Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Ngọc Lan

Lâu lắm rồi, hôm nay tôi mới có một vài giờ “relaxation” để … nghe nhạc. Tìm trong các tape và CD nhạc cũ tôi thấy vài CD của Ngọc Lan. Khỏi cần nói qua chắc rất nhiều bạn đọc đều biết Ngọc Lan là một ca sĩ nổi trội ở hải ngoại trong thập niên 1980 và 1990. Nhưng tôi phải thú nhận ngay rằng trong những năm Ngọc Lan còn nổi tiếng là một ca sĩ hàng đầu ở hải ngoại, tôi ít khi nào nghe cô ấy ca, vì dạo đó tôi vẫn chưa “bỏ” được những Lệ Thu, Thái Thanh, Họa Mi, v.v… vốn đã trở thành những tiếng hát trong đời tôi.


Ca sĩ Ngọc Lan (1956-2001)

Nhưng hôm nay, nghe lại Ngọc Lan ca, tôi nay có thể đưa tên cô ấy vào danh sách những ca sĩ tôi ái mộ. Tôi nghe Ngọc Lan ca những bài nổi tiếng của thập niên 1980s như Nắng quê hương (một ca khúc mà chắc ít người còn nhớ và còn nghe), Khóc một dòng sông, Một lần đi, Mùa đông sắp đến trong thành phố, Khúc thụy du, Em còn nhớ hay em đã quên, và tất nhiên là không bỏ qua những sáng tác của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An.

Nếu phải chọn ra vài tính từ để mô tả tiếng hát của Ngọc Lan, tôi sẽ chọn: ngọt ngào, trữ tình, và tha thiết. Nghe Ngọc Lan ca cứ như là nghe người con gái thủ thỉ bên tai mình. Thoạt đầu, giọng thủ thỉ mang tính trữ tình đó không có gì ấn tượng mấy, nhưng nghe qua vài bài sẽ có cảm giác càng lúc càng bị lôi cuốn theo những lời ca tiếng hát đó, rất khó dứt bỏ được, vì nó quá tha thiết. Thử nghe Ngọc Lan ca bài Đêm cuối cùng (Phạm Đình Chương) thì sẽ thấy!

Ngọc Lan ca một cách tự nhiên, không kiểu cách, không làm dáng (như rất nhiều ca sĩ trẻ ngày nay), nhưng cô có cách luyến láy điêu luyện và mượt mà. Nghe Ngọc Lan ca cứ như là nghe cô nói. Có lẽ vì ca như nói, nên Ngọc Lan có thể diễn tả ca khúc theo cảm xúc thật của mình (chứ không màu mè). Do đó, giọng hát Ngọc Lan rất thích hợp cho những bài tình ca hơn là những bài “nhạc trẻ”.

Nhưng rất tiếc là Ngọc Lan bạc mệnh. Theo tiểu sử trên trang wikipedia thì tên thật của cô là Lê Thanh Lan, sinh ngày 28/12/1956 tại Nha Trang. Ở Việt Nam, Ngọc Lan đã từng học nhạc và biểu diễn tại Nha Trang. Khi đến Mĩ vào năm 1980, và qua giới thiệu của Duy Quang, Ngọc Lan trở nên nổi tiếng với những ca khúc tôi kể trên. Sau một thời gian dài mắc bệnh đa thần kinh hóa sợi, cô qua đời vào ngày 6/3/2001, tức chưa đầy 45 tuổi. Thật ra, hồi đó (thập niến 1980s, 1990s), khi xem Ngọc Lan trình diễn trong các video ca nhạc, tôi cũng có cảm giác sức khỏe của cô không mấy tốt, dù không tìm hiểu thêm cô mắc bệnh gì.

Hôm nay, nhân ngày “holiday” (ở Sydney, có ngày sinh nhật nữ hoàng Anh nên công chúng được nghỉ một ngày), và nghe lại những ca khúc của Ngọc Lan, tôi chỉ muốn ghi lại vài hàng cảm nhận cá nhân, trước hết là tỏ lòng ái mộ của mình đến một người ca sĩ vắn số, và sau là cám ơn Ngọc Lan đã cho tôi những giây phút êm đềm qua những ca khúc thưở (chưa quá) xa xưa.

NVT

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2009

Dương Văn Minh

Đã có nhiều người viết về một nhân vật lịch sử rất thú vị này, nhưng tôi thấy bài sau đây là khách quan và có giá trị sử nhất. Một số báo ở trong nước vẫn gọi ông Minh là "ngụy", có khi với những danh từ khiếm nhã như "viên tướng", nhưng đã từ lâu, những người đàng hoàng nhìn ông công bằng hơn nhiều. Ông hiện lên trong bài sau đây là một người vì dân tộc và yêu nước. Nếu không vì dân tộc, và trong cương vị của ông, ông có thể ra lệnh tử thủ trong ngày 30/4/1975 và hệ quả của lệnh này chắc chắn là rất nhiều người sẽ bỏ mạng và Sài Gòn lúc đó chắc sẽ tan hoang. Tôi nghĩ chỉ nghĩa cử đó cũng đủ cho ông có một vị trí xứng đáng trong lịch sử.

Tại sao ông Minh lại làm như thế? Bài này giải thích vì do vận động và thuyết phục của Cách mạng, nhưng tôi lại nghĩ vì ông ấy là người có văn hóa. Văn hóa ông ấy là văn hóa Phật giáo, nên ông ấy có lòng bao dung và rộng lượng. Văn hóa ông ấy là tính trự trọng, vì dân tộc, không chịu để mình bị ảnh hưởng bởi các thế lực nước ngoài.

Năm qua, chúng ta thấy công trạng của triều Nguyễn được đánh giá khách quan và tích cực hơn. Một ngày nào đó, những nhân vật như Dương Văn Minh chắc cũng (và nên) được đánh giá lại cho khách quan hơn.

