Thứ Tư, 4 tháng 11, 2009

Vài hình ảnh kỉ niệm chuyến đi Saudi Arabia

Tôi đã soạn ra một số hình chụp nhân chuyến đi công tác bên Saudi Arabia qua Singapore. Hôm nay tôi tải lên vài hình để xem như là một vài kỉ niệm của một chuyến đi rất đáng nhớ. Tôi đã viết vài trang nhật kí và suy nghĩ về chuyến đi này, và đây chỉ là vài nhật kí ảnh để minh họa thêm.

Phi trường Changi. Đây là phi trường Singapore (Terminal 3) mới xây xong để cạnh tranh với phi trường Bangkok và Hồng Kông. Nhìn toàn cảnh rất khó nghĩ đây là phi trường mà như là một siêu thị hay shopping mall vậy. Đủ thứ hàng quán, từ bình dân đến sang trọng đều có ở đây. Họ còn có cả khách sạn cho khách nghỉ qua đêm nữa!

Đường phố xanh. Chuyến đi với hãng Singapore Airlines, nên phải quá cảnh và ở Sinagpore một ngày. Sau gần chục năm quay lại Singapore, tôi thấy quốc đảo này càng đẹp hơn. Đây là con đường từ phi trường vào trung tâm thành phố, hai bên đường trồng hoa rất bắt mắt! Ước gì Việt Nam mình có một con đường như vậy.

Màu mè. Đây là một building ở trung tâm Singapore, cách khách sạn Carlton tôi ở chỉ vài con đường. Building xây theo kến trúc Tây phương, không lớn lắm, nhưng ... màu mè.


Đường vào Jeddah. Đường từ phi trường Jeddah vào trung tâm thành phố. Trông qua thì cũng sạch sẽ, nhưng có nhều con đường trung tâm thành phố rất xấu và dơ bẩn (y như Việt Nam vậy).

Dừng lại đó! Trước khi vào khách sạn phải qua cái barrier này. Cảnh sát hay nhân viên an ninh có cái lôcốt bên trái, họ nhấn nút thì barrier nổi lên, nhấn nút khác thì barrier "lặn xuống" mặt đường. Họ làm giống như phim James Bond 007 vậy!

Khám xét. Cảnh sát hay nhân viên an ninh (có đeo súng) đến khám xe. Thật ra, họ chỉ xem cái "cốp" xe thôi, rồi nhìn vào xe xem có gì nghi ngờ không. Thủ tục này tốn không đầy 1 phút, sau đó anh chàng này ra hiệu cho người ngồi trong locốt bấm nút cho cái barrier trên "lặn" xuống để xe vào cổng khách sạn. Nhìn hình này làm tôi nhớ đến những năm trước 1975 khi đi xe đò phải qua khám xét.

Đường vào ... khách sạn có trăm lần vuicó vạn lần buồn! (xin lỗi, tự nhiên vô duyên nhớ đến bài hát đó khi nhìn hình này). Qua cái barrier là con đường đẹp dẫn vào đại sảnh của khách sạn. Đường được trồng cây hai bên rất đẹp và rất Arab. Phía bên tay mặt là hồ bơi và phương tiện resort. Sáng nào tôi cũng ra đây bơi lội thoải mái. :-)


Scan. Đến khách sạn, khách còn phải đưa hành lí vào cái máy scan này. Thật ra, cái máy này nghe nói còn hiện đại hơn cả máy ngoài phi trường!



Intercontinental Jeddah. Phía ngoài khách sạn Intercontinental trông rất ... oách

Sang trọng. Phía trong thì khỏi chê vào đâu được, vì thiết kế rất sang trọng và tiện nghi.

Ngày đầu làm việc. Nghe thuyết trình của các trưởng nhóm nghiên cứu.


Thức ăn tràn trề. Ngay cả giờ giải lao mà cũng ăn uống, và thức ăn thì ôi thôi quá nhiều. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy món nào ăn được cả; chỉ chọn cơm và rau cho ... chắc ăn.

Thăm thư viện. Trung tâm này chỉ có 29 người (tương lai có thể lên đến 100), nhưng thư viện của họ chắc còn ngon lành hơn cả thư viện Trường Đại học Y dược TPHCM. Hầu như các tập san y khoa lớn họ đều có trong thư viện. Ngay cả Nature mà họ còn đặt mua, đủ thấy họ nhìn xa cỡ nào!


Một góc của thư viện. Các tập san lâm sàng quan trọng đều có ở đây.


Nhìn cái thư viện chỉ cho 29 con người tại trung tâm này làm tôi thấy thương các em sinh viên trường Đại học Y dược TPHCM quá. Thư viện của người ta nhiều sách, sạch sẽ, sang trọng, tiện nghi, còn thư viện của một trường cho hơn 1000 con người thì ít sách, dơ bẩn, nhếch nhác và bất tiện. Ôi, ngày nào ta khá lên ?

Gặp sếp lớn. Diện kiến ngài phó hiệu trưởng (người ngồi phía tay phải, đang thả chân ra). Phòng làm việc của ông này còn lớn hơn cả phòng của thủ tướng Úc!

Chụp hình lưu niệm. Những người không mặc áo thụng là thành viên của đoàn thanh tra của chúng tôi. Nhìn hình này đôi khi tôi mỉm cười một mình, vì tôi bị bao quanh bởi với mấy ông khổng lồ và tôi là người Á châu duy nhất trong hình.

Xong việc. Chụp hình lưu niệm vào ngày cuối sau khi thanh tra xong

Tặng thưởng. Giám đốc trung tâm trao kỉ niệm chương cho tôi.

Hóng mát. Người dân địa phương dạo mát bên bờ biển. Ngay cả buổi chiều mà nhiệt độ cũng ở mức 35-40 độ C. Chú ý phụ nữ phải trùm từ đầu xuống chân, nhìn xa xa cứ như là những ... bóng ma. Nhìn mấy hình này và đối chiếu lại những phụ nữ Việt Nam ăn mặt mát mẻ tôi thấy tội nghiệp cho phụ nữ Arab quá!

Chợ đêm. Chợ búa ở đây cũng chẳng khác gì chợ ở Việt Nam, tức là cũng chật chội, ồn ào, dơ dấy, hôi thúi, và ... nói thách giá. Nhưng có cái khác là chợ Việt Nam có nhiều hàng quán ăn uống, còn ở đây họ chỉ chủ yếu bán vải và hàng gia dụng.

Ăn tối. Buổi ăn tối đêm cuối cùng trước khi lên máy bay rời Saudi Arabia. Đêm đó tôi nói nhiều về Việt Nam. Hình chụp lúc tôi đang "quảng cáo" về Việt Nam để cho họ đến du lịch. Họ có vẻ lắng nghe tôi rất kĩ và tỏ ý mốn đến Việt Nam một lần cho biết.

Xem thêm:

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2009

Tin buồn: Tác giả Văn Ngọc qua đời

Đêm qua, tôi nhận được một hung tin: anh Phạm Ngọc Tới, bút danh Văn Ngọc, mới qua đời. Anh thọ 75 tuổi.

Anh Tới -- tôi vẫn quen gọi như thế -- là một kiến trúc sư, nhưng còn là một tác giả tài hoa, một nhà phê bình nghệ thuật sắc sảo, một cây viết chủ lực trong nhóm Diễn Đàn bên Pháp. Mới tuần trước (27/10) khi nghe tin website Tia Sáng bị đóng cửa, anh còn email hỏi tôi có tin tức gì chia sẻ với anh ấy, vì anh cũng là một cộng tác viên thân thiết cho Tia Sáng. Sự ra đi đột ngột của anh làm cho nhiều anh chị em quen biết anh đều ngỡ ngàng và rất thương tiếc.

Anh Tới là người sinh ra ở Hà Nội, nhưng sang Pháp du học từ năm 15 tuổi. Anh tốt nghiệp ngành kiến trúc thuộc Trường cao đẳng mĩ thuật Paris năm 1964. Trong thời gian làm việc như là một kiến trúc sư, anh còn tham gia các phong trào Việt kiều đấu tranh chống chiến tranh ở Việt Nam, và viết báo. Theo Diễn Đàn, anh từng viết cho báo Tìm Hiểu, Liên Hiệp, Trí Thức, Đoàn Kết, và sau này là một trong những người sáng lập báo Diễn Đàn ở Paris. Anh viết nhiều bài bình luận về nghệ thuật, kiến trúc, và hội họa rất hay. Năm 2004, anh cho xuất bản cuốn Đi trong thế giới hội họa và gửi tôi một cuốn làm kỉ niệm. Lúc đó chúng tôi chưa gặp nhau ngoài đời mà chỉ qua email thôi. Vốn ái mộ anh từ lâu, tôi đọc một mạch cuốn sách và có viết bài điểm sách (bản ngắn đăng trên Tuổi Trẻ).

Như tôi nói, tôi có cơ duyên quen biết anh qua email cũng gần chục năm nay. Năm 2005, trong chuyến đi công tác bên Ý, tôi có dịp tạt qua Paris ghé thăm bạn bè và các anh chị trong Diễn Đàn. Hôm đó, chúng tôi kéo nhau ra một quán ăn mà người Việt mình ở đó gọi là “Quán Cụ Hồ” vì có treo ảnh của ông cụ (và tôi có chụp một tấm dưới bức ảnh đó). Đó là lần đầu tiên tôi biết mặt anh Tới và chị Uyên (phu nhân anh, xem hình). Lần đầu tiên gặp anh tôi thấy mến ngay. Đó là một người thuộc thế hệ đàn anh rất rất Hà Nội (Hà Nội thời xưa, chứ không phải Hà Nội thời nay): lịch sự, nhẹ nhàng, và tinh tế. Nói chung đó là một con người với phong cách rất nho nhã. Tôi có cảm giác câu nói nào hay một câu văn nào (ngay cả trong emai) của anh cũng đều có suy nghĩ cẩn thận, đều có một ý nghĩa đáng suy nghĩ. Do đó, anh được lòng mọi người. Ai cũng mến anh. Có thể nói không ngoa rằng trong có những khi cái tính Nam kì sôi nổi của tôi trỗi dậy, tôi nhớ đến cách hành xử của anh Tới và thấy mình như trầm tĩnh hơn. Cách viết, cách suy nghĩ, và cách hành xử của anh là một bài học ở đời đối với tôi.


