này không phải là chuyện dễ dàng, vì phải truy cập một trang web của Viện thông tin khoa học (ISI) và có khi phải trả tiền. Tôi may mắn làm trong một viện nghiên cứu có tài khoản với ISI, và vì thế tôi có thể truy nhập vào trang web này để thu thập dữ liệu. Những dữ liệu mà tôi thu thập bao gồm tổng số bài báo khoa học công bố trong năm 2009, và tiện đó, tôi so sánh với các nước trong khối ASEAN để biết mình đang ở đâu và đi đến đâu. Những dữ liệu này cung cấp cho chúng ta một “bức tranh” tổng quát về khoa học trong vùng, và theo tôi thì cũng có ích cho giới quản lí khoa học ở trong nước.

Ấn phẩm khoa học là một thước đo năng suất khoa học. Đối với một cá nhân, số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học là một chỉ tiêu quan trọng để được đề bạt trong hệ thống khoa bảng. Đối với một quốc gia, số lượng ấn phẩm khoa học là một thước đo về năng suất khoa học và mức độ sáng tạo của quốc gia đó. Ở đây, nói đến “ấn phẩm khoa học” tôi chỉ giới hạn trong những “articles”, tức là bài báo khoa học được chấp nhận cho công bố trên các tập san mà cộng đồng khoa học quốc tế công nhận mà tác giả có địa chỉ từ Việt Nam. Tập san khoa học “được công nhận” có nghĩa là tập san đó nằm trong danh mục của ISI. Do đó, “ấn phẩm khoa học” ở đây không bao gồm những abstracts trong hội nghị khoa học, không bao gồm những bài báo trên các tập san khoa học ở Việt Nam. Thật ra, không có một tập san khoa học nào ở Việt Nam nằm trong danh mục ISI. Vì là thước đo khoa học của Việt Nam nên tôi chỉ tính những bài mà tác giả ghi rõ là xuất phát địa chỉ Việt Nam, cho nên những bài, kể cả những bài quan trọng như của Ngô Bảo Châu, không được tính là của Việt Nam. So sánh ấn phẩm khoa học với các nước trong vùng cũng là một cách làm tương đối (chỉ “tương đối” thôi) khách quan để biết chúng ta đang ở đâu trong bản đồ khoa học quốc tế.

Vậy thì nền khoa học của chúng ta đang ở đâu trên thế giới? Trả lời: chúng ta đang ở trong vị thế dưới trung bình trong khối ASEAN. Trong năm 2009, các nhà khoa học VN công bố được 959 bài báo khoa học. Trong cùng năm, số bài báo khoa học từ Thái Lan cao gấp 4.7 lần (4527 bài), Mã Lai cao gấp 4 lần (3903 bài), và Singapore cao gần 8 lần (7524 bài) con số ấn phẩm khoa học từ Việt Nam. Con số bài báo khoa học của Việt Nam cao hơn Indonesia (814 bài) và Philippines (710 bài). Ba nước vẫn còn lẹt đẹt trong vùng chính là Việt Nam, Indonesia và Philippines; và khi xem xét những con số trong 5 năm qua, tôi xếp hạng chúng ta thấp hơn trung bình trong khối ASEAN.

Biểu đồ về số lượng ấn phẩm khoa học của VN và các nước trong khối ASEAN trong thời gian 2005-2009. Biểu đồ bên trái trình bày dữ liệu cho 5 nước, còn biểu đồ bên phải phóng đại cho 3 nước Việt Nam, Indonesia, và Philippines.

Số bài báo khoa học của VN có tăng trưởng, nhưng tỉ lệ tăng thấp hơn các nước trong vùng. So với năm 2008, số bài báo khoa học của VN trong năm 2009 tăng 14%. Tuy con số này khá khả quan, nhưng trong cùng thời gian, Thái Lan tăng 37%, Malaysia tăng gấp 78%, Indonesia và Philippines tăng khoảng 50%. Riêng tỉ lệ tăng trưởng của Singapore tăng là 35%. Như vậy, con số ấn phẩm của ta đã thấp, mà tỉ lệ tăng trưởng còn thấp nhất trong vùng.