NVT

===

http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Ho-so-ve-tuong-Duong-Van-Minh.aspx

Hồ sơ về tướng Dương Văn Minh

Phạm Văn Hùng

L.T.S: Hồn Việt số 11 (tháng 5/2008) đã đăng một số ý kiến về Tướng Dương Văn Minh. Đó là một số ý kiến bước đầu quan trọng, giúp ta tìm hiểu sâu hơn một sự kiện lịch sử, một con người. Kỳ này, Hồn Việt xin công bố bản tóm tắt của một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu mới với độ tin cậy cao của ông Phạm Văn Hùng. Hi vọng rằng, với công trình nghiên cứu này, sự kiện về Tướng Dương Văn Minh sẽ được sáng tỏ thêm. Nó chứng minh thêm tầm vóc của ngày 30/4 lịch sử dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kiên trì… của Bộ Chỉ huy tối cao đứng đầu là Lê Duẩn và của những người trực tiếp tham gia ở chiến trường miền Nam, của Trung Ương Cục miền Nam. Nó cũng chứng tỏ sự phối hợp tuyệt đẹp giữa quân sự - chính trị - địch vận… trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nó nói lên sự phong phú vô tận của cuộc sống, của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc của lòng yêu nước Việt Nam…

Chúng tôi mong nhận được thêm nhiều ý kiến.

THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH

- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).

Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.

Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.

Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…

- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.

Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…

1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.

Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.

Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

Ngày 01/01/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.

- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.

Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.

Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…

Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”

Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.

2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).

Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).

Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.

4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.

Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.

Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.

- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.

5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn

Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.

MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.

Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.

* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.

TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG

15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.

Ngày 29/4/1975

Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.

Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).

Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”.

Ngày 30/4/1975

- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

- 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.

11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

KẾT LUẬN

1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.

2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30/10/2004

____________

(1) Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – xã hội – thương binh Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.

(2) Phát biểu của ông Dương Văn Minh trong cuộc Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản TP. Hồ Chí Minh tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà”.

(3) Bộ đội Nam bộ tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 330. Sau đó chuyển ra nông trường quân đội.

(4) Sách “Gởi người đang sống” (tr 334-335) của Thượng tướng Trần Văn Trà.

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước

Bộ GDĐT vừa công bố trang web của “Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước” (gọi tắt là HĐCGGSNN) rất trang trọng.

http://www.hdcdgsnn.gov.vn

Trang web này giới thiệu 26 hội đồng liên ngành với nhiệm vụ xét phong chức danh giáo sư và phó giáo sư. Tuy cách bố trí và tổ chức trang web mang tính “lười biếng” của người thiết kế, nhưng trang web cũng cung cấp nhiều thông tin có ích. Có điều đáng chú ý là họ công bố tất cả các chi tiết cá nhân của từng giáo sư là một tiến bộ, nhưng việc công bố cả địa chỉ tư gia, theo tôi là một việc làm bất bình thường và có thể không cần thiết vì nó xâm phạm đến sự riêng tư của người ta.

Trong ngành y, có 15 người trong hội đồng, đứng đầu là GS Phạm Gia Khánh, và các thành viên bao gồm các giáo sư Đặng Vạn Phước, Lê Bách Quang, Vũ Minh Thục, Trương Việt Dũng, Nguyễn Lân Việt, Lê Quang Nghĩa, Hoàng Trọng Kim, Hà Văn Quyết, Hoàng Tử Hùng, Trần Văn Sáng, Nguyễn Bá Đức, Lê Năm, Phùng Đắc Cam, và Tôn Kim Thanh.

Tôi thử làm một “phân tích cắt ngang” thì thấy trong số 15 vị, phần lớn là đến từ Hà Nội, chỉ có 3 người từ phía Nam (cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh). Không có thành viên nào đến từ tỉnh lẻ và thành phố Đà Nẵng, hay Huế, hay Cần Thơ.

Đại đa số những người trong hội đồng là đảng viên ĐCSVN. Chỉ có một người duy nhất là không đảng viên: GS Hoàng Trọng Kim ở Đại học Y dược TPHCM.

Tuổi trung bình của các thành viên trong hội đồng ngành y là 60 (trẻ nhất là 55, và cao nhất là 66 tuổi).

Hội đồng chỉ có 1 thành viên nữ: Gs Tôn Kim Thanh.

Thành tựu khoa học của họ thì không mấy rõ ràng, vì trang web chỉ liệt kê những con số thống kê về số bài báo công bố, số sách họ là tác giả, số tiến sĩ và thạc sĩ họ đã hướng dẫn.

Tuy nhiên, một vài thông tin thú vị cũng có thể rút ra từ những con số này. Chẳng hạn như tính trung bình số bài báo họ công bố là 61 bài, dao động từ 29 (GS Đặng Vạn Phước) đến 144 (GS Nguyễn Bá Đức). Nhưng trang web không cho biết bao nhiêu là bài báo đăng trong các tập san trong nước và bao nhiêu đăng ở nước ngoài có hệ thống bình duyệt (peer reviewed journals). Họ cũng không phân biệt bài báo khoa học là bài báo thật sự hay là những abstracts trong các hội nghị. Thật ra, trường hợp GS Nguyễn Bá Đức, PubMed liệt kê 12 bài; trong đó 2 bài ông tác giả đầu và phần còn lại đều đứng tên chung với các tác giả khác và phần lớn là người nước ngoài.

Tình trung bình, số sách họ xuất bản là 5 cuốn. Người có sách in nhiều nhất là GS Nguyễn Bá Đức (20 cuốn). Tính trung bình từ ngày tốt nghiệp đại học, cứ mỗi năm, vị giáo sư này xuất bản 1 cuốn sách. Người có sách in ít nhất là GS Lê Quang Nghĩa (2 cuốn).

Về đào tạo, họ hướng dẫn thành công trung bình 6 tiến sĩ và 17 thạc sĩ. Có người hướng dẫn đến 14 tiến sĩ (như GS Phạm Gia Khánh và Nguyễn Bá Đức). Riêng GS Nguyễn Bá Đức hướng dẫn đến 44 thạc sĩ. Nói chung, vị giáo sư này nổi trội nhất so với các đồng nghiệp khác trong hội đồng.

Nói chung, tính minh bạch của việc tiến phong chức danh GS/PGS ở nước ta đã có một bước tiến đáng kể. Nhưng về thủ tục và qui trình thì vẫn còn có nhiều vấn đề cần xem xét lại và cải tiến. Tôi đã có vài bài bàn về vấn đề này, nên không nhắc lại ở đây nữa. Nhìn qua các vị trong hội đồng chức danh (chỉ giới hạn trong ngành y) chúng ta dễ dàng thấy vài vấn đề nổi cộm.