Hình chụp ở Paris vào ngày 25/1/2005 tại “Quán Cụ Hồ”. Người ngồi phía sau tôi là anh Hà Dương Tuấn (cũng là một cây viết rất hay của Diễn Đàn). Phía phải (từ trong ra ngoài) là Bs Vũ Ngọc Quỳnh, anh Phạm Ngọc Tới và chị Uyên.



Nay thì anh đã đột ngột ra đi! Tôi chỉ muốn mượn entry này để có vài dòng tưởng nhớ đến một người đàn anh mà tôi rất kính trọng. Xin thành thật chia buồn cùng chị Uyên và gia đình.

NVT



====




Đi trong thế giới hội họa (*) của Văn Ngọc

Nguyễn Văn Tuấn

Có nhiều người cho rằng người Việt là một dân tộc thơ. Có nhiều cơ sở để biện minh cho nhận xét này, kể cả một sự thật đơn giản là bất cứ người Việt nào cũng thuộc lòng dăm ba bài thơ, cũng có thể làm một bài thơ không mấy khó khăn, hay ngay cả có thể ứng khẩu bằng thơ. Thế nhưng, khi đến với hội họa, phần lớn người Việt chúng ta đều … có vấn đề. Trong khi hầu như bất cứ ai trong chúng ta cũng có khả năng bình luận về cái hay, cái đẹp của một vần thơ, nhưng khi đứng trước một tác phẩm hội họa, hay ngay cả trước một bức tranh dân gian, chúng ta đôi khi không phân tích được cái đẹp, không lí giải được cái “thần”, thậm chí không hiểu nội dung và ý nghĩa của tác phẩm là gì. Một trong những nguyên nhân của tình trạng nghèo nàn này, theo tôi, là sự thiếu thốn về giáo dục thẩm mĩ trong nhà trường phổ thông, và nhất là thiếu những sách về chủ đề này. Nhưng sự thiếu thốn này vừa mới được bù đắp bằng cuốn Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc vừa do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành.



Đi trong thế giới hội họa không phải là sách giáo khoa, cũng không phải là một công trình phê bình hội họa, mà là tập hợp 23 bài viết về các khía cạnh phân tích và lí luận của nghệ thuật. Phần lớn những bài viết này đã được đăng rải rác trên một số tạp chí trong và ngoài nước từ khoảng 10 năm qua. Theo tôi, cuốn sách còn thể hiện cái nhìn thế giới của tác giả về những thời đại hội họa và nghệ thuật được xây dựng trên toàn cục dữ kiện đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc Tây và Đông phương. Do đó, cuốn sách rất thích hợp cho những ai muốn tìm hiểu về hội họa và những mô hình thẩm mĩ của ứng xử tạo hình, được gói ghém và bộc lộ ở dạng biểu trưng.

Như tựa đề ngụ ý hứa hẹn, qua 23 bài viết, tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt hành trình hội họa từ cổ chí kim. Và, sau khi qua cuộc hành trình chữ nghĩa này, người đọc sẽ thu nhận một số kiến thức căn bản về giáo dục thẩm mĩ để có thể thẩm định và phân tích cái đẹp trong hội họa. Sau khi điểm qua các vấn đề chung (như thời điểm khởi nguyên của hội họa, các vấn đề lí luận nghệ thuật và ý niệm thẩm mĩ, các khía cạnh màu sắc, nhịp điệu và ngôn ngữ tạo hình, v.v…), tác giả bàn qua những thể loại, trường phái hội họa Tây phương và hội họa dân gian Đông phương, kể cả hội họa truyền thống ở Việt Nam, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Tây Tạng, và Úc (thổ dân). Qua 6 chương liền, bạn đọc sẽ được “dừng chân” để xem qua quá trình phát triển hội họa của Việt Nam từ tranh dân gian đến hội họa hiện đại chịu ảnh hưởng Tây phương.

Hội họa có một lịch sử lâu đời. Nói đến cái thời điểm khởi sinh của hội họa, chúng ta thường nghĩ nó được ra đời cách đây khoảng 17.000 năm ở Lascaux, vì giới khảo cổ học từng cho chúng ta biết như thế. Thế nhưng, qua Đi trong thế giới hội họa, chúng ta phải xét lại nhận thức đó, bởi vì một phát hiện mới đây cho thấy cội nguồn của hội họa được bắt đầu từ hang động Chauvet (gần Port-d’Arc Ardèche) vào khoảng 32.000 năm về trước. Không thấy tác giả bàn về cội nguồn hội họa Việt Nam trong sách. Tuy nhiên, phát hiện ở Chauvet cho thấy hội họa tại đây có niên đại cao hơn nhiều so với những hình người trên vách đá tìm thấy ở hang Đồng Nội (Hòa Bình) cách đây khoảng 12.000 năm vẫn được xem là thời điểm đầu tiên trong hội họa Đông Nam Á và nước ta.

Bàn về hội họa tất nhiên phải bàn đến cái đẹp. Bạn đọc sẽ không thất vọng với cuốn sách này, vì tác giả bỏ ra khá nhiều trang giấy để phân tích thế nào là đẹp trong hội họa. Tác giả trích dẫn một câu nói nổi tiếng của Kant, “Cái đẹp không có qui luật, một khi nó đã có những tiêu chuẩn qui định nó một cách rõ ràng rồi, thì không còn cái đẹp nữa” (trang 49). Nhưng trong thực tế, cái đẹp – dù không có một qui định cụ thể nào, dù không được cân đo đong đếm bằng khoa học – cũng có những ước lệ chung chung. Những ước lệ này thường dựa trên những hình khối cân đối, những cái mà tác giả gọi là thức, là nhịp điệu trong tạo hình, là nội dung. Tác giả cho biết theo quan niệm cổ điển, “Cái đẹp không chỉ nằm trong hình thức, mà nằm ngay trong cái nội dung thật có tính chuẩn mực, hoặc tính chất đạo lí, hay triết lí” (trang 53). Câu nói này làm tôi nhớ đến câu nói danh tiếng của Anatole France trong La Vie Littéraire, “Không có sự thật, mà chỉ có cái đẹp,” hay John Keats trong Ode on a Grecian Urn, “Cái đẹp là sự thật.” Nhưng vấn đề còn rắc rối hơn nữa: cái đẹp còn tùy theo trường phái hội họa. Chẳng hạn như trường phái Trừu trượng nhìn cái đẹp trực tiếp, những diễn đạt nó bằng một ngôn ngữ trừu tượng. Như vậy cái đẹp còn là một hàm số của lí thuyết nghệ thuật nữa. Tác giả tóm tắt ý này một cách súc tích: “Cái đẹp không phải là cái đẹp (hay cái xấu) nằm ở trong bản thân khuôn mặt thật, hay quả táo thật, được lấy làm mẫu, mà nằm trong cách nhìn nó và thể hiện nó lên tranh của người họa sĩ, với một quan niệm nghệ thuật nhất định” (trang 56).

Tiếp theo 2 bài bàn về các khía cạnh lí luận hội họa và mĩ thuật, tác giả đi vào chi tiết về màu sắc và nhịp điệu trong hội họa (2 bài), và dành ra 3 bài viết về trường phái lập thể, hiện thực và trừu tượng. Tiêu biểu cho trường phái lập thể là Picasso và Cézanne, hai người cho rằng một tác phẩm hội họa không chỉ phản ánh những gì con người thật sự thấy được chứ không phải những gì con người tin là mình đã thấy như thế. Quan niệm về thẩm mĩ của trường phái này, nói như Picasso, là cái đẹp và sự thật hoàn toàn đều do con người sáng tạo ra, chứ không hẳn phải có trong thiên nhiên. Những người theo trường phái hiện thực, như tên gọi ám chỉ, cho rằng hội họa có mục đích nhận thức và diễn đạt hiện thực, lấy ý tưởng chân, thiện, mĩ của Plato làm nguyên lí chỉ đạo. Còn trường phái trừu tượng? Nói theo Kandinsky, qua lời kể của tác giả, cái đẹp có thể tồn tại độc lập với đối tượng, và độc lập với nội dung hiện thực của bức tranh.

Những bài viết về hội họa Việt Nam trong sách, theo tôi, là một phần rất lí thú và bổ ích cho những ai muốn có một cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của hội họa Việt Nam. Chúng ta được biết Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông dương do người Pháp lập ra ở Hà Nội lúc đầu không có mục đích đào tạo nghệ sĩ mà chỉ huấn luyện và cung cấp “những ông thầy dạy vẽ cho các trường học và trường dạy nghề trang trí”, và “đào tạo những nghệ nhân, nhằm đẩy mạnh một số ngành mĩ nghệ nhà nước bảo hộ cần khai thác”. Nhưng những họa sĩ được đào tạo trong các khóa đầu tiên từ trường này đã nhanh chóng biến nó thành một trung tâm đào tạo nghệ sĩ đích thực (tức tham gia vào quá trình sáng tạo nghệ thuật) dù họ rất thiếu thốn thông tin và giao lưu văn hóa, thiếu căn bản lí thuyết thẩm mĩ, và có khi lẫn lộn nghệ thuật với chính trị. Tô Ngọc Vân, người được tác giả xem là con chim đầu đàn của hội họa Việt Nam hiện đại, từng tuyên bố một câu hơi mơ hồ nhưng có lí rằng, “Chúng ta đồng tình với những bậc tiền bối danh sư của hội họa cổ điển, đem nghệ thuật mà phục vụ một Đạo. Nhưng cái đạo của chúng ta là đạo làm một người của nhân dân” (trang 134). Viết về các tác phẩm hội họa trong thời kì này tác giả đưa ra một nhận xét mà tôi thấy rất tâm đắc: “Cái đẹp là cái đẹp bình dị của những bố cục tĩnh. Cái không khí toát ra từ những bức tranh là một không khí tĩnh lặng, thời gian như động lại, khiến người xem có một cảm giác êm đềm, đôi khi bồi hồi, xúc động” (trang 142).