Y sinh học, chứ không phải toán học, đóng góp nhiều bài báo khoa học của VN. Trong thời gian 2005-2009, khoảng 19% bài báo khoa học của Việt Nam thuộc về lĩnh vực y sinh học, 16% là những công trình nghiên cứu về toán học, 4.5% là vật lí chất rắn, và 4.2% thuộc về lĩnh vực môi trường. Những dữ liệu này không phù hợp với một phát biểu (đã trở thành niềm tin) cho rằng ngành toán đóng góp nhiều bài báo nhất cho khoa học VN.

Nói tóm lại, vài dữ liệu ban đầu này cho thấy năng suất nghiên cứu khoa học ở Việt Nam vẫn còn quá thấp. Cả nước hiện nay có 8398 giáo sư và phó giáo sư (1336 giáo sư, 7062 phó giáo sư), những người đáng lẽ làm nghiên cứu khoa học. Nói cách khác, gần 9 GS/PGS mới sản xuất được một bài báo khoa học. Thật ra, con số này cao hơn nhiều, vì chỉ có khoảng 20% bài báo khoa học là do nội lực, phần lớn là do cộng tác với đồng nghiệp nước ngoài. Để thấy chúng ta thấp như thế nào, hãy so sánh với Thái Lan. Ở Thái Lan, có 4409 người được nhóm là “nhà khoa học” (tức bao gồm giáo sư, phó giáo sư, giảng viên đại học, và những người làm trong viện nghiên cứu), nhưng họ “sản xuất” được 4527 bài báo trong năm 2009. Như vậy, mỗi nhà khoa học của họ sản xuất 1 bài trong năm 2009, và năng suất này cao gấp 9 lần so với Việt Nam.

Phát triển kinh tế được thực hiện qua công nghệ. Một cách ví von, công nghệ là “con đẻ” của khoa học, và khoa học là một sản phẩm của nghiên cứu. Qua những lĩnh vực có liên quan mật thiết này, nghiên cứu được xem là một phương tiện để nuôi dưỡng phát triển kinh tế. Kể từ ngày Việt Nam dành được độc lập, có thể nói rằng giới khoa học Việt Nam chủ yếu là những người tiêu thụ hơn là những nhà sản xuất tri thức. Nhận xét này có lẽ không quá đáng vì trong thực tế, các giáo sư Việt Nam phổ biến và truyền bá kiến thức qua giảng dạy, và ngay cả giảng dạy cũng dựa vào sách giáo khoa và nghiên cứu từ nước ngoài. Ngay cả thông tin về Việt Nam cũng chủ yếu nằm trong tay của giới khoa học nước ngoài, chứ không phải của giới khoa học Việt Nam. Những phân tích trên đây cho thấy Việt Nam cần phải nâng cao nghiên cứu khoa học hơn nữa để phục vụ cho nhu cầu và góp phần vào phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

NVT

Tản mạn về sự độc lập giữa quan tòa và Nhà nước

Đôi khi tôi nghĩ những phiên tòa cũng giống như … peer review trong khoa học. Peer review là hệ thống bình duyệt. Một công trình khoa học thường được 3 hay 4 chuyên gia bình duyệt và phản biện, và tác giả phản biện ngược lại. Những phản biện và tái phản biện thường xảy ra 3 lần, nhưng có trường hợp 6 lần, và kéo dài đến 1 năm. Khi kết quả bình duyệt tốt thì tổng biên tập quyết định cho công bố; nếu kết quả bình duyệt không tốt thì xem như thất bại. Ở đây, các chuyên gia bình duyệt là bồi thẩm đoàn (chắc là tương đương với “hội đồng xét xử” bên VN), tổng biên tập là chánh án, tác giả bài báo là bị cáo. Tất cả họ đều được đào tạo bài bản, và có trình độ chuyên môn cao hay rất cao. Trong hệ thống bình duyệt này, tác giả, chuyên gia phản biện và tổng biên tập hoàn toàn độc lập. Trong hệ thống tòa án và hành pháp ở các nước tiên tiến cũng thế: công an, công tố viện (giống như viện kiểm sát bên VN), và tòa án hoàn toàn độc lập. Chúng ta đã thấy công tố viện Mĩ còn “lôi” cả tổng thống Clinton ra tòa, và tổng thống phải hầu tòa như mọi người.