Thứ nhất là các thành viên phần lớn đều xuất phát từ phía Bắc, và không có ai đến các tỉnh lẻ hay thành phố khác. Điều này dễ gây ấn tượng mà nhiều người vẫn âm thầm nghĩ rằng Việt Nam vẫn là 2 nước trong một nước, và nhất là làm bằng chứng củng cố cho suy nghĩ về kẻ thắng người thua trận. Rất nhiều người tôi biết ở phía Nam chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện xin để bạt chức danh GS/PGS vì họ nghĩ chỉ tốn thì giờ và không tin vào tính impartiality của hội đồng mà trong đó có sự bất cân đối về thành phần.

Thứ hai là hội đồng toàn là đảng viên ĐCSVN làm cho người ta dễ dàng nghĩ rằng yếu tố chính trị có ảnh hưởng việc xét phong chức danh GS/PGS. Trong thực tế, có thể không có vấn đề này, nhưng vì có quá nhiều đảng viên nên khó mà không nghĩ đến yếu tố đảng.

Thứ ba là tư cách khoa học của của các thành viên trong hội đồng. Thông thường, ở nước ngoài, những người ngồi trong hội đồng phải là những người có thành tích khoa học khá “dày” thể hiện qua những công bố quốc tế, vì như thế thì họ mới có đủ tư cách để xét đơn người khác. Nhưng ở đây, như trình bày trên, có thể nói phần lớn các vị trong hội đồng có thành tích công bố quốc tế khá “mỏng”. Thật ra, ở Việt Nam có nhiều người trong ngành y có thành tích công bố quốc tế rất tốt, nhưng tôi không thấy tên họ trong thành viên. Có thể xem đây là một thiệt thòi cho khoa học Việt Nam.

NVT

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2009

Trung Quốc lộng hành!

Đọc bài dưới đây làm máu trong người tăng nhiệt độ. Trung Quốc càng ngày càng khiêu khích và lấn ép Việt Nam. Trước đây, họ cho báo chí đăng bài bày mưu tính kế tiến chiếm Việt Nam. Mới tuần này, họ đăng bài phân tích hải quân Việt Nam là rất yếu, và nói gần nói xa việc Việt Nam mua tàu chiến của Nga. Nhưng ngoài những “chiến tranh bằng mồm” đó, họ còn đi xa hơn là ra lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngoài Biển Đông, vùng mà Việt Nam tuyên bố có chủ quyền. Nói trắng ra, họ cấm mình đánh cá trên biển thuộc chủ quyền của mình, hay ít ra là vùng còn tranh chấp! Chẳng những thế, chúng còn cho tàu chiến đụng tàu đánh cá Việt Nam, thậm chí bắn giết ngư dân Việt Nam. Chẳng biết có nước nào trên thế giới hành xử ngược ngạo và lưu manh như Trung Quốc.

Trước những hành động côn đồ và giết người như thế, lãnh đạo Việt Nam làm gì và nói gì? Ngày 26/5/2009, tiếp ngoại trưởng Dương Khiết Trì, "Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh bày tỏ vui mừng nhận thấy, thời gian qua, quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc không ngừng được củng cố và phát triển. Các chuyến thăm lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, các Bộ, ngành, địa phương, các đoàn thể và tổ chức nhân dân hai bên có ý nghĩa rất quan trọng, là những bước tiếp tục cụ thể hoá, phát triển quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện'' Việt Nam - Trung Quốc" (tin VOV). Chúng ngang ngược ép mình mà nói là “củng cố và phát triển” thì thật là hết ý!

Báo chí Việt Nam thậm chí không dám nêu tên bọn lưu mnh Trung Quốc đã ngang ngược đâm vào tàu đánh cá Việt Nam, mà chỉ nói “tàu lạ”. Tại sao không nói thẳng là tàu Trung Quốc? Chẳng lẽ mình hèn đến nổi không dám nêu tên những kẻ lưu manh sát nhân, mà chúng thì lại nêu đích danh Việt Nam? Chưa thấy trong lịch sử Việt Nam, có thời nào mà Việt Nam khiếp nhược như thế.

NVT

http://www.sgtt.com.vn/Detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=52467&fld=HTMG/2009/0604/52467

Ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội
“Ngăn cản ngư dân Việt Nam đánh bắt trên biển Việt Nam là xâm phạm chủ quyền…”

SGTT - Việc Trung Quốc tuyên bố phong toả ngư trường, thậm chí có hành động ngăn chặn tàu thuyền Việt Nam đánh bắt trên biển Đông, trong đó có những vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của Việt Nam đang gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho không ít ngư dân miền Trung. Báo Sài Gòn Tiếp Thị đã có cuộc phỏng vấn ông Lê Quang Bình, chủ nhiệm uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội về vấn đề này

Thưa ông, hiện nay đã có cơ quan nào của Chính phủ báo cáo với uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội về việc Trung Quốc phong toả ngư trường, trong đó có lãnh hải của Việt Nam?

Hiện nay, theo cơ chế, hàng ngày bộ Quốc phòng, lực lượng biên phòng đều có báo cáo với các cơ quan hữu quan trong đó có uỷ ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội. Tôi được biết hiện nay các cơ quan nhất là bộ Ngoại giao cũng đã có kế hoạch xử lý vấn đề này, bàn bạc để đảm bảo trật tự trên biển trong đó có vấn đề bảo vệ ngư trường của Việt Nam và việc nước ngoài có hành động ngăn cản người dân Việt Nam ra đánh bắt cá trên biển.

Bây giờ đang là vụ cá, nhưng ngư dân lại ngại ra khơi, theo ông các cơ quan chức năng của chúng ta phải làm gì để bảo vệ ngư dân Việt Nam khi đánh cá trên vùng biển của mình?