Những trang sách viết về tranh dân gian Việt Nam (chủ yếu là tranh làng Đông Hồ và tranh Hàng Trống) cũng rất đáng trân trọng và thú vị, vì nó cho người đọc một cái nhìn hiện đại về những bức tranh truyền thống đó. Cá nhân tôi, đây là lần đầu được tiếp cận với những giá trị nghệ thuật của những bức tranh mà tôi cứ nghĩ là “tranh quê”, những bức tranh với nội dung mộc mạc (như gà, lợn) và thiếu sự hoành tráng. Nhưng nay qua sự phân tích của tác giả, tôi mới nhận ra rằng các tranh Đông Hồ mang tính chất “kí hiệu”, và về cơ bản có phần tĩnh, trong khi đó tranh tranh Hàng Trống có bố cục năng động hơn và gần với quan niệm hiện đại về nhịp điệu hơn. Tranh Tết, với những nhịp điệu sinh động và những nét vẽ uyển chuyển có thần cũng “thể hiện một quan niệm thẩm mĩ rất cổ truyền nhưng cũng rất trùng hợp với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại” (trang 169). Tranh thờ cúng Việt Nam, theo tác giả, “xứng đáng là một trong những truyền thống tranh cổ của nhân loại” (trang 183). Theo tác giả, “Bức tranh Ngũ hổ là một bức tranh dân gian hoàn chỉnh nhất, mang nhiều nhân tố thẩm mĩ gần gũi nhất với những quan niệm thẩm mĩ hiện đại nhất” (trang 193).

Bình luận về màu sắc trong tranh gà tranh lợn, học giả Lê Văn Hòe nhận xét từ thập niên 1950s như sau: “Tranh gà tranh lợn đỏ như xôi gấc, vàng như lúa chín, xanh như lá mạ, hay vàng như nghệ kho cá, xanh như cốm non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu sắc quen thuộc thân mến từ bao nhiêu đời người rồi. Những màu sắc ấy in sâu vào tâm não nông dân, hết thế hệ này đến thế hệ khác thành những màu sắc dân tộc rồi. Những màu sắc xanh đỏ chói rực của tranh Tàu, tranh Tây nó chướng quá, nó không mộc mạc, quen thuộc như những màu xanh, đỡ thô kệch, điềm đạm thật thà của tranh lợn, tranh gà.” (trang 164).

Bàn về sự phát triển của tranh dân gian, tác giả tỏ ý ưu tư trước một thực tế là các tranh này không có tác giả. Và sự khuyết danh này là một hàng rào cản trở không cho tranh dân gian Việt Nam phát triển lên được, không vượt ra khỏi biên giới Việt Nam để hòa nhập vào hội họa thế giới. Cũng là một điều rất đáng quan tâm. Có lẽ đây là cơ hội cho các nhà kinh doanh trẻ nước ta động não để phát triển tranh dân gian, như giới thương gia Nhật Bản đã từng làm cho tranh dân gian Nhật vào thế kỉ qua.

Các trang sách viết về hội họa dân gian Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Tạng, và thổ dân Úc chủ yếu là những khái quát để bạn đọc có thể so sánh và tìm mối liên hệ với hội họa Việt Nam, chứ không có ý định làm một công trình phê bình hay điểm tranh. Nhưng một số thông tin trong các bài viết này cũng rất thú vị. Chẳng hạn như tác giả phát hiện trong một cuốn sách đồ sộ về hội họa dân gian Trung Quốc (viết bằng tiếng Anh), một giáo sư Trung Quốc đưa hai bức tranh Tết của Việt Nam (tranh Đông Hồ Lợn Độc và Cá chép trông trăng) và cho rằng đây là tranh đời Nhà Thanh của một dân tộc thiểu số ở Quảng Tây và Giang Liễu Thanh! Chẳng những ông giáo sư này không đưa ra một chứng cớ nào để phát biểu như thế, ông còn đề chú thích bên dưới tranh là “A Hanoi reproduction” (Một bản sao ở Hà Nội)!

Nhưng điểm mạnh của cuốn sách là tác giả dẫn dắt người đọc đi suốt chiều dài lịch sử hội họa Đông Tây và cung cấp nhiều thông tin thú vị. Nhưng với mục đích “đi trong thế giới”, cho nên tác giả không có dịp dứng lại để bàn sâu và các chi tiết hàn lâm về những chủ để hội họa. Bù vào đó, văn phong của tác giả rất trong sáng, khúc chiết, và thảnh thơi; nên người đọc có cảm giác như cùng đi dạo một vòng lịch sử với một người có tuổi trầm tỉnh và kiến thức sâu rộng. Điều này chắc phải đúng thôi, vì tác giả ở vào tuổi “thất thập cổ lai hi”, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mĩ thuật Paris năm 1964, và hành nghề kiến trúc sư ở Pháp suốt 38 năm trời. Tác giả, dĩ nhiên, còn là một trong những cây bút chủ lực của báo Diễn Đàn (Paris), từng cống hiến cho bạn đọc rất nhiều bài viết về hội họa và văn hóa, với những nhận xét sắc bén và súc tích. Tôi phải thú nhận một “mâu thuẫn quyền lợi” ở đây: tôi là một fan của Văn Ngọc trên Diễn Đàn.

Trong đoạn cuối của cuốn sách tác giả ưu tư trước sự lan tràn của các phim hoạt họa Tây phương và trò chơi vi tính, với những hình ảnh hỗn tạp, lố lăng, và đầy tính bạo động được các phương tiện truyền thông đại chúng truyền đi có thể ảnh hưởng đến nhận thức về cái đẹp trong giới trẻ, nhất là giới trẻ ở nước ta. Trong bối cảnh như thế, cộng với tình trạng thiếu thốn sách vở về hội họa cũng như sự nghèo nàn về giáo dục thẩm mĩ ở nước ta, tôi nghĩ Đi trong thế giới hội họa của Văn ngọc là một đóng góp tích cực và có ý nghĩa. Cuốn sách rất đáng có mặt trong tủ sách của mọi gia đình nào còn quan tâm đến cái đẹp và muốn tái khám phá cái đẹp trong di sản hội họa dân tộc Việt Nam.

(*) Đi trong thế giới hội họa của Văn Ngọc, Nhà xuất bản Trẻ và Tạp chí Tia Sáng ấn hành, 2004. Sách dày 295 trang, kể cả Lời giới thiệu. Giá bán: 30.000 đồng.

Trung Quốc: bệnh nhân tâm thần bị ép giải phẫu

Tờ Wall Street Journal (WSJ) của Mĩ đi một bài phóng sự dài về tình hình phẫu thuật được sử dụng như là một phương pháp điều trị cho bệnh nhân tâm thần ở Trung Quốc. Theo bài báo, Trung Quốc có nhiều bệnh nhân tâm thần, từ trầm cảm đến tâm thần phân liệt (schizophrenia). Những bệnh nhân này đang được điều trị bằng giải phẫu não, một biện pháp không có một chứng cứ khoa học nào làm cơ sở. Phương pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng phẫu thuật chẳng những chẳng đem lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn gây đau đớn và hao tổn tài chính cho bệnh nhân.

Bài phóng sự trên tờ WSJ thuật lại một trường hợp bệnh nhân trầm cảm, 25 tuổi, tên là Mi Zhantao, người mới được bác sĩ giải phẫu. Theo bác sĩ, những triệu chứng của anh là phù hợp với bệnh tâm thần phân liệt, và cần phải giải phẫu như là một biện pháp điều trị. Gia đình anh phải trả đến 4,800 USD (tương đương với 4 năm tiền lương) cho ca phẫu thuật. Nhưng buồn thay, thay vì phẫu thuật giúp giảm triệu chứng như bác sĩ hứa, thì bệnh trạng lại càng ngày nặng hơn, và đến nay thì anh bị liệt một tay và tiếng nói thì líu nhíu.

Ý tưởng dùng phẫu thuật để điều trị bệnh tâm thần phân liệt hay bất cứ bệnh tâm thần nào đối với y khoa phương Tây và các nước tiên tiến là chuyện khó tin, nhưng ở Trung Quốc thì nhiều bác sĩ tán thành phương pháp điều trị này. Thật ra, Zhantao được bác sĩ khám và giải phẫu chỉ trong vòng … 1 ngày! Bác sĩ Wang Yifang, người thực hiện phẫu thuật cho bệnh nhân Zhantao, còn phát tán tài liệu quảng cáo về những thành công trong phẫu thuật điều trị bệnh tâm thần. Ông thậm chí còn có một đường dây nóng để bệnh nhân gọi vào tìm hiểu về phẫu thuật!

Phương pháp giải phẫu mà Bs Wang Yifang là một phương pháp xâm phạm. Bác sĩ dùng một cây kim dài khoảng 19 cm khoan nhiều lỗ nhỏ trên sọ; sau đó những vùng trong não xem là có nguyên nhân gây nên tình trạng trầm cảm sẽ được đốt bằng cách dùng một cái probe. Bs Wang cho biết tính từ năm 2004 ông đã thực hiện hơn 1000 ca giải phẫu như thế tại Bệnh viện 454.