Đó là chuyện thiên hạ, còn chuyện Việt Nam thì sao? Theo dõi “vụ án mua dâm” ở tỉnh Hà Giang và so sánh với vụ án “âm mưu lật đổ chính quyền Nhân dân” ai cũng có thể thấy một khác biệt thú vị. Cái khác biệt hiển nhiên nhất là thời gian. Vụ án chính trị kia chỉ kéo dài vài giờ, còn vụ án mua dâm thì kéo dài nhiều ngày và nay thì sự việc hình như phải … làm lại từ đầu. Không biết cái khác biệt này có nói lên rằng tòa án Hà Giang xét xử vụ mua dâm cẩn thận hơn là xét xử những bất đồng về chính kiến. Những sự cẩn thận của Hà Giang chắc làm cho các ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung tiếc rằng mình không được ra tòa ở Hà Giang.

Quay lại vụ án mua dâm, còn nhớ khi vụ án bắt đầu thu hút chú ý của dư luận và khi hiệu trưởng Sầm Đức Xương bị tố cáo là mua dâm, thì ông chủ tịch UBND tỉnh tuyên bố rằng việc này là việc “động trời”, không thể chấp nhận được. Nhưng đến khi các “bị cáo” ghi rõ chính ông chủ tịch cũng là người mua dâm thì không thấy ông lên tiếng bình luận gì. Có lẽ cũng hơi khó cho ông bình luận.

Hai người phụ nữ trẻ “bán dâm” (mà có lẽ chính xác hơn là bị cưỡng dâm) lại bị bỏ tù, còn người bị tố cáo (ông chủ tịch UBND) mua dâm thì không hề hấn gì! Đúng là công lí ngược đời! Hai nạn nhân đi tù vì (trích): “Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên cũng mắc một số sai phạm: Việc lấy lời khai của các bị can về hình thức, thủ tục không đúng pháp luật. Kiểm sát viên kí văn bản khi chưa có quyết định phân công của Viện trưởng VKSND huyện Vị Xuyên. Theo trình bày của bị cáo và người giám hộ, Biên bản phiên tòa sơ thẩm (của TAND huyện Vị Xuyên) là tạo dựng, không đúng với nội dung, diễn biến phiên tòa. […] Tại phiên tòa phúc thẩm (TAND tỉnh Hà Giang ngày 20/1/2020): Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tuyên bố lí do, không công bố Hội đồng xét xử, không cần hội ý hoặc nghị án đã đơn phương tuyên bố hoãn phiên tòa. Cả hai cấp toà đều xử kín, các nhà báo không được tham dự trực tiếp mặc dù vụ án cần phải được xét xử công khai, thể hiện có sự khuất tất trong hoạt động tư pháp ở Hà Giang trong vụ án này.”

Mà, tỉnh Hà Giang này xem ra rất đặc biệt. Năm ngoái, trước những sai phạm của chính quyền địa phương có ảnh hưởng đến doanh nghiệp Sông Lô, Thủ tướng đã có 5 công văn yêu cầu giải quyết, nhưng UBND tỉnh không làm theo yêu cầu của Thủ tướng. Hà Giang đúng là đặc biệt! Báo chí gọi hiện tượng Hà Giang bất tuân lệnh trên bằng bệnh danh “Trên bảo dưới không nghe”. Tôi thì thấy nên đặt bệnh danh là “Hội chứng Hà Giang”. Đặc điểm chính của Hội chứng Hà Giang là địa phương không làm theo chỉ thị của trung ương, pháp luật thì áp dụng “linh động” vào bối cảnh địa phương (như vụ án mua dâm chẳng hạn).

Thật ra, nhìn chung những khuất tất trong phiên tòa vừa kể trên có lẽ là tín hiệu chung về hệ thống hành pháp, tòa án, và Đảng ở Việt Nam. Chẳng hạn như Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao không xuất phát từ trường luật, mà là từ trường Bách Khoa và An Ninh, từng là trung tướng công an. Theo tôi biết, ở các nước ngoài khối XHCH không có quan tòa nào xuất thân từ công an; tất cả đều phải học luật khoa. Cả Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao đều là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương của Đảng. Nói cách khác, cả hai cơ quan và công an đều chịu sự chi phối của Đảng. Mà, Đảng thì lãnh đạo Nhà nước. Chẳng có cơ quan nào độc lập với cơ quan nào cả. Cấp trung ương mà còn vậy thì chắc địa phương cấp tỉnh còn liên hệ chằng chịt hơn nữa. Với những mối liên hệ chằng chịt như thế thì khó mà có một sự độc lập đúng nghĩa. Cũng như trong khoa học, nếu các chuyên gia bình duyệt, tổng biên tập và tác giả không độc lập nhau thì quyết định của tổng biên tập sẽ bị chất vấn, không có độc lập đúng nghĩa giữa Nhà nước (chính phủ), viện kiểm sát, và tòa án và thì kết quả của những phiên tòa vẫn còn tồn tại nhiều câu hỏi.