Sau Công ước của Liên hiệp quốc về luật Biển năm 1982 được công bố, Việt Nam đã tuyên bố đường cơ sở, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế cũng như vùng thềm lục địa. Trên cơ sở đó, toàn bộ vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thì mọi công dân Việt Nam đều có quyền ra biển để khai thác tài nguyên, đánh bắt hải sản…

Trước hết, các lực lượng bảo vệ chủ quyền trên biển có trách nhiệm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên biển Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, theo tôi, những người dân đi đánh bắt cá trên biển phải biết được mình hoạt động trên vùng biển nào. Nếu đúng trên vùng biển của Việt Nam thì việc lực lượng nào đó của nước ngoài lại can thiệp, ngăn chặn ngư dân Việt Nam đánh bắt hải sản thì đó là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Trách nhiệm bảo vệ chủ quyền trên biển Việt Nam hiện nay chủ yếu đang giao cho cảnh sát biển, bộ đội biên phòng, nên theo tôi, các lực lượng này phải có giải pháp bảo vệ người dân đánh bắt cá trên vùng biển của mình. Trong trường hợp cần thiết, bộ Ngoại giao Việt Nam cần có sự trao đổi với phía bạn trên tinh thần thẳng thắn, hữu nghị, theo tinh thần thoả thuận giữa hai nước. Làm thế nào để người dân đảm bảo quyền đánh bắt cá trên lãnh hải của mình.

Nếu tình trạng này vẫn cứ tiếp tục, ngư dân lo ngại không dám ra khai thác ở vùng lãnh hải của Việt Nam, thì về lâu dài nó cũng ảnh hưởng đến chủ quyền của ta?

Đây thực sự là vấn đề phải xử lý rất lâu dài. Cơ sở pháp lý hiện nay vẫn chủ yếu phải dựa vào Công ước về luật Biển năm 1982 của Liên hiệp quốc và trên cơ sở Việt Nam đã tuyên bố phạm vi chủ quyền lãnh hải. Hiện nay, trong tuyên bố về chủ quyền trên biển Đông giữa Việt Nam và một số nước trong đó có Trung Quốc thì chưa thống nhất, nhất là quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa. Tôi nghĩ là các nước có liên quan đến biển Đông lúc này cần phải thực hiện tốt quy tắc chung về ứng xử trên biển Đông mà các bên đã có cam kết. Tinh thần là gác lại một bên các tranh chấp và cùng nhau khai thác. Nếu có việc gì đó xảy ra thì cùng nhau ngồi lại đàm phán, đảm bảo hoà bình và trật tự, chia sẻ lợi ích với nhau trên biển. Chấp nhận những cái hiện có hiện nay, tức là giữ nguyên hiện trạng, không làm tình hình biển Đông phức tạp thêm.

Nếu ta đã có những giải pháp ngoại giao tích cực mà phía nước ngoài tiếp tục có những hành động ngăn chặn tàu thuyền của ngư dân Việt nam, vi phạm quá đáng hơn nữa về chủ quyền lãnh hải của ta thì trong trường hợp nào, theo ông, ta cần có thái độ kiên quyết hơn để bảo vệ ngư dân?

Hiện nay, trách nhiệm chủ yếu giao cho cảnh sát biển và bộ đội biên phòng. Hải quân cũng có trách nhiệm phối hợp nhưng chủ yếu bảo vệ ở vùng biển xa. Nhưng trong những trường hợp cụ thể là phải hết sức cố gắng để tránh các đụng độ để đảm bảo an toàn, trật tự chung trên biển.

Các lực lượng trên tốt nhất là khi có vấn đề gì thì chủ yếu dùng biện pháp cảnh báo cho đối phương đó là vùng biển của Việt Nam, yêu cầu không đi vào vùng biển Việt Nam hoặc dùng biện pháp xua đuổi. Còn biện pháp nào có thể làm căng thẳng hơn thì hết sức nên tránh. Còn những trường hợp xâm phạm quá trắng trợn, thậm chí là họ dùng vũ lực trong vùng biển đặc quyền, vùng nội thuỷ của mình tôi nghĩ cũng cần có biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ người dân của chúng ta đánh bắt trên biển.

Mạnh Quân (thực hiện)

Thực hiện nghiêm lệnh cấm biển của Trung Quốc

Báo SGTT số ra ngày 1.6, có bài Ngư trường phong tỏa, tàu cá nằm bờ phản ánh những khó khăn mới phát sinh do bị hạn chế ngư trường vùng biển Đông, khiến nhiều ngư dân không ra khơi... Thứ trưởng bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNN) Vũ Văn Tám đã vào miền Trung để thị sát, kiểm tra tình hình... Ngày 3.6, sở NN&PTNN thành phố Đà Nẵng tổ chức họp báo, thông báo lại kết quả kiểm tra thực tế của bộ này.

Tại cuộc họp báo, ông Trần Văn Hào, giám đốc Sở NN&PTNN TP Đà Nẵng nói: “Việc va chạm giữa tàu cá Trung Quốc và Việt Nam trên biển là có thật. Vì vậy, cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, bộ NN&PTNN, Bộ đội biên phòng đã có công văn hướng dẫn các địa phương thông báo lệnh cấm đánh cá có thời hạn của Trung Quốc, vị trí, vùng biển bị cấm, khuyến cáo ngư dân nên tránh xung đột, dẫn đến những thiệt hại đáng tiếc”.

Ông Hào cho biết, hiện chỉ có 247 tàu cá của Đà Nẵng nằm bờ. Có nhiều lý do để tàu cá không ra khơi chứ không chỉ vì lệnh cấm biển của Trung Quốc. Việc nằm bờ của hàng trăm tàu cá như vậy là không có gì bất thường.

Tấn Phong

Công văn thông báo lệnh cấm biển của Trung Quốc

Ông Chu Tiến Vĩnh – cục trưởng cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã có công văn 358 gửi đến sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố ven biển yêu cầu thông báo cho ngư dân biết lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc ở vùng biển Đông. Cụ thể vị trí mà Trung Quốc cấm là “từ 12 độ vĩ bắc đến đường giới hạn vùng biển giao nhau giữa Quảng Đông – Phúc Kiến và vùng biển phía đông đường phân định trong vịnh Bắc bộ”, thời gian cấm “từ 12h ngày 16.5 đến 12h ngày 1.8” (trích công văn).