Nhưng ca giải phẫu não để điều trị bệnh tâm thần phân liệt thực hiện tại Bệnh viện 454 (nguyên là một bệnh viện quân sự) thật ra còn được thực hiện ở nhiều bệnh viện khác trên khắp Trung Quốc, dù phương pháp này đã bị cấm tại các nước tiên tiến. Nhiều bác sĩ ngoại quốc rất sốc khi biết con số ca giải phẫu mà Bs Wang đã thực hiện. Bác sĩ Michael Schulder, chủ tịch một hội thần kinh học của Mĩ, nhận xét: "Nó [chỉ phương pháp phẫu thuật] hoàn toàn không còn áp dụng nữa. Nếu ông ấy chỉ giải phẫu cho 10 bệnh nhân thôi thì đã là một việc làm gây ra nhiều tranh luận."

Phương pháp điều trị tâm thần phân liệt bằng phẫu thuật đã gây ra nhiều tranh cãi ngay từ những năm đầu thập niên 1930, lúc đó bác sĩ bắt đầu áp dụng biện pháp cắt bạch chất (lobotomy) trong não. Phương pháp đó sau này được xem là vi phạm y đức. Nhưng phương pháp mà Bs Wang áp dụng để điều trị ông Zhantao – gọi là ablative surgery – là một phương pháp còn trong vòng tranh cãi và rất ít ai áp dụng, hay chỉ áp dụng như là một biện pháp sau cùng cho các bệnh tâm thần. Ở Mĩ, số bệnh nhân bệnh tâm thần phân liệt được điều trị bằng phẫu thuật chỉ khoảng 20-25 người mỗi năm, nhưng trước đó phải được xét nghiệm và điều tra lâm sàng rất kĩ. Tính trung bình, thời gian để được phê chuẩn cho một ca phẫu thuật như thế tốn ít nhất là 12 tháng, với sự phê chuẩn của một hội đồng y khoa bao gồm các chuyên gia thần kinh học, tâm thần học, y đức và thân nhân của bệnh nhân.

Bài phóng sự trên tờ WSJ còn cho biết giải phẫu điều trị các bệnh tâm thần ở Trung Quốc là hệ quả của tình trạng tham nhũng tràn lan trong hệ thống y tế của Trung Quốc. Trong hệ thống đó, bác sĩ muốn có thêm thu nhập, họ phải thực hiện nhiều ca giải phẫu để có thêm tiền thưởng. Do đó, hệ thống y tế Trung Quốc trở thành một môi trường để các giới chức y tế lợi dụng và lạm dụng. Theo một chuyên gia phẫu thuật tại Đại học Giao thông Thượng Hải, các bệnh viện quân sự Trung Quốc xem các khoa thần kinh ngoại là những trung tâm làm ra tiền.

Tuy Trung Quốc đang cố gắng cải tổ hệ thống y tế, nhưng đối với hàng ngàn bệnh nhân như ông Zhantao thì việc làm đó đã quá muộn. Gia đình của Zhantao đang làm thủ tục kiện bác sĩ ra tòa. Dù vụ kiện sẽ không giải quyết được tình trạng bệnh của anh, nhưng nó gióng một tiếng nói cho công chúng Trung Quốc biết về một thuật điều trị nguy hiểm mà thế giới chẳng còn ai áp dụng.

NVT

===

http://online.wsj.com/public/article/SB119393867164279313.html?mod=blog

In China, Brain Surgery Is Pushed on the Mentally Ill

Irreversible Procedures Rarely Done Elsewhere; A Mother's Regrets

By NICHOLAS ZAMISKA

NANJING, China -- Mi Zhantao, a poor 25-year-old living with his parents outside this provincial capital in eastern China, was battling depression and had trouble socializing. Doctors said he had schizophrenia. They recommended brain surgery.

Mr. Mi's family spent about $4,800 -- the equivalent of four years' income, and more than their life savings -- on the operation, at No. 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing. The highly controversial procedure involved drilling tiny holes in the young man's skull, inserting a 7½-inch-long needle and burning small areas of brain tissue thought to be causing his problems.


The surgeon, who operated on Mr. Mi the day he met him, says he has performed nearly 1,000 such procedures, mostly for schizophrenia, but also for illnesses ranging from depression to epilepsy, since the hospital started offering the operation in 2004.

Mr. Mi's parents say the surgery did nothing but leave their son with a partially limp right arm and slurred speech. He continues to be depressed and withdrawn, his mother says. Wang Yifang, the surgeon, says he checked the medical records and, as far as he knows, the patient left the hospital uninjured.

Mr. Mi's mother, Kong Lingxia, 50, says she'll regret the decision for the rest of her life. "I feel so angry," she says. "But I'm really angry at myself. How could I let this happen?"
The irreversible brain surgeries performed at No. 454 Hospital, which are all but blacklisted for mental illness in the developed world, are being done across China. They are a symptom of the problems plaguing the nation's health-care system, which has left hospitals with scant public funding and hungry for profit.

Some foreign doctors were shocked when told of the number of surgeries Dr. Wang has performed and the problems he was trying to treat.

"It's completely off the charts. If he had done 10, it would be highly controversial," says Michael Schulder, president of the American Society for Stereotactic and Functional Neurosurgery. Such surgery involves locating and operating on specific targets in the brain.

Surgeons operate on the brain for problems ranging from tumors to movement disorders. But in mainstream medicine, the surgery performed on Mr. Mi -- called ablative surgery -- is a last resort for mental illness. It isn't done anywhere in the U.S. for schizophrenia. While the total number of psychosurgical procedures performed in the world is unknown, Emad N. Eskandar, of Massachusetts General Hospital, estimates fewer than 25 patients are operated on annually in the U.S. and Britain.

Doctors at Massachusetts General perform between six to 12 ablative procedures a year for mental illness, but only after rigorous screening, says Dr. Eskandar, the director of stereotactic and functional neurosurgery. The operations are intended to ease symptoms of intractable depression or obsessive-compulsive disorder. Patients must be competent to give informed consent, and the procedure, which normally takes at least a year to be approved, must be cleared by a committee including psychiatrists, neurologists, ethicists, surgeons and a layperson.

Dr. Wang Yifang, head of neurosurgery at 454 Hospital of the People's Liberation Army in Nanjing, has performed nearly 1,000 brain surgeries since 2004.

China's system is vulnerable to abuse because doctors make as much as 90% of their income through bonuses tied to business they generate, according to Henk Bekedam, who until recently was the World Health Organization's chief representative in China.

"In China, nowadays, in some military hospitals, their brain center is a profit center," says Sun Bomin, director of functional neurosurgery at Shanghai Jiao Tong University's Ruijin Hospital. Most of China's hospitals are run by the health ministry, but some are overseen by the 80-year-old People's Liberation Army, a legacy of the days when the military ran its own services. Those hospitals now are open to the public.

Dr. Sun says he performs around 20 or 30 brain surgeries for schizophrenia each year, but only with strict oversight from multiple psychiatrists. He says improper use of the procedure, such as not being selective enough about the patients, is the problem, not the procedure itself.

Under Mao Zedong, the state provided basic but near-universal care. That safety net was gradually dismantled as Beijing began privatizing health care in the 1980s, leaving many individuals -- and thousands of ailing state-run hospitals -- to fend for themselves.

China has been trying to repair the system, but its health bureaucracy, responsible for regulating drugs and medical procedures, is struggling with the wake of a corruption scandal. The former head of the State Food and Drug Administration was executed this summer for accepting bribes from drug companies to speed approvals.

The Ministry of Health in Beijing didn't respond to written questions about the surgeries.
A spokeswoman for the Ministry of National Defense office said the health department of the People's Liberation Army agreed to do a "thorough investigation" in response to written questions from The Wall Street Journal about the surgeries, but declined to comment while the investigation was under way.

Dr. Wang says government investigators came to his hospital in mid-October to inquire about the surgeries he was performing. On Oct. 26, Ms. Kong said in a telephone interview that local officials visited her and asked her why she had allowed a foreign reporter into her home.

Brain surgery for mental disorders has been a controversial practice since at least the 1930s, when doctors began performing lobotomies, removing or altering parts of the brain. That procedure was eventually blacklisted. The difference with the surgery being done today, advocates say, is that the areas of the brain being targeted are more precise.
The Chinese government banned the brain surgery for use on drug addicts in 2004, after news reports about the practice. But the procedure continues to be used for mental illness.
Dr. Wang, head of neurosurgery at No. 454 Hospital, defends the procedure. "There are so many mental-disease patients," he says. "In many of the mental-disease hospitals, 30% to 50% of the patients cannot be treated by medicine. And these patients have caused a great burden to their families and society."

Dr. Wang, 44, graduated from Nanjing Medical University in 1987 and later joined the air force as a surgeon. He says his salary at the PLA hospital is about $670 a month; he says he doesn't get bonuses tied to generating business and isn't paid more to perform more surgeries. However, Dr. Wang says he travels to nearby provinces frequently to perform the procedure at other hospitals, to earn more.

No. 454 Hospital has around 600 employees and revenue of some $12 million a year, about $1 million of which comes from the surgeries, Dr. Wang says. The hospital promotes the surgery aggressively, printing pamphlets featuring success stories, and runs a hot line people can call for information.

Shi Haiming, the No. 454 hospital's deputy director, declined to comment.

Dr. Wang says all patients are screened before the surgery and the procedures have helped many patients. Earlier this year, the hospital handed out more than 500 questionnaires to families of patients who have undergone brain surgery, he says. It asked about activities of the patients, such as talking with friends, taking the bus, shopping and, generally, whether the patients' lives had improved since surgery. The hospital received 317 completed surveys, and based on the answers, Dr. Wang and his staff rated each patient's condition on a five-tier scale. Dr. Wang says they determined that 93% of respondents had shown improvement.

Deng Jian's family says she hasn't improved. And they sued.