NVT

Trường hợp hiếm: không có âm hộ nhưng mang thai

Từ hôm qua, tôi phân vân hoài không biết có nên đưa tin này không. Số là một anh bạn bên bệnh viện St Thomas (Anh) gửi email kèm theo một “case report” (báo cáo trường hợp) khá hi hữu về một phụ nữ mới 15 tuổi không có âm hộ nhưng mang thai! Tôi tưởng chuyện đùa hay chuyện “phép lạ” mà giới tôn giáo, nên bán tin bán nghi. Nhưng qua kiểm tra một hồi thì câu chuyện có thật. Case report này được công bố trên tập san về sản phụ khoa (British Journal of Obstetrics and Gynaecology) năm 1988, với tựa đề “Oral conception. Impregnation via the proximal gastrointestinal tract in a patient with an aplastic distal vagina. Case report.”


Chờ các chuyên gia sản phụ bình luận.

NVT


Nguyên văn ca hi hữu này như sau (sẽ không dịch, vì có vài chi tiết “nhạy cảm”):

Oral conception. Impregnation via the proximal gastrointestinal tract in a patient with an aplastic distal vagina. Case report.

“Case report:

The patient was a 15-year-old girl employed in a local bar. She was admitted to hospital after a knife fight involving her, a former lover and a new boyfriend. Who stabbed whom was not quite clear but all three participants in the small war were admitted with knife injuries.

The girl had some minor lacerations of the left hand and a single stab-wound in the upper abdomen. Under general anaesthesia, laparotomy was performed through an upper midline abdominal incision to reveal two holes in the stomach. These two wounds had resulted from the single stab-wound through the abdominal wall. The two defects were repaired in two layers. The stomach was noted empty at the time of surgery and no gastric contents were seen in the abdomen. Nevertheless, the abdominal cavity was lavaged with normal saline before closure. The condition of the patient improved rapidly following routine postoperative care and she was discharged home after 10 days.

Precisely 278 days later the patient was admitted again to hospital with acute, intermittent abdominal pain. Abdominal examination revealed a term pregnancy with a cephalic fetal presentation. The uterus was contracting regularly and the fetal heart was heard. Inspection of the vulva showed no vagina, only a shallow skin dimple was present below the external urethral meatus and between the labia minora. An emergency lower segment caesarean section was performed under spinal anaesthesia and a live male infant weighing 2800 g was born…

…While closing the abdominal wall, curiosity could not be contained any longer and the patient was interviewed with the help of a sympathetic nursing sister. The whole story did not become completely clear during that day but, with some subsequent inquiries, the whole saga emerged.

The patient was well aware of the fact that she had no vagina and she had started oral experiments after disappointing attempts at conventional intercourse. Just before she was stabbed in the abdomen she had practised fellatio with her new boyfriend and was caught in the act by her former lover. The fight with knives ensued. She had never had a period and there was no trace of lochia after the caesarean section. She had been worried about the increase in her abdominal size but could not believe she was pregnant although it had crossed her mind more often as her girth increased and as people around her suggested that she was pregnant. She did recall several episodes of lower abdominal pain during the previous year. The young mother, her family, and the likely father adapted themselves rapidly to the new situation and some cattle changed hands to prove that there were no hard feelings.

Comments

A plausible explanation for this pregnancy is that spermatozoa gained access to the reproductive organs via the injured gastrointestinal tract. It is known that spermatozoa do not survive long in an environment with a low pH (Jeffcoate1975), but it is also known that saliva has a high pH and that a starved person does not produce acid under normal circumstances (Bernards & Bouman 1976). It is likely that the patient became pregnant with her first or nearly first ovulation otherwise one would expect that inspissated blood in the uterus and salpinges would have made fertilization difficult. The fact that the son resembled the father excludes an even more miraculous conception.”