Theo một số cán bộ quản lý thuỷ sản cấp huyện ở miền Trung, vùng Trung Quốc cấm nói trên là vùng đánh bắt chung hay còn gọi là vùng dàn xếp quá độ. Lâu nay, ngư dân Việt Nam có thể hoạt động nếu xin phép cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam và nộp lệ phí cho phía Trung Quốc. Tuy nhiên với lệnh cấm này, khu vực này thành “vùng trắng”, có phép hay không phép đều bị cấm.

Đoàn Nguyễn

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2009

Cường quốc toán học?

Hôm nay đọc thấy một bài thú vị nói về ước muốn đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành một cường quốc toán học. Tại sao muốn thành cường quốc về toán học, mà không là kĩ thuật hay công nghệ thông tin, hay công nghệ sinh học? Ông Nguyễn Thiện Nhân giải thích như sau: “Dân số nước ta hiện đứng thứ 13 trên thế giới, thì phải phấn đấu đưa nền kinh tế nước ta trong vài ba chục năm tới cũng vào hàng 17-20 trên thế giới. Toán học nước ta có truyền thống nên phải đi trước một bước là tất nhiên!” Ông phó thủ tướng hùng hồn nói tiếp: “Đất nước này không thiếu tiền để làm toán học nhưng các nhà toán học phải quyết tâm xây dựng ngành toán trở thành trụ cột trong tinh thần người Việt Nam. Các nhà toán học phải xây dựng chương trình phát triển toán quốc gia để trở thành cường quốc thế giới về toán học”.

Tất nhiên? Tại sao phải là toán học phải đi trước một bước là tất nhiên nhi? Câu nói của ông phó thủ tướng hàm ý toán học Việt Nam là ngành số 1 của nước ta. Nhưng trong thực tế thì không phải như vậy. Hãy lấy số bài báo khoa học trên các tập san quốc tế ra làm minh chứng: trong thời gian 1996 – 2005, Việt Nam công bố được 3456 bài báo khoa học; trong số này, những bài liên quan đến toán là 452 bài (chiếm 13% tổng số), tương đương với vật lí (450 bài), kĩ thuật (406 bài), thậm chí hóa học (385 bài). Một phần ba những bài báo khoa học từ Việt Nam liên quan đến y sinh học. Do đó, chính ngành y sinh học, chứ không phải toán, mới là ngành có đóng góp mạnh cho khoa học Việt Nam. Với những sự thật đó, nếu đầu tư để phát triển khoa học, chúng ta chọn ngành nào để ưu tiên? Tôi e rằng suy nghĩ về định hướng khoa học của ông phó thủ tướng có phần phiến diện.

Trong bài trên, theo tôi hiểu, tác giả lí giải rằng Việt Nam cần phát triển toán học vì các nước tiên tiến khác như Mĩ và Hàn Quốc cũng có một nền toán học tốt. Theo tác giả, trước đây nền toán học của Hàn Quốc tương đương với Việt Nam, nhưng nay thì bỏ ta quá xa. Có lẽ hàm ý hay giả định trong cách lí giải này là nhờ toán học một phần mà Hàn Quốc phát triển kinh tế như ngày nay. Nói cách khác, toán học là động lực của phát triển kinh tế. Do đó, hàm ý có lẽ là Việt Nam phát triển toán học để sẽ giúp cho phát triển kinh tế.

Thoạt đầu mới đọc qua thì cũng có lí, vì toán học là “hoàng tử” của khoa học. Nhưng tôi nghĩ nếu tác giả cung cấp vài bằng chứng cụ thể là toán học đã đóng góp gì cho phát triển kinh tế trong vòng 20 năm qua thì sẽ thuyết phục hơn. Nhưng rất tiếc, chúng ta chưa thấy những bằng chứng đó. Thật ra, chưa thấy bằng chứng gì cho thấy ở bất cứ nước nào trên thế giới có mối liên hệ nhân quả là phát triển toán học sẽ dẫn đến phát triển kinh tế.

Có thể nói rằng một mối liên hệ nghịch đảo thì đúng hơn: phát triển kinh tế và khoa học sẽ dẫn đến phát triển toán. Singapore là một minh chứng cho mối liên hệ này. Trước đây, Singapore chẳng có bao nhiêu bài báo toán học, nhưng khi kĩ nghệ máy tính, công nghệ thông tin và công nghệ sinh học phát triển thì số bài báo toán học của họ tăng rất nhanh.

Có nhiều nước phát triển kinh tế rất khá mà toán học của họ không khá gì mấy so với Việt Nam. Điển hình là Malaysia và Thái Lan. Kinh tế của họ hơn ta gấp mấy lần, nhưng toán học của họ thì không hơn ta. Như vậy không thế nói phát triển toán học sẽ dẫn đến phát triển kinh tế. Cũng khó mà lí giải rằng toán học có thể giúp đỡ cho phát triển kinh tế.

Việc so sánh nền toán học VN và Mĩ có lẽ hơi khập khiễng. Mĩ có một nền toán học rất cao, nhất là toán ứng dụng và thống kê. Còn ở Việt Nam, toán học chỉ xoay quanh các đề tài toán thuần túy (pure mathematics). Có thể xem qua trang web của Viện toán học để thấy rằng phần lớn những nghiên cứu về toán ở VN chỉ là toán thuần túy. Ở Việt Nam chưa thấy phát triển được toán ứng dụng. Bộ môn thống kê học ở Việt Nam thì hầu như không có gì. Không một đại học nào ở Việt Nam có một “Department of Statistics” hay một “Department of Applied Mathematics”. Khi cần đào tạo, người ta phải gửi sang ... Thái Lan để học!

Chính vì thế mà ở Việt Nam, toán học chưa giúp gì cho các ngành khoa học thực nghiệm. Mỗi khi các nhà nghiên cứu muốn giải quyết một vấn đề gì mang tính tính toán, họ phải nhờ đến các chuyên gia toán ứng dụng và thống kê nước ngoài. Không biết bao nhiêu bài báo khoa học của Việt Nam bị từ chối công bố chỉ vì làm phân tích thống kê không đúng chuẩn mực quốc tế và thiết kế không đúng.

So với ngoại quốc thì sao? Vài con số sau đây phác họa cho ta thấy bức tranh toán học Việt Nam:

(a) Trong thời gian 2000-2005, Việt Nam công bố được 326 bài báo khoa học về toán, với tổng số trích dẫn 797 lần. Tính trung bình, số lần trích dẫn cho mỗi bài báo là 2.4, chỉ số H là 11.