Ms. Deng, who was diagnosed with schizophrenia in her 20s, had the surgery in 2004. Ms. Deng, 42, suffered a brain hemorrhage during the procedure. Her right leg is now in a brace, and her right arm is lame. She salivates uncontrollably and needs to spit in a bucket.

Her father, Deng Jun, recalls the days when Ms. Deng could ride her bike on her own to Sun Yat-Sen's mausoleum near their home in Nanjing. Her mother, Ran Yuhua, says that before the surgery, "she had problems in the mind, but she could take care of herself. But after the surgery, she can't do anything. Can't even wring a towel or get dressed."

The morning they checked into the hospital, her mother remembers reading documents about possible risks. She asked the doctor what "cerebral bleeding" meant. Dr. Wang never answered her question, she says, and instead pushed her to pay. "He said, 'Hurry up, hurry up. Otherwise no time. We have surgeries to do,'" she recalls.

Dr. Wang disputes that he rushed the family to a decision. "This is unfair," he says. "They came and we repeatedly told them about the risks of the surgery." He says it took three to four hours to finish the necessary tests, including an electrocardiogram, chest X-rays, liver tests and a CT brain scan.

He says her problems are the result of "a complication" during the surgery, which happens in exceedingly few cases.

The family sued the hospital in Baixia District People's Court for about $76,000 to cover costs of the surgery, nursing costs and compensation for Ms. Deng's injuries. In May, the court ruled in favor of the Deng family, awarding them about $49,000, according to copies of court documents provided by the family. Fang Jianguo, a chief judge at the Baixia District People's Court confirmed the May verdict. The court documents also said the family should have considered the risks more thoughtfully.

Other hospitals are doing brain surgery to treat mental illness. No. 3 Hospital of the People's Liberation Army, in the city of Baoji, has performed more than 800 such surgeries, according to a doctor there. No. 463 Hospital of the People's Liberation Army, in Shenyang, says it has performed more than 2,000 surgeries since about 2001, with almost all patients reporting progress.

In the U.S., "mental-disease patients have places to go for treatment," says Jiang Keming, a surgeon at the No. 3 PLA Hospital. "But here, most patients are living out in the open and threatening the safety of society -- killing and setting fire to things. Families demand to give them the surgeries."

The Hunan Brain Hospital in Changsha, as well as the Air Force Guangzhou Hospital, perform 100 or more of the brain surgeries a year for mental illness, according to hospital staff. Doctors in China also prescribe medications for mental conditions, but cost is a limiting factor in many cases.

The first time Mr. Mi's parents noticed anything wrong with their son was in the summer of 2004, when he was 21. He had a fever for several days, then had trouble sleeping and often felt sick. He was depressed and moody, according to his mother, Ms. Kong.
That summer, he stopped going to the glass factory where his father worked and he had been an intern. The family asked several doctors for advice. Some said the young man had mental problems, without being specific, while doctors in Shanghai and Beijing reviewed his brain scans and told the father there was little to worry about.

Ms. Kong's sister, who lives in Shanghai, gave her a newspaper clipping dated July 16, 2004. The article, published in the Yangtse Evening News, carried the headline "After Seven Years, Violent Crazy Man Finally Wakes Up." It touted the benefits of a new brain surgery offered by No. 454 PLA Hospital, and detailed the success that a 22-year-old had with the surgery. It quoted Dr. Wang as saying: "You can go to school, go to work, no difference from normal people."

Ms. Kong, worried that her son's condition might get worse, thought this could help. In October 2005, the family withdrew their savings of about $3,900 from the bank. They borrowed the rest of the money needed for the surgery from family and former classmates, packing hundreds of notes in their clothing and blankets. On Oct. 9, they took the train to Nanjing.

The next morning, the parents took their son to the hospital. This was the first time the doctors had seen Mr. Mi. They asked for the payment.

A doctor handed her a diagnostic report to sign. The page-long report detailed some of his symptoms and listed her son's illness as schizophrenia. Mr. Mi's parents had never heard the term before. Among other things, the report said their son "beats and curses" his family members, "smashes things" and hears imaginary voices, according to a copy of the report.

Ms. Kong says she didn't even read the report at the time, but signed it at the request of doctors. Her signature appears on the bottom, as well as the words "The situation is factual," in her handwriting. Ms. Kong now says that the doctor who drafted the report was simply making it up, and that neither she nor her husband ever complained that their son beat them or broke things in the home.

Dr. Wang denies his staff falsified records.

Not long after Ms. Kong signed the document, nurses put her son on a gurney and strapped him down. She says she thought the nurses were taking him to do some tests. "At least they should have him hospitalized for a few days before anything. We were not prepared at all."

Dr. Wang says most families bringing a patient for the surgery ask him "to do it as quickly as possible" because the patients are difficult to control.

A medical report filed by the hospital describes how frames were fixed on Mr. Mi's head and holes drilled into his skull. Dr. Wang says he used a needle, with a tip heated to about 180 degrees Fahrenheit, and inserted it into the brain for about a minute to destroy specific areas of tissue.

At around 3 p.m., nurses wheeled the young man out of the elevator. That night, he woke up suddenly and vomited. His mother says doctors told her vomiting was normal and that the surgery had gone as planned.

Mr. Mi was also bleeding from both ears, she says. For five days, he slipped in and out of consciousness, and when he regained consciousness, his right arm was limp and his speech was fuzzy, she says.

Dr. Wang says he checked hospital records which indicated that Mr. Mi was fine when he left the hospital. But he says that the surgery "doesn't help some people."

A few months after the surgery, in February 2006 during Chinese New Year, Ms. Kong says she found her son standing on the balcony of their sixth-floor walk-up apartment, overlooking the street where craftsmen grind statuettes out of red stone. She says Mr. Mi had put power cables around his neck, and later told her that he was trying to kill himself.
In August, Mr. Mi's parents took him to No. 123 hospital to get him tested. The hospital treated Mr. Mi with oxygen and physical therapy to try to reverse the brain damage, which may have been linked to the surgery, according to a report filed by Wu Qian, a doctor in the hospital's neurology department.

"He wasn't like this before," Mr. Mi's mother says, as her son rocked in his chair at the family's home and blinked his left eye sporadically. "Before, he didn't talk much. But now, when he talks, nobody understands."

—Ellen Zhu in Shanghai contributed to this article.

Write to Nicholas Zamiska at nicholas.zamiska@wsj.com

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2009

Chung quanh chuyện website Tia Sáng bị đóng cửa

Như tôi có viết trong entry trước, website của Tạp chí Tia Sáng bị xóa sổ (mất tên miền). Dư luận xôn xao chẳng biết lí do gì dẫn đến sự kiện trên, nhưng có người cho rằng do bài báo “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” của Gs Hoàng Tụy làm cho người ta nổi giận. Để biết thêm câu chuyện, các bạn có thể đọc lá thư dưới đây của Gs Hoàng Tụy (công bố trên Diễn Đàn).

Trong thư Gs Hoàng Tụy có nói đến một số đoạn bị Tia Sáng cắt bỏ. Những đoạn bị cắt rất thẳng thắn. Cụ thể, những đoạn đó là:

"Sự sa sút của giáo dục có nguyên nhân khách quan: do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.

Có nghĩa sự sa sút của giáo dục không thể đổ cho khách quan, do đất nước nghèo, đầu tư không đủ, do trình độ non yếu của thầy cô giáo, do ý thức người dân lạc hậu, do phụ huynh cũng là “đồng tác giả” của nhiều sai lầm yếu kém của giáo dục, v.v. Đương nhiên tất cả những nguyên nhân này đều đúng. Song muốn lay chuyển tình hình phải thừa nhận nguyên nhân chủ yếu, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, đó là lãnh đạo, quản lý bất cập, bất cập cả tâm lẫn tầm và từ trên xuống dưới.

Giờ là lúc cần trung thực nhìn thẳng vào sự thật. Đó là lương tâm, là trách nhiệm chẳng những đối với xã hội hiện tại mà còn đối với lịch sử, đối với nhiều thế hệ mai sau. Những ai thường hô hào học sinh trung thực xin trước hết hãy tỏ rõ sự trung thực ở đây, trong việc này.

Những “đổi mới” trong các đề án công tác của ngành giáo dục, giỏi lắm cũng chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử chiến lược này được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020 Việt Nam cũng chỉ có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.

Những “đổi mới” như thế kia giỏi lắm cũng chỉ cho ta một nền giáo dục tốt theo chuẩn mực… nửa thế kỷ 20, chứ không thể biến nó thành một nền giáo dục hiện đại ở thế kỷ 21. Cứ xem bản chiến lược giáo dục 2009-2020 thì rõ: ví thử chiến lược này được thực hiện đầy đủ (điều khó thể), thì đến 2020 Việt Nam cũng chỉ có một nền giáo dục kiểu 1950, lạc hậu, còn xa mới hòa nhập được vào nền văn minh thời đại.

Quan điểm coi thường lợi ích của xã hội thể hiện trong nhiều chủ trương giáo dục mà nếu mô tả là “ngoan cố” có lẽ cũng không sai lắm. Về hàng loạt vấn đề quan trọng như quy chế công nhận, bổ nhiệm GS, PGS, quy chế tổ chức Hội Đồng Giáo Dục Quốc Gia, chuyện biên soạn, xuât bản và phát hành sách giáo khoa, chuyện thi cử, đào tạo Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, v.v… đã có biết bao đề xuất hợp lý bị bỏ ngoài tai, phải chờ đợi đến cả chục năm trời hay hơn mới được nghiên cứu để tiếp thu. Có người khen Bộ GD-ĐT “trơ như đá, vững như đồng”, nhưng dù bậc trí lự cao siêu cũng không thể luôn luôn sáng suốt. Huống chi, nhìn vào bảng chi tiêu của ngành giáo dục thấy quá nhiều khoản chi lớn để “nâng cấp năng lực quản lý”, cử cán bộ đi tham quan, học tập kinh nghiệm ở các nước, chứng tỏ điều ngược lại có lẽ đúng hơn.