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2010

Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

Có lẽ những người yêu thơ và nhạc không ai không biết đến bài Màu tím hoa sim, mà Phạm Duy phổ thành nhạc trong ca khúc Áo anh sứt chỉ đường tà. Ngoài ra, Dũng Chinh cũng phổ nhạc bài thơ này, nhưng tôi không thích bằng bài của Phạm Duy. Trong bài sau đây, Hữu Loan kể lại bối cảnh ra đời của bài thơ. Dù đã nghe qua những khó khăn lớn của ông, nhưng tôi không ngờ ông lại khổ cực như mô tả trong bài tự thuật này. Đọc để cảm phục cái tính can trường và bất khuất của tác giả.

Bài viết còn nhắc đến vụ CCRĐ với một cảnh man rợ như mô tả trong đoạn này: "
Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết."

NVT


===

Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim"

Hữu Loan: Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi - Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....

Có lần tôi kể chuyện " bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: " yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ...Tôi về không gặp nàng...

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
 / Những đồi sim, những đồi hoa sim / 
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
 / Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt / 
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết / 
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi" hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.



Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi " tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

Nguồn: www.danchimviet.com/articles/2004/1/Li-t-thut-ca-tac-gi-1-bai-th-ni-ting-Mau-Tim-Hoa-Sim/Page1.html


Màu Tím Hoa Sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh
Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như yêu người người em gái.
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê..
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về không gặp nàng
Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa...
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu vàng cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...)

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2010

Trình độ học vấn của các ủy viên Bộ Chính trị

Tiếp theo bài Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam, Mĩ và Úc, hôm qua, có vài email của bạn đọc hỏi tôi sao không phân tích trình độ học vấn của các vị trong Bộ Chính trị. Câu trả lời đơn giản là vì BCT chỉ có 15 người, tức là hơi ít, nên các ước tính có thể không đáng tin cậy mấy. Nhưng có cách phân tích có lẽ có ý nghĩa hơn trong điều kiện số cỡ mẫu ít: đó là xem xét biến chuyển với thời gian. Do đó, để tìm hiểu, tôi vào trang web wikipedia để có danh sách của 15 vị trong nhiệm kì đương thời (tức từ Đại hội X) và danh sách các vị trong 2 khóa trước đó. Qua phân tích thì tôi thấy có vài xu hướng đáng chú ý.

Con số ủy viên BCT có xu hướng giảm. Năm 1996, BCT có 19 ủy viên, đến khóa 2001 và 2006 thì con số này chỉ còn 15 người. Về phân phối vùng, số ủy viên gốc miền Nam có xu hướng gia tăng theo thời gian. Năm 1996, có 5 ủy viên gốc miền Nam (26%), 7 người gốc miền Bắc và 7 người miền Trung. Đến năm 2001, số ủy viên gốc miền Nam là 6/15 (tức 40%), và con số này vẫn duy trì cho đến năm 2006.

Về giới tính, nói chung BCT chỉ toàn các ông. Trong 3 nhiệm kì (2006, 2001, và 1996), chỉ có 1 người nữ duy nhất là ủy viên BCT: đó là bà Nguyễn Thị Xuân Mỹ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ủy viên khóa 1997. Còn hai khóa 2001 và 2006 chỉ toàn nam.

Tuổi trung bình của các ủy viên BCT có xu hướng là giảm theo thời gian. Chẳng hạn như năm 1996, tuổi trung bình của 19 ủy viên BCT là 64. Năm 2001, tuổi trung bình chỉ 60, giảm 4 tuổi so với khóa trước đó. Đến BCT khóa 2001, tuổi trung bình giảm xuống còn 55 tuổi.

Về trình độ học vấn, có lẽ vì đội ngũ trẻ trung hơn, nên trình độ học vấn cũng cao lên. BCT khóa 2006 có đến 5 người (hay 1/3 BCT) có bằng tiến sĩ. Những vị này là Nguyễn Phú Trọng, Phạm Gia Khiêm, Hồ Đức Việt, Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Quang Nghị và Tô Huy Rứa. Phần còn lại đều có bằng cử nhân.

BCT khóa 2001 chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ: đó là ông Nguyễn Phú Trọng. BCT khóa trước đó (khóa 1996) thì không có ai có bằng tiến sĩ. Thật ra, trong BCT khóa 1996, có 9 người có bằng cử nhân, học vị cao nhất lúc đó. Số còn lại (10 người) không có bằng đại học.