(b) Trong cùng thời gian, Singapore công bố 1474 bài, với chỉ số trích dẫn trung bình là 5,43, chỉ số H là 30.

(c) Khoảng 44% các nghiên cứu về toán từ VN không được ai trích dẫn hay tham khảo.

Các con số này cho thấy toán học Việt Nam chẳng những kém về số lượng mà còn thua về chất lượng so với Singapore. Còn nói về toán ứng dụng thì Singapore (và ngay cả Thái Lan) đã hơn Việt Nam gấp 10 lần!

Dù Việt Nam cần phát triển toán (và nhiều lĩnh vực khác), nhưng tôi vẫn nghĩ rằng Việt Nam cần nhà khoa học toán (mathematical scientists) hơn là cần nhà toán học (mathematicians). Chúng ta cần những người làm toán biết ứng dụng lí thuyết và phương pháp vào giải quyết các vấn đề thực tế, chứ chúng ta ít cần những nhà toán học tự hài lòng với vấn đề do chính họ đặt ra và tự họ giải, mà không biết ứng dụng vào cái gì. Để làm một nhà khoa học toán, người làm toán phải hiểu qui trình làm khoa học thực nghiệm, phải hiểu vấn đề, và biết cách diễn giải vấn đề một cách logic. Chỉ khi nào toán học Việt Nam tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học thì lúc đó mới có thể lí giải toán học có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học.

Tôi vẫn nghĩ có tham vọng là tốt, nhưng tôi vẫn ngại với những mục tiêu thành “cường quốc” trong khi thực lực thì chưa có gì. Có lẽ cách tốt nhất là nghe theo lời khuyên của Gs Hoàng Tụy: Nói ít, làm nhiều hơn thì hay hơn.

NVT

PS. Tôi đưa bài “Một cường quốc Toán học - Mục tiêu phát triển toán học Việt Nam” cho một anh bạn Việt kiều nay đã về Việt Nam giảng dạy, anh viết như sau: “Đọc xong bài Một cường quốc Toán học tôi thấy lòng rất ‘hân hoan’. Sáng nay tôi ra Bưu Điện để lấy một số sách chuyên môn mua từ Amazon.com để dùng trong việc giảng dạy và nghiên cứu của tôi ở Việt Nam. Tại BĐ, sau khi chờ nửa tiếng, cô nhân viên BĐ mới thủng thẳng đi ra bảo tôi phải ra Cục Văn Hóa xin giấy phép ‘nhập khẩu’ những sách chuyên môn này. Trước đây ở Việt Nam tôi không hề phải làm những thủ tục rườm rà như vậy. Tôi e rằng ở đây khi các chức sắc nói chuyện ‘trên trời’ nhiều khi chuyện ‘dưới đất’ càng phức tạp.”

NVT: Tôi không biết có nước nào trên thế giới đòi hỏi nhà khoa học phải xin giấy phép để mua sách chuyên ngành phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu. Có thể Triều Tiên là nước như thế, nhưng tôi không biết. Nhưng ở đây (Việt Nam) và vào thời điểm này (thế kỉ 21), mà Việt Nam bắt chước Triều Tiên? Không biết Việt Nam đổi mới về hành chính ở khoản nào, nhưng tôi thấy chỉ cái khoản nhỏ này cũng làm chùng bước biết bao nhiêu người muốn dấn thân về làm việc ở trong nước. Một chuyện nhỏ như thế này (chứ nói gì đến thư viện điện tử) mà còn thủ tục rườm rà thì nói gì đến chuyện phát triển khoa học để ngang tầm (chưa dám nói “cường quốc”) với các nước trong vùng!?

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2009

Lại gian lận trong nghiên cứu y khoa!

Mới đây có vài tuần, vụ Madoff trong y khoa (Gs Scott Reuben giả tạo dữ liệu) làm rúng động giới y khoa Mĩ và thế giới, tưởng là một bài học mới nhất để giữ chữ tín trong y khoa. Nhưng có ai ngờ được một vụ này lại xảy ra nữa! Sự vụ lần này cũng liên quan đến giả tạo dữ liệu trong nghiên cứu y khoa, và xảy ra ở một trung tâm quân y nổi tiếng thế giới.

Timothy R. Kuklo, 48 tuổi, là một bác sĩ chấn thương chỉnh hình và phó giáo sư y khoa thuộc Đại học Washington ở St Louis (bang Missori, Mĩ). Tốt nghiệp từ trường võ bị danh tiếng Westpoint, ông từng phục vụ trong quân y Mĩ tại Trung tâm quân y Walter Reed, một trung tâm y khoa danh tiếng của Mĩ. Tuần vừa qua, ông bị 4 đồng nghiệp tố cáo là giả tạo số liệu trong nhiều công trình nghiên cứu, và có những mối liên hệ đáng nghi ngờ với một công ti sinh học.



Timothy R. Kuklo


Trong thời gian phục vụ tại Trung tâm quân y Walter Reed bác sĩ Kuklo thường đi thuyết giảng khắp nơi về hiệu quả của một sản phẩm của ông ti Medtronic có tên là Infuse, một loại protein mà ông cho là có hiệu quả làm lành xương nhanh chóng. Trong công trình nghiên cứu được công bố trên một tập san y khoa bên Anh vào năm ngoái, Kuklo báo cáo rằng trong thời gian 3/2003 đến 3/2005 ông đã sử dụng Infuse để điều trị cho 138 bệnh nhân (quân nhân) bị thương chân do nổ mìn trong cuộc chiến Iraq, và tỉ lệ thành công là 92%.

Nhưng các đồng nghiệp của ông tại Trung tâm quân y Walter Reed cho biết tuy Infuse có hiệu quả, nhưng không phải cao đến 92% như Kuklo báo cáo. Quan trọng hơn nữa, hồ sơ bệnh án của Trung tâm Walter Reed cho thấy trong thời gian đó Trung tâm không có nhiều bệnh nhân chấn thương chân như thế. Một đồng nghiệp là đại tá y khoa cho biết đọc bài báo của Kuklo ông cứ tưởng đó là một quần thể bệnh nhân ma, chứ không có thật ngoài đời!