Đáng lo là ở nước ta có quá nhiều vị được giao nhiệm vụ rồi mới học việc, có khi học việc chưa xong chỗ này đã chuyển sang học việc chỗ khác quan trọng hơn, rốt cuộc biến mỗi ngành công tác thành một phòng thí nghiệm đồ sộ, một nơi thực tập, học việc cực kỳ tốn kém cho xã hội."

Tôi không có bình luận gì thêm. Nhưng tôi thấy nếu chỉ vì một bài viết phê phán hay phản biện chí tình chí nghĩa như thế mà làm cho ai đó bực bội thì thật là khó hiểu. Trong lá thư này, Gs Tụy có nói đến “quan Thượng” mà tôi đoán là “Thượng thư” (= bộ trưởng), nhưng chẳng biết bộ trưởng nào. :-) Tôi chợt nhớ đến lời nói của một biên tập viên trẻ của Tia Sáng nói rằng Bộ trưởng Bộ GDĐT và Bộ KHCN là hai người thường xuyên đọc Tia Sáng, hầu như không sót một số nào, và họ cũng rất thích những bài phản biện đăng trên tạp chí. Do đó, tôi rất khó mà nghĩ rằng hai “quan Thượng” này đã làm khó Tia Sáng, mà rất có thể là một quan khác.

Nhưng có lẽ chuyện đoán mò đó chẳng đem lại lợi ích gì khi Tia Sáng đã biến mất trong không gian cyber. Vấn đề là được đối thoại như Gs Hoàng Tụy viết trong đoạn cuối của bài viết: “Trong giáo dục, khoa học có những vấn đề mà tranh luận cả ngày cũng không kết luận nổi, nếu vốn hiểu biết và vốn văn hóa phổ quát quá khác nhau. Cho nên cần, rất cần chờ đợi và lắng nghe nhau, song trước hết phải được thẳng thắn trao đổi ý kiến.”

NVT

====

http://www.diendan.org/viet-nam/hoang-tuy-thu

LTS. Đáp lại lời thăm hỏi của bạn bè trong và ngoài nước trước thông tin về việc báo mạng Tia Sáng bị đình bản vì đã đăng bài "Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng" của ông, giáo sư Hoàng Tuỵ đã gửi một lá thư chung tới nhiều người, và cho phép Diễn Đàn đăng lại nó để thông tin được phổ biến rộng rãi hơn.

Thưa các anh, chị

Sau khi báo Tia Sáng đăng bài “Giáo dục: xin cho tôi nói thẳng” của tôi, nghe nói (nhưng tôi không có điều kiện kiểm chứng) có một vị rất bực tức, chỉ thị ngay cho thuộc cấp phải "phản pháo" ! Việc báo mạng Tia Sáng bị đình bản vì bài báo của tôi (hay nhân cớ bài đó, việc này cũng khó kiểm chứng) chắc có liên quan đến lệnh “phản pháo” của quan Thượng nọ. Cũng may là khi đăng bài của tôi Tia Sáng đã cẩn thận, bỏ bớt một đoạn ngắn, nếu không thì chắc còn lãnh án nặng hơn.

Tiếp theo, Bộ GD đăng lên website của Bộ bài viết của Koblitz, có lẽ cũng với mục đích "phản pháo" ấy. Lãnh đạo Bộ lại gửi thẳng bài đó cho tôi, đề nghị tôi “tham khảo”, không biết rằng chính Koblitz đã gửi bài đó cho anh em ở Viện Toán chúng tôi từ trước. Tôi và Koblitz là bạn tốt của nhau từ lâu, nhưng chính tôi cũng chưa hiểu rõ Koblitz định nói gì qua bài này. Chẳng hạn Koblitz phản đối kịch liệt việc xem tư nhân hóa giáo dục bừa bãi như hiện nay Bộ GD đang làm là giải pháp cứu giáo dục và coi đó là một quan niệm sai lầm của tôi, nhưng tôi chắc chắn Koblitz biết đó là một chủ trương “chiến lược” của Bộ GD mà xưa nay tôi vẫn chống quyết liệt (hậu quả của chiến lược này, như mọi người đã thấy, là tràn lan các "đại học Phan Thiết " mà vừa qua Bộ GD sau khi kiểm tra vẫn một mực xác nhận là "đủ điều kiện để cho tiếp tục hoat động"). Koblitz cũng phản đối việc VN trả tiền toàn bộ để nhập khẩu nguyên xi một đại học Mỹ hoàn toàn ("through and through") và gán cho tôi ý kiến đó, chứ anh ấy chắc thừa hiểu trong bài "Năm mới, chuyện cũ" của tôi (được dịch và dẫn ra trong báo cáo Harvard) hoàn toàn không có ý đó, và cũng thừa biết rằng đó chính là nội dung một đề nghị chính thức của Bộ GD với Đại sứ Mỹ cách đây không lâu.

Vì tình bạn lâu năm với tôi, có lẽ Koblitz nghĩ rằng muốn phản đối một ý kiến sai lầm nào đó của lãnh đạo Bộ giáo duc, cách hiệu quả nhất là gán ý kiến đó cho tôi (người đọc sẽ hiểu rằng vì chúng tôi là bạn, hơn nữa là bạn lâu năm, nên sẽ chẳng có ai nghi ngờ gì thiện chí của Koblitz đối với lãnh đạo Bộ hay đối với tôi).

Thưa các bạn, tôi quá mệt mỏi rồi, tuổi đã vượt xa cái hạn "xưa nay hiếm", hơn nữa từ hơn năm nay sức khỏe suy sụp. Ngoài việc chuyên môn vốn đã bận tôi phải dành khá lớn thời gian và tâm trí lo nghĩ về giáo dục nước nhà mà xem ra chỉ làm cho nhiều người tốt bị liên luỵ. Vậy xin các bạn thông cảm và lượng thứ nếu thấy tôi “im lặng đáng sợ" trong thời gian tới. Xin nhường lại công việc cho các bạn tâm huyết với nước nhà và chia sẻ với tôi niềm tin: trong nhiều vấn đề nội bộ hệ trọng của đất nước, trước mắt không có vấn đề nào hệ trọng hơn giáo dục.

Hoàng Tụy

Hiệu quả của phẫu thuật động kinh

Mấy tuần gần đây, báo chí có những tin trái ngược nhau về việc điều trị bệnh động kinh bằng phẫu thuật do Bs Phạm Tỵ (Bệnh viện Bình Định) thực hiện. Báo Tuổi Trẻ đi một bài với tựa đề "Mổ não chữa động kinh ở bệnh viện đa khoa Bình Định: Có phải “ngang ngửa với thế giới?” với nội dung cho rằng phẫu thuật chẳng những không có hiệu quả mà còn “tiền mất tật mang”, với những hình ảnh cảm tính. Tuổi Trẻ trích dẫn ý kiến của một “giáo sư đầu ngành về ngoại thần kinh” cho rằng “Xu thế trên thế giới là không mổ vì không cần thiết, hiệu quả thấp, kết quả không như mong muốn”. Một giáo sư khác thì cho rằng phẫu thuật là một trong những phương pháp điều trị, nhưng khả năng thành công rất thấp. Ngược lại, Thanh Niên và bee.net đưa tin cho thấy phẫu thuật do Bs Tỵ thực hiện có hiệu quả khá tốt. Bài báo trên tờ Thanh Niên tường thuật lại báo cáo của Bs Tỵ rằng tỉ lệ thành công trong điều trị đạt 65% đến 75%, với 7 ca biến chứng và 3 ca tử vong sau mổ. Bee.net đưa trường hợp của con gái của cựu thủ tướng Phan Văn Khải được Bs Tỵ điều trị thành công.

Nhưng hình như giới chuyên môn vẫn chưa hài lòng với những dữ liệu được trình bày trong 3 bài báo, do thiếu tính khách quan và hệ thống. Thật vậy, nhìn qua các nghiên cứu khoa học của Hội thần kinh không thấy một nghiên cứu nào về hiệu quả của điều trị bệnh động kinh.

Tôi là người “ngoại đạo”, chẳng dính dáng gì đến thần kinh học, nên chỉ lắng nghe đôi bên. Tôi có một anh bạn là chuyên gia phẫu thuật thần kinh ở Bv Liverpool, nên tôi email hỏi xin một số bài báo quan trọng để tìm hiểu thêm. Anh ta email cho gần 100 bài, làm sao tôi đọc hết được, nên chỉ chọn ra vài bài trên các tập san quan trọng và đọc cho biết. Tôi chú ý đến 3 câu hỏi mà tôi tự đặt ra: bệnh nhân nào được chỉ định điều trị bằng phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật là gì, và hiệu quả ra sao. Sau đây là những gì tôi thấy trong các công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến 3 câu hỏi đó.

Đối tượng điều trị bằng phẫu thuật

Đọc qua các nghiên cứu trong quá khứ (rất nhiều) tôi thấy những bệnh nhân thường được điều trị bằng phẫu thuật là: sơ cứng chân hải mã (hippocampal sclerosis), động kinh vô căn (intractable epilepsy), động kinh chống kháng (refractory epilepsy), và động kinh thùy thái dương (temporal lobe epilepsy).

Theo một chuyên gia ở Úc thì không phải bệnh nhân động kinh vô căn nào cũng chỉ định cho phẫu thuật, mà điều kiện tiên quyết phải là xác định chính xác địa điểm seizure có thể cắt bỏ một cách an toàn. Phương pháp xác định thường là MRI.