Nói tóm lại, những số liệu trên đây cho thấy Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay có nhiều ủy viên gốc miền Nam hơn, trẻ trung hơn, và có học vấn cao hơn các khóa trước. Con số 1/3 ủy viên BCT có trình độ tiến sĩ là khá cao (có lẽ cao nhất) so với các cơ quan quyền lực cao nhất ở các nước tiên tiến.

Sẽ rất thú vị nếu có số liệu của các đại biểu Quốc hội và ủy viên trung ương Đảng để phân tích thêm, nhưng những số liệu này rất khó tìm. Nếu bạn đọc nào có, tôi sẵn sàng tình nguyện làm phân tích dùm.

NVT

Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010

Không cần lượng, chỉ cần chất

Hôm cuối tuần, một phóng viên báo SGGP liên lạc tôi và có nhã ý đăng lại những bình luận của tôi về câu chuyện bảo vệ tiến sĩ qua ba bài trên tờ báo:

Luận án - nghiên cứu hay… nâng cấp?

Hội đồng du di!

Tiến sĩ quan và mục tiêu… thiếu khả thi

Tôi biên tập lại bài đó và gửi cho họ. Nhưng có lẽ vì câu chuyện hơi nhạy cảm hay khó khăn gì đó mà SGGP chưa/không đăng. Vậy tôi đăng trên blog cá nhân để các bạn có thể tham thảo. Tôi lấy tựa đề của SGGP vì thấy nó hay hay và thích hợp.


===

Câu chuyện về những khuất tất đằng sau buổi bảo về luận án tiến sĩ như phản ảnh qua 3 bài báo trên Sài Gòn Giải Phóng vào tuần qua có lẽ chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm trong kĩ nghệ đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam. Theo tôi thấy, điểm mấu chốt trong câu chuyện mà bài báo tường thuật là vấn đề đầu vào và qui trình đào tạo.

Đầu vào

Đầu vào, hay cụ thể hơn là tiêu chuẩn nhận nghiên cứu sinh, ở trong nước, nếu nhìn vào thủ tục và văn bản chính thức, ai cũng thấy khá chặt chẽ. Nào là phải thi vào, kể cả thi tiếng Anh; phải có đề cương nghiên cứu, và đề cương phải được duyệt qua. Nhưng trong thực tế thì nó mang nặng tính hình thức và “hành là chính” chứ chẳng mang tính khoa bảng gì cả. Còn qui trình đào tạo thì nếu đọc hết dự thảo “Qui chế đào tạo trình độ tiến sĩ” của Bộ GDĐT thì mới thấy có nhiều điều bất cập. Qui chế này có đến 50 điều chia thành 7 chương, qui định về những chuyện nhỏ nhất (như số trang của một luận án) đến chuyện quan trọng nhất (như tổ chức đào tạo), nhưng nội dung khoa học thì không nhiều. Điều đáng tiếc là có nhiều qui định chưa đi sát với trào lưu và chuẩn mực đào tạo tiến sĩ ở các nước tiên tiến. Liên quan đến phần “đầu vào” là vấn đề đánh giá đề cương xứng đáng cho một luận án tiến sĩ vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Trong thực tế, đại đa số đề cương nghiên cứu cấp tiến sĩ (tôi chỉ nói trong ngành y) ở Việt Nam chỉ là những công trình mang tính mô tả, hay kiểm kê lâm sàng (clinical audit), chứ chẳng có gì mang tính nguyên thủy (original) hay chuyên sâu nhằm cung cấp câu trả lời cho một vấn đề khoa học.

Qua những phản ảnh của loạt bài báo, tôi đoán rằng ý tưởng nghiên cứu của luận án có vấn đề. Tức là có vấn đề đã tồn tại ngay từ đầu vào. Rất khó biện minh một công trình mang tính lặp lại ý tưởng của người khác (thuộc loại nghiên cứu “me too”) mà được chấp nhận cho nghiên cứu cấp tiến sĩ. Nhưng đây không phải là vấn đề của nghiên cứu sinh, mà có lẽ là vấn đề của người hay nhóm người hướng dẫn luận án.