Ngoài ra, qua điều tra, các quan chức quân y phát hiện ông giả mạo chữ kí của 4 đồng nghiệp tại Trung tâm quân y Walter Reed trong một bài báo khoa học để công bố trên một tập san y khoa Anh vào năm ngoái. Bốn đồng nghiệp này được ghi là đồng tác giả của bài báo, nhưng họ chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu, và cũng chẳng biết tên mình xuất hiện trong bài báo!

Kuklo là một “cảm tình viên” của Infuse. Như nói trên, ông đi quảng bá Infuse khắp nơi về Infuse và thuyết phục đồng nghiệp nên sử dụng protein càng nhiều càng tốt cho bệnh nhân! Ông là người có tài ăn nói và thuyết phục đến độ có đồng nghiệp nhận xét nếu ông bảo đưa tài khoản ngân hàng thì chắc chắn có người sẽ đưa! Chỉ trong vòng vài năm, doanh thu của Medtronic từ Infuse lên đến 500 ngàn USD.

Infuse được sử dụng rộng rãi ở các bệnh viện dân sự bên Mĩ cho giải phẫu xương cột sống và điều trị gãy xương. Nhưng các bác sĩ có thể sử dụng Infuse cho các chỉ định khác. Năm ngoái, Cục quản lí thuốc và thực phẩm Mĩ (FDA) ra thông báo cho biết nếu infuse được sử dụng trong giải phẫu cổ có thể làm cho bệnh nhân khó thở. Infuse không được FDA phê chuẩn cho sử dụng trong giải phẫu cổ. Do đó, việc làm và mối liên hệ của Kuklo với công ti Medtronic được đánh giá là có tiềm năng gây tác hại đến quân nhân và bệnh nhân.

Công ti Medtronic cho biết họ có tài trợ cho Kuklo làm nghiên cứu và có trả tiền phí cho các buổi nói chuyện của ông, nhưng họ từ chối không cho biết số tiền đó là bao nhiêu. Một dân biểu liên bang yêu cầu phải mở cuộc điều tra để làm sáng tỏ vấn đề.

Có thể nhìn vụ việc này một cách tích cực hơn: hệ thống kiểm tra và tự kiểm tra trong khoa học có hiệu quả. Bởi vì nếu hệ thống này không có hiệu quả thì làm sao phát hiện được những còn "cừu đen" này. Do đó, tôi nghĩ công chúng có lí do để tin tưởng vào khoa học.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Ở nước ta chưa có những vụ giả tạo dữ liệu được phát hiện và công bố. Tuy nhiên, privately thì có nhiều trường hợp cười ra nước mắt. Có trường hợp một em sinh viên y khoa đi làm thuê thu thập dữ liệu cho một giáo sư ở TPHCM kể lại những chuyện rất động trời. Em kể rằng ban ngày đi tìm đối tượng để phỏng vấn và điền vào bộ câu hỏi, nhưng vì người dân ở vùng Cao Nguyên bận quá nên không nhớ hết, và thế là ban đêm về khách sạn em tự điền vào bộ câu hỏi theo tưởng tượng của mình. Em còn cho biết cả đoàn của em ai cũng làm như thế! Em còn cho biết chẳng riêng gì em, mà giáo sư của em cũng làm vậy thôi. Thật là động trời. Có lẽ chính vì thế mà nhiều nghiên cứu ở VN lúc nào cũng "đẹp", không có "missing data". Những chuyện như thế này thì có nhiều, nhưng có lẽ do quan hệ cá nhân với nhau, nên chẳng ai lên tiếng. Câu chuyện trên đây cho thấy sinh viên (và chắc cả các giáo sư) cần đọc và quán triệt văn hóa khoa học, chứ nếu với đà này thì nguy hiểm quá.

NVT

Thứ Hai, 1 tháng 6, 2009

Nhà vệ sinh: chuyện nhỏ mà không nhỏ

Bài này tôi viết cho TT, vừa mới đăng trên số cuối tuần vừa qua. Tôi vẫn nghĩ vệ sinh là vấn đề lớn nhất của Việt Nam. Ngày nào nước ta chưa giải quyết được vấn đề nhà vệ sinh, nước ta chưa thể ngẩn mặt nhìn thế giới được. Tôi không nào hiểu nổi khi người ta xây dựng những building hoành tránh, những căn nhà tráng lệ, và nhà hàng rất "ngon lành", nhưng người ta lại không chú trọng đến nhà vệ sinh!

Về vùng thôn quê, vấn đề vệ sinh càng bức xúc hơn và đang dần dần trở thành một vấn nạn về môi trường. Tuy số người đi tiêu tiểu dưới sông không còn nhiều như trước đây nữa, nhưng con số này vẫn đủ để làm ô nhiễm sông nước và là nguồn lay lan bệnh tật. Điều đáng buồn là người dân ta hình như chẳng quan tâm đến chuyện này, vì họ thường ngụy biện theo kiểu "người ta ai cũng vậy"!

Mấy năm trước, bạn bè tôi ở trong nước hỏi đùa tôi một câu: ở Sài Gòn, làm sao phân biệt được nhà hàng của người trong nước và nhà hàng nào là của Việt kiều? Tôi còn đang suy nghĩ thì bạn tôi nói: vào nhà vệ sinh sẽ biết ngay. Nhà hàng hay quán ăn nào của Việt kiều hay của người ngoại quốc thì nhà vệ sinh rất chuẩn và sạch sẽ; còn nhà hàng mà chủ nhân là người trong nước thì nhà vệ sinh rất bẩn. Nói thế thôi, chứ tôi nghĩ cũng có ngoại lệ, vì tôi từng thấy nhà hàng của anh bạn tôi ở Thanh Đa (người trong nước) mà nhà vệ sinh cũng rất sạch. Vấn đề, do đó, không phải là nội hay ngoại, mà là tầm nhìn văn hóa của người dân mà thôi. Người nước ngoài nhìn vào tình trạng vệ sinh ở nước ta, họ không ngần ngại nói đây là một dân tộc kém văn hóa. Và, chắc họ cũng không quá sai.