Phương pháp phẫu thuật

Giới phẩu thuật bệnh động kinh chia các phương pháp phẫu thuật thành 2 nhóm: nhóm điều trị (curative procedures) và nhóm giảm nhẹ (palliative procedures). Nhóm điều trị bao gồm các phương pháp như lesion resection (cắt khối u), temporal lobectomy (cắt bỏ thùy thái dương), hemispherectomy (mở bán cầu, hay cắt bán cầu não) , v.v… Nhóm điều trị giảm nhẹ bệnh bao gồm các phương pháp như mở bán cầu và callosotomy (cắt bán cầu não). Mục tiêu của phẫu thuật điều trị là khôi phục cuộc sống bình thường cho bệnh nhân, hay hay hơn nữa là “giải phóng” bệnh nhân khỏi phụ thuộc vào thuốc. Mục tiêu của phương pháp giảm nhẹ, như tên gọi ám chỉ, là nhằm ngăn ngừa hay giảm tính nghiêm trọng của các cơn động kinh cho bệnh nhân.

Hiệu quả

Đã có rất nhiều nghiên cứu về hiệu quả của phẫu thuật điều trị động kinh trên thế giới, nhưng phần lớn những nghiên cứu này thường dừng lại ở mức độ quan sát hơn là so sánh hai thuật can thiệp. Tôi có thể kể ra một số nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhất (trong ngành phẫu thuật động kinh) do nhóm bác sĩ Canada thực hiện. Trong nghiên cứu này họ có 80 bệnh nhân động kinh thùy thái dương, chia thành 2 nhóm: nhóm chứng gồm 40 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc, và nhóm phẫu thuật được điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ thùy thái dương. Sau 1 năm theo dõi, 58% bệnh nhân trong nhóm phẫu thuật không bị lên cơn, so với chỉ 8% trong nhóm uống thuốc. Nhóm bệnh nhân được phẫu thuật cũng có chất lượng cuộc sống (quality of life) tốt hơn nhóm dùng thuốc. Có 4 bệnh nhân trong nhóm phẫu thuật có biến chứng, nhưng không ai tử vong; còn nhóm uống thuốc có 1 người tử vong. Họ kết luận rằng phẫu thuật cắt bỏ thùy thái dương có hiệu quả hơn hẳn nhóm uống thuốc (Wiebe S. et al. A Randomized, Controlled Trial of Surgery for Temporal-Lobe Epilepsy. NEJM 2001; 345:311-318).

Một công trình phân tích tổng hợp 24 nghiên cứu trong quá khứ, với 1952 bệnh nhân được điều trị từ 1990 đến 2001. Kết quả phân tích cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật (nhiều phương pháp, nhưng chủ yếu là cắt bỏ thùy thái dương) có tỉ lệ hết cơn động kinh khoảng 67% sau hơn 1 năm điều trị. Kết quả này cũng tương đương với một nghiên cứu ỏ Đại học Yale trên 396 bệnh nhân và tỉ lệ thành công là 66%.

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên dựa vào tỉ lệ thành công trong một thời gian ngắn (dưới 2 năm sau giải phẫu), và câu hỏi đặt ra là hiệu quả về lâu về dài ra sao? Một nghiên cứu trên 27 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp cắt bỏ thùy thái dương cho thấy sau 10 năm tỉ lệ thành công (tức không còn bị lên cơn động kinh) là 56%. Có một điều thú vị là có vài bệnh nhân sau 2 năm không bị lên cơn, nhưng đến năm thứ 10 thì triệu chứng lên cơn tái phát. Một phân tích tổng hợp công bố vào năm 2005 cũng cho thấy tỉ lệ thành công trong 10 năm sau phẫu thuật là 57%.

Phẫu thuật có giảm nguy cơ tử vong? Một nghiên cứu theo dõi 139 bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật và 139 bệnh nhân được điều trị bằng thuốc cho ra kết quả như sau: sau 25 năm theo dõi, tỉ lệ tử vong trong nhóm phẫu thuật thấp hơn nhóm dùng thuốc đến 40% (risk ratio: 0.6, 95% CI: 0.4 – 1.1). Nghiên cứu này còn cho thấy tỉ lệ bệnh nhân không còn lên cơn (sau 2 năm) trong nhóm phẫu thuật là 52%, cao hơn 7 lần so với nhóm dùng thuốc (tỉ lệ 7%).

Vài nhận xét

Những dữ liệu từ các công trình nghiên cứu trên thế giới mà tôi trình bày trên đây cho thấy phẫu thuật là một phương pháp điều trị được áp dụng khá phổ biến cho bệnh nhân động kinh. Thật ra, điều trị động kinh bằng phẫu thuật không mới, vì ngay từ những năm trong thập niên 1920s (hay trước đó) một số nước Âu châu đã áp dụng phương pháp này, và ngay lúc đó tỉ lệ tử vong cũng được ghi nhận tốt hơn là không điều trị, nhưng vẫn cao hơn tỉ lệ trong cộng đồng.

Về hiệu quả điều trị bằng phẫu thuật, hầu như tất cả các báo cáo nghiên cứu tôi đọc qua (chắc chắn chưa đủ) đều cho thấy phẫu thuật có hiệu quả giảm cơn động kinh, thậm chí giảm nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, hiệu quả của giảm cơn động kinh (seizure-free) thay đổi theo thời gian. Trong vòng 2 năm đầu, tỉ lệ giảm cơn động kinh dao động trong khoảng 60 đến 70%, nhưng sau 10 năm tỉ lệ này còn khoảng 52%. Một điều đáng khích lệ là phẫu thuật giảm nguy cơ tử vong.

Tuy nhiên, hiệu quả của phẫu thuật tùy thuộc vào việc chọn đúng bệnh nhân. Phần lớn những bệnh nhân được điều trị có hiệu quả là những người mắc chứng động kinh vô căn, động kinh chống kháng, và động kinh thùy thái dương. Các chuyên gia nhấn mạnh đến việc xác định bệnh trạng bằng MRI và EEG rất kĩ để đảm bảo kết quả tốt sau khi giải phẫu.

Quay lại trường hợp tranh luận chung quanh phương pháp của Bs Phạm Tỵ,tôi thấy nếu quả thật tỉ lệ thành công đạt 65% đến 75% thì cũng rất phù hợp với y văn mà tôi vừa điểm qua. Tuy nhiên, tôi không rõ đây là tỉ lệ sau 2 năm hay 10 năm sau giải phẫu. Cũng không rõ tiêu chuẩn để định nghĩa “thành công” là gì, và phương pháp đánh giá thành công hay không thành công ra sao. Ngoài ra, các bài báo cũng không cho biết phương pháp của Bs Tỵ là gì và bệnh nhân thuộc vào nhóm nào. Nhưng có lẽ vì bài báo phổ thông nên phóng viên và Bs Tỵ chưa cung cấp những thông tin khoa học này. Tôi nghĩ Bs Tỵ còn lưu giữ hồ sơ và dữ liệu bệnh nhân mà ông đã điều trị nên việc đánh giá có lẽ cũng không khó khăn, dù phải tốn thì giờ.

Không bác sĩ có lương tâm nào muốn hại bệnh nhân. Bs Phạm Tỵ (cũng như bất cứ chuyên gia nào) chắc chắn phải là người tin vào phương pháp của mình đem lại lợi ích cho bệnh nhân. Trong thực tế cũng đã có nhiều bệnh nhân được điều trị thành công, nhưng cũng có một số chưa được điều trị thành công. Vấn đề đặt ra là có phải những thành công và chưa thành công đó là do may mắn (hay yếu tố ngẫu nhiên) hay do ảnh hưởng của phương pháp điều trị? Để có câu trả lời cho câu hỏi rất quan trọng này, chúng ta cần thêm dữ liệu khoa học để đánh giá một cách công bằng và khách quan phương pháp điều trị của Bs Phạm Tỵ.

Tất cả những ý kiến và nhận xét của các chuyên gia, dù là “chuyên gia đầu ngành”, vẫn chịu chi phối bởi các yếu tố chủ quan và đôi khi cảm tính. Nhưng như nói trên, hiện nay ở VN chưa có dữ liệu khoa học (do thiếu nghiên cứu khoa học), nên rất khó để kết luận và đánh giá phương pháp điều trị của Bs Phạm Tỵ (hay bất cứ phương pháp nào của các bác sĩ khác).

Tôi nghĩ có một cách để đánh giá hiệu quả của phương pháp của Bs Phạm Tỵ là bằng cách tiến hành một nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (như nhóm bác sĩ Canada) đã làm. Tuy nhiên, trong tình trạng còn nhiều bất định, nếu làm một nghiên cứu như thế, tôi nghĩ không nên làm theo mô hình của nhóm Canada, mà làm theo mô hình khác (như Bayes chẳng hạn) để hạn chế tối đa những tổn hại cho bệnh nhân. Nói chung, phương pháp điều trị nào cũng có lợi ích và tác hại; vấn đề, do đó, là cần có một phương pháp mà lợi ích nhiều hơn tác hại, và chỉ có nghiên cứu khoa học mới giải quyết được vấn đề này.

Tài liệu tham khảo:

Nếu các bạn cần, có thể liên lạc tôi để có những bài báo mà tôi đề cập trong bài viết này.

NVT


Ghi thêm:

Hôm nay 3/11 đọc báo thấy câu chuyện đã được “sang số” sang vấn đề schizophrenia (tâm thần hoang tưởng). Bài báo viết “Ngày 1-11, nguồn tin từ Bộ Y tế cho hay sau phiên họp hội đồng khoa học của Bộ Y tế do ông Nguyễn Tiến Bình - giám đốc Học viện Quân y - làm chủ tịch về việc có hay không cho phép thực hiện trở lại phẫu thuật điều trị tâm thần phân liệt và động kinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định, hội đồng đã kết luận hiện chưa đủ các chứng cứ khoa học để có thể kết luận ngay.”