Qui trình

Theo ý kiến cá nhân, tôi thấy qui trình đào tạo tiến sĩ tại nhiều trung tâm và đại học ở trong nước chưa được hoàn chỉnh mấy. Nhiều nghiên cứu sinh tự “bơi”, và người hướng dẫn hầu như chẳng có giúp đỡ nào đáng kể và đó là một sự vô trách nhiệm. Nghiên cứu sinh cũng chưa làm quen với văn hóa khoa học, không được khuyến khích công bố kết quả trên các tập san khoa học quốc tế, không có điều kiệm tham dự các hội nghị chuyên ngành cấp quốc tế. Hệ quả là khi nghiên cứu sinh tốt nghiệp đáng lẽ họ trở thành một nhà nghiên cứu độc lập thì họ vẫn còn là một … nghiên cứu sinh.

Luận án tiến sĩ ở trong nước thường được cấu trúc rất hời hợt và thiếu tính logic. Nhiều luận án mà chỉ có một nghiên cứu duy nhất, nhưng tác giả cố tình trình bày bằng vài chục biểu đồ và bảng số liệu để … cho đủ số trang! Tôi đã thấy luận án với 20 bảng số liệu và 20 biểu đồ, mà theo tôi là có thể tóm lược bằng 2 bảng và 20 biểu đồ là hoàn toàn thừa (vì lặp lại bảng số liệu). Một lần khác tôi xem một luận án tiến sĩ mà trong đó, tác giả lặp lại những gì trong sách giáo khoa toán thống kê gần phân nữa luận án, và những kết quả thì phải nói là … không kết quả! Họ làm như vậy để đủ số trang, chứ chẳng quan tâm đến nội dung khoa học. Tôi có đề cập đến vấn đề này thì người ta nói kiểu làm ở VN như thế, làm khác đi là rất nguy hiểm vì thầy cô có thể đánh rớt!

Câu chuyện còn đề cập đến một vấn đề lớn mà hình như ai cũng biết nhưng chẳng ai nói ra: đó là thành viên trong hội đồng phản biện. Điều thú vị là cho dù nghiên cứu sinh không trả lời được phản biện, nhưng 5/7 thành viên trong hội đồng bỏ phiếu thông qua! Tại sao? Có thể những câu hỏi của những người phản biện không quan trọng hay lạc đề (rất thường xảy ra) nên hội đồng bỏ qua những câu hỏi và câu trả lời đó. Hay vì nghiên cứu sinh không nắm vững vấn đề? Nhưng dù sao đi nữa thì quyết định này cũng bất bình thường, bởi vì nghiên cứu sinh đáng lẽ phải trả lời tất cả những câu hỏi, dù quan trọng hay không quan trọng, của các chuyên gia phản biện. Ở nước ngoài, nghiên cứu sinh có nhiệm vụ trả lời tất cả câu hỏi (không được trốn tránh), nhưng họ cũng có quyền phản bác quan điểm của các chuyên gia phản biện nếu hội đồng hỏi … tào lao. Nói gì thì nói, “sự cố” này nói lên vấn đề bất cập trong đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam.

Những vị nể, cảm tình, đường dây móc nối như phản ảnh trong câu này: "Ngay ở hội đồng đánh giá luận án cấp bộ môn, mối quan hệ giữa người hướng dẫn và thành viên hội đồng đã có truyền thống 'có đi có lại' theo kiểu 'tôi du di cho luận án do anh hướng dẫn, sau này anh du di lại cho NCS của tôi'. Sau khi 'qua' cấp bộ môn, luận án coi như đã chắc ăn bởi uy tín của người hướng dẫn cũng đủ cho NCS… an tâm!" Ngoài ra, ở Việt Nam vẫn còn tồn tại tình trạng nhiều người chưa bao giờ làm nghiên cứu khoa học độc lập, chưa bao giờ có công bố quốc tế, nhưng lại ngồi trong các hội đồng chấm luận án tiến sĩ! Tôi cho đó là một bất cập cần phải chấn chỉnh càng sớm càng tốt.

Vài đề nghị

Đã từ lâu, tôi đề nghị 3 điều liên quan đến việc đào tạo tiến sĩ ở trong nước:

Thứ nhất là (hơi cực đoan một chút) nên ngưng các chương trình đào tạo tiến sĩ, rà soát lại tiêu chuẩn nghiên cứu khoa học. Hiện nay, nước ta có quá nhiều trung tâm (kể cả đại học) đào tạo tiến sĩ, nhưng rất nhiều những trung tâm này không có cơ sở vật chất đầy đủ để đảm bảo những nghiên cứu có chất lượng cao. Ngoài ra, nhiều giáo sư hướng dẫn nghiên cứu cấp tiến sĩ nhưng bản thân họ chưa bao giờ làm nghiên cứu khoa học độc lập, chưa bao giờ có những công trình được công bố trên các tập san quốc tế, chưa nắm vững những đề tài “nóng” trong chuyên ngành trên thế giới, và có nhiều người thậm chí chưa thạo phương pháp nghiên cứu khoa học. Những giáo sư như thế không nên tham gia vào chương trình đào tạo tiến sĩ.