NVT

PS. Hôm nay thấy ông Nguyễn Thiện Nhân "vi hành" đến một trường nào đó ngoài phía Bắc để xem xét nhà vệ sinh (xem hình dưới đây). Chắc ông ấy bắt chước cụ Hồ. Nhưng như vậy cũng là đáng khen rồi, nhưng xem rồi ông có làm gì không mới là câu hỏi lớn. Chứ xem nhà vệ sinh để rồi có một cái photo-op thì tôi sợ sẽ lâm vào tình cảnh đóng kịch quá.



http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=318926&ChannelID=119

Nhà vệ sinh: chuyện nhỏ mà không nhỏ

TTCT - Trong ngành y tế từ lâu vẫn tồn tại một nghịch lý: Bệnh viện được thiết kế là nơi chữa trị bệnh, nhưng cũng là một môi trường nguy hiểm cho bệnh nhân. Sự hiểm nguy ở bệnh viện không chỉ là những nhầm lẫn, sai sót y khoa hay sai sót trong toa thuốc mà còn là nơi lan truyền bệnh. Một yếu tố lan truyền bệnh khá phổ biến là vấn đề vệ sinh, hay cụ thể hơn và thực tế hơn là nhà vệ sinh.

Theo quan sát của tôi, tại nhiều bệnh viện ở Việt Nam, không chỉ nhà xí dành cho bệnh nhân và thân nhân thiếu vệ sinh, mà ngay cả nhà xí dành cho nhân viên y tế của bệnh viện cũng thiếu vệ sinh. Ở một bệnh viện lớn của một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mà tôi ghé qua, nguyên khu vực hành chính dành cho toàn giám đốc, phó giám đốc và các cán bộ, chuyên gia cao cấp chỉ có một cầu xí duy nhất, không phân biệt nam hay nữ. Mà cầu xí này chắc xây vào thời đầu thế kỷ 20 (loại ngồi).

Tình trạng nhà xí tồi tệ có thể thấy ở hầu hết các cơ sở công cộng như trường học, nhà hàng, thậm chí ngay cả những nơi được xem là cửa ngõ của đất nước như nhà ga sân bay quốc tế. Có nhiều nhà hàng được xây dựng hoành tráng nhưng khi vào đến nhà xí thì thực khách “hết hồn”.

Ám ảnh... nhà xí

Vấn đề nhà xí ở nước ta không còn là vấn đề nhỏ nữa mà có ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đất nước. Người phương Tây khi đi du lịch ở nước ta thì nỗi ám ảnh lớn nhất là... nhà xí. Tôi đã đọc (với tâm trạng vừa giận vừa thông cảm) không biết bao nhiêu bài bút ký, nhật ký, phóng sự, khuyến cáo... mà họ viết ra với văn phong giễu cợt, mỉa mai. Tôi nghĩ nếu không cải thiện được vệ sinh công cộng và nhà xí thì nước ta vẫn chứng kiến cảnh 75% du khách “một đi không trở lại”. Vấn đề nhà vệ sinh và vệ sinh công cộng đã trở thành sĩ diện quốc gia, thành vấn đề văn hóa chứ không đơn giản là vấn đề cá nhân hay nội bộ nữa.

Tôi nhớ đọc đâu đó lâu lắm rồi, trong đó tác giả kể rằng lúc Bác Hồ còn sống, cứ mỗi lần đi công tác hay thăm địa phương nào đó, bất kể công sở hay nhà dân, điều đầu tiên là Bác vào xem nhà bếp và nhà vệ sinh. Một nguyên thủ quốc gia mà quan tâm đến y tế công cộng như thế thì chúng ta phải biết vấn đề “đầu vào” và “đầu ra” quan trọng như thế nào.

Nhà vệ sinh không phải là cái gì cấm kỵ không nên bàn trên giấy trắng mực đen. Chúng ta cần trịnh trọng đặt nó lên bàn để thảo luận nghiêm chỉnh. Phải chấp nhận một thực tế là ở nước ta nhà vệ sinh chưa được xem là một “cơ quan” quan trọng, dù cơ quan này thật sự là một vũ khí phòng bệnh rất hữu hiệu.

Nhà vệ sinh - “vũ khí” phòng bệnh

Hơn một thế kỷ trước, nhà vệ sinh giúp thực hiện một cuộc cách mạng về y tế công cộng ở New York, London và Paris. Chính việc cải tiến vệ sinh và đặc biệt là nhà xí là yếu tố ngăn chặn bệnh truyền nhiễm và gia tăng tuổi thọ ở người phương Tây. Thật vậy, nguyên nhân chính về sự gia tăng tuổi thọ của người dân ở các nước tiên tiến chính là cải tiến môi trường vệ sinh công cộng và nhà xí, chứ không phải nhờ các thiết bị y khoa hiện đại hay thuốc men đắt tiền tăng tuổi thọ và cải tiến chất lượng đời sống. Do đó, Liên Hiệp Quốc nhận thức rằng cầu xí là một phương tiện phòng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang phát triển như nước ta.

Ở nước ta, các nạn dịch bệnh cứ “đến hẹn lại lên”, như nạn dịch tả hiện nay đang hoành hành ở một số vùng phía Bắc. Một số nghiên cứu ngay tại Việt Nam cho thấy nguồn nước và nhà vệ sinh là hai trong những yếu tố nguy cơ của dịch tả. Do đó, “vũ khí” phòng chống bệnh rất hữu hiệu nằm trong tầm tay chúng ta: nhà xí. Các cơ quan chức năng của Nhà nước và người dân cần phải quan tâm đến nhà xí hơn nữa.

Điều đáng buồn là chúng ta đã ở thế kỷ 21, thế mà bệnh viện lại không có những nhà vệ sinh đúng nghĩa. Có lẽ một cách để xóa bỏ nghịch lý y tế là các bệnh viện nên quan tâm nghiêm chỉnh hơn nữa về nhà vệ sinh. Trên thế giới có Tổ chức WTO, không phải Tổ chức Thương mại thế giới mà là Tổ chức Nhà vệ sinh thế giới (World Toilet Organization). Nhận thức rõ tầm quan trọng của nhà vệ sinh nên thế giới lấy ngày 19-11 làm “Ngày nhà vệ sinh” (World Toilet Day). Có lẽ nước ta cũng cần có một “Ngày nhà vệ sinh Việt Nam” chăng?

NVT