Thật là buồn cười khi có những giáo sư như mô tả trong bài trên SGGP sau đây mà ngồi vào hội đồng chấm luận án: "một vị phó giáo sư nọ (thuộc ngành cơ khí nông nghiệp) không biết lấy đạo hàm của ln(x/R) với R là hằng, x là biến, không biết đầy đủ phương pháp quy hoạch thực nghiệm và nhiều cái sai trong khoa học khác. Vì vậy mà NCS làm đúng nhưng 'bài văn' phản biện của vị hội đồng ấy lại cho là sai."

Thứ hai là ra một qui định mới về đào tạo tiến sĩ. Việc tuyển sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể và minh bạch. Cần soạn thảo hẳn một bảng tiêu chuẩn cho học vị tiến sĩ cho từng ngành. Một trong những tiêu chuẩn quan trọng là nghiên cứu sinh phải có công bố quốc tế trước khi viết luận án. Ở các nước trong vùng và trên thế giới, người ta qui định một nghiên cứu sinh (trong ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, y sinh học, v.v…) phải có ít nhất là 2 bài báo khoa học được công bố trên tập san quốc tế mới được bảo vệ luận án tiến sĩ. Để hội nhập, chúng ta cũng cần nghiên cứu qui định này ở Việt Nam.

Thứ ba là bỏ buổi lễ bảo vệ luận án. Buổi bảo vệ luận án hiện nay ở nước ta là một hình thức rất … không giống ai, làm tốn kém tiền bạc cho nghiên cứu sinh và có khi gây tiêu cực. Thật là vô lí khi một công trình nghiên cứu 3-4 năm mà chỉ được hỏi qua loa vài ba câu có khi chẳng dính dáng gì đến nội dung luận án! Ở nước ngoài, buổi bảo vệ luận án rất nhẹ nhàng (có khi rất vui vẻ), chỉ là hình thức “trình làng” tân tiến sĩ, vì luận án đã được duyệt và thông qua trước đó. Ở một số nước (như Anh và Úc) người ta không có buổi bảo vệ luận án, nhưng thay vào đó là những kiểm tra định kì (mỗi 6 tháng trong suốt quá trình theo học) bằng những seminar, và tổ chức phản biện kín với 3 người bình duyệt, trong đó có ít nhất là 1 giáo sư từ nước ngoài. Không có lí do gì Việt Nam ta không làm được như thế.

Xin nói ngay rằng tuy buổi bảo vệ luận án có vài bất thường, nhưng nếu nhìn tổng thể về tỉ lệ tốt nghiệp tiến sĩ thì kết quả cũng nằm trong xác suất dự đoán. Ở Úc và Anh, trong số 100 nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ, chỉ có 50-60 người tốt nghiệp, phần còn lại chưa đạt yêu cầu và không được cấp bằng tiến sĩ. Không ai biết tỉ lệ này ở Việt Nam là bao nhiêu, nhưng ấn tượng mà tôi có được là cao hơn so với xu hướng quốc tế.

Để đảm bảo chất lượng đào tạo và không làm hao tốn tiền của của nghiên cứu sinh, tôi nghĩ cần phải quan tâm đến tiêu chuẩn cho đầu vào, và cải cách qui trình đào tạo tiến sĩ. Như người phương Tây thường nói “nếu đầu vào là rác, thì đầu ra cũng là rác” (garbage in, garbage out), nếu chúng ta đảm bảo khâu đầu vào thật chuẩn mực và thật tốt, cùng với qui trình đào tạo nghiêm chỉnh, thì đầu ra chắc chắn phải tốt. Đối với đào tạo tiến sĩ, chúng ta không cần lượng mà cần phẩm chất; chúng ta không cần phải có nhiều tiến sĩ mà cần những tiến sĩ thật sự xứng đáng với học vị đó để khi ra nước ngoài nghiên cứu sinh có thể tự hào về mảnh bằng “doctor” từ Việt Nam.

NVT