Chẳng cần phải lập hội đồng khoa học chi cho tốn công và tốn thì giờ, mà chỉ cần ra lệnh ngưng phẫu thuật điều trị schizophrenia. Bây giờ trên thế giới chẳng ai điều trị bệnh này bằng phẫu thuật. Theo ước tính ở Thụy Điển chỉ có khoảng 5 trường hợp schizophrenia đặc biệt được điều trị bằng phẫu thuật. Còn nhớ năm 1949 giải Nobel được trao cho một bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Bồ Đào Nha (Antonio Moniz) do công trình phẫu thuật thùy não trong việc điều trị chứng loạn thần kinh (psychotic), kể cả schizophrenia. Trước phẫu thuật, bệnh nhân phải chịu nhiều cực hình như “nhốt” trong một lồng sắt, tắm bằng nước lạnh, rồi mới đến giải phẫu và giật điện. Khi thuốc được dùng để chữa trị thì phẫu thuật này đã trở thành một phương pháp của quá khứ. Ngày nay phẫu thuật thùy não được xem là một phẫu thuật vi phạm y đức. Giải Nobel được trao cho Moniz ngày nay được xem là một sai lầm, nhưng lúc đó thì phương pháp phẫu thuật được xem là một đột phá.

Nhưng tại sao cấm giải phẫu động kinh chỉ vì “kỹ thuật chưa từng được thực hiện tại VN”?

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

Ngôn ngữ ngậm ngùi

Mấy hôm trước tôi đọc được bài dưới đây của tác giả Lê Hữu viết về những từ ngữ sử dụng trước và sau 1975. Bài viết rất thú vị và hay. Qua bài này, tôi cũng phải để ý những từ ngữ mình hay dùng rất có thể không chính xác. Tôi "chôm" bài này từ website damau.org về đây (vì sợ sau này khó tìm bài). Xin giới thiệu cùng các bạn.
NVT

===

http://damau.org/archives/9635

Ngôn ngữ ngậm ngùi -- phần I

Lê Hữu

“Tiếng nước tôi,bốn ngàn năm ròng rã buồn vui”
(Tình ca, Phạm Duy)

Một người bạn, qua Mỹ năm 1975, kể với tôi rằng, thành phố gia đình anh định cư trong năm đầu có rất ít người Á châu. Mỗi lần thoáng trông thấy một cái “đầu đen” nào là anh ta chạy ngay đến để xem thử có phải là người Việt không. Một hôm, trên đường phố, bất chợt anh ta nghe một tiếng nói quen thuộc cất lên. Tiếng Việt Nam. “Một cái đầu đen,” anh ta la lên, chạy bay đến trước mặt người đàn ông vừa thốt ra thứ tiếng ấy, nắm chặt hai vai, lắc lắc: “Việt Nam à? Tôi cũng Việt Nam đây!” (Anh ta không nói “tôi cũng là người Việt Nam đây!”). Người đàn ông cũng tỏ ra vui sướng không kém. Hai người quấn lấy nhau, tíu ta tíu tít như hai người bạn thân lâu ngày gặp lại và cùng tuôn ra một tràng tiếng Việt, mặc cho những người bản xứ đi qua đi lại nhìn chằm chằm hai người, ngạc nhiên vì một thứ ngôn ngữ “lạ tai”. Nỗi khát khao bị dồn nén lâu ngày, vỡ ra, ùa ra. Anh bạn tôi không cần biết người đàn ông nói tiếng Việt kia là ai, ở đâu ra, vì sao lại có mặt nơi đây(?). Không cần biết, chỉ cần… nói tiếng Việt. Thế là đủ.

Anh bạn tôi thèm được nghe, thèm được nói thứ ngôn ngữ ấy, cái mà anh ta thiếu thốn, khao khát đã lâu. Anh ta đi tìm chút “quê hương trong tiếng nói”. Cái cảm xúc ấy chỉ đến với anh ta một, hai lần sau đó, và không bao giờ trở lại nữa. Nơi anh ta sống bây giờ có khá đông người Việt, có khá nhiều “đầu đen”. “Người Việt ‘phức tạp’ quá!” anh ta nói, nhún vai.

Đấy là chuyện của anh bạn tôi. Chuyện của tôi thì có hơi khác một chút. Năm đầu đến Mỹ, tôi có cái vui gặp lại những người bạn cũ. Một ông bạn, sau ít câu thăm hỏi chuyện gia đình, hỏi tôi:

“Con trai ông tên gì?”

“Hữu Nghị.”

“Bộ hết tên rồi hay sao mà đặt cái tên gì ghê vậy?”

“Ông nói ‘ghê’ là ghê làm sao?” tôi hỏi.

“Thì ‘từ Việt cộng’ chứ còn ‘làm sao’ nữa,” người bạn phang một câu xanh rờn.

Từ VC! Không phải là lần đầu tôi nghe cái “từ” 1 này, bèn có một sự phản kháng:

“Thứ nhất, ông muốn tôi đặt tên gì khác bây giờ? Cả nhà tôi, mấy anh em trai đều là Lê Hữu… gì gì đó, Phước, Lộc, Tài, Đức…, đến đời thằng con tôi thì cũng phải cho nó cái ‘Hữu…’ gì chứ! Thứ hai, tôi đã plan cái tên ấy từ trước năm 75, vì muốn thằng con đi về… ngành ngoại giao. Việt cộng đâu có phải là người ‘phát minh’ ra cái chữ ấy, và cũng đâu có ‘độc quyền’ cái chữ ấy. Tiếng Việt là tài sản chung của người Việt mà.”

Người bạn nín thinh, cũng không tỏ dấu hiệu nào là có “nhất trí” 1 hay không.

“Hữu Nghị”, cái tên ấy, hai chữ ấy (và những chữ khác nữa) tự nó không có lỗi gì cả. Vậy mà tội nghiệp, nó đã bị ghét bỏ một cách oan uổng, chỉ vì… “ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”. Tâm lý này khá phổ biến và có thể hiểu được. Ghét người nào là ghét cả cái nhà cái xe, cái chăn cái chiếu, con chó con mèo… của người ấy. Nhiều người cảm thấy “ghét” chữ này chỉ vì thường đọc/nghe trên “báo, đài” 1 nào là “Tình hữu nghị thắm thiết môi hở răng lạnh”, nào là “Chúc cho tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước đời đời bền vững, mãi mãi xanh tươi”… vân vân và vân vân. Nghe mà dễ… ghét.

1. Tiếng Việt trong nước

Ông bạn tôi (và khá nhiều người như thế) chỉ suy nghĩ đơn giản, hoặc chỉ lập lại những gì ông ta nghe người khác nói, thành thử nhiều khi nói mà… không biết mình nói cái gì.

Sau này, mỗi khi bị “truy chụp” 1 là dùng “từ Việt cộng”, tôi tìm được cách giải thích khác, gọn hơn: “Ông thử lật tự điển tiếng Việt trước năm 75 của miền Nam ra xem, nếu có chữ này thì ông không thể gọi là ‘từ VC’ được.”

Tuy nhiên, lời giải thích ấy không phải lúc nào cũng “có sức thuyết phục” 1, lắm người không cần biết chữ ấy có hay không có trong tự điển “phe ta”, hễ tiếng nào “đối phương” sính dùng (nhất là dùng không đúng, nghe chướng tai, hoặc có vẻ “đao to búa lớn”) thảy đều là… “từ VC”. Những đối tượng ấy kể cũng hơi… khó nói chuyện (ngày trước gọi là “không có tinh thần đối thoại”).

Tội nghiệp cho những con chữ ấy, nằm yên ổn trong những trang sách tự điển từ bao nhiêu năm, nay bỗng nhiên bị nắm đầu lôi cổ ra tố khổ một cách oan uổng, như là những kẻ… nằm vùng. Vai trò của chữ nghĩa xưa nay vốn độc lập, không nghiêng bên này ngả bên kia, vậy mà nay lại bị gọi lên “làm việc” 1, tra vặn: “Anh theo bên nào?”

Những từ ngữ Hán-Việt như “hữu nghị”, “khẩn trương”, “tranh thủ”, “động viên”… không mới mẻ, lạ lùng gì với người dân miền Nam trước năm 1975. Nếu có khác là khác về cách diễn nghĩa và cách sử dụng. Ở miền Nam ngày trước ta vẫn nghe: “Thủ tướng chính phủ vừa ký quyết định ban hành tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ…”, hoặc “Tranh thủ nhân tâm (hay ‘tranh thủ sự ủng hộ của dư luận thế giới’ / ‘tranh thủ một nền hòa bình công chính’) là một trong những mục tiêu hàng đầu của công tác đấu tranh chính trị”, hoặc “Phái đoàn đến thăm viếng ủy lạo và động viên tinh thần binh sĩ”.

“Nhân dân cách mạng Việt Nam vùng đứng lên cùng thế giới

Vai chen vai bên nhau mưu cuộc giải phóng giống nòi…”

Những câu hát ấy ở trong bài “Nhân dân cách mạng Việt Nam”, nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác ở trong Nam, cho thấy những từ ngữ “nhân dân”, “giải phóng”… không phải là “độc quyền” của người Việt ngoài Bắc.

Nói đi thì cũng nói lại, hai chữ “đồng bào” không phải là “độc quyền” của người Việt trong Nam. “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” người Việt ngoài Bắc từng nghe câu ấy cách nay hơn sáu mươi năm. Vì sao người ta không chịu xài hai tiếng “thân thương” 1 đầy… “tình ruột thịt nghĩa đồng bào” ấy nữa lại là… chuyện khác.

Dẫn ra các ví dụ trên để thấy rằng tiếng Việt là của người Việt, không có Bắc Trung Nam chi cả, và chỉ vì duyên cớ nào đó mà đem lòng oán ghét những “từ” này “từ” nọ thì kể cũng bất công và tội tình cho chữ nghĩa. Hãy trả ngôn ngữ về vị trí độc lập như nó đã từng.

Trong phạm vi bài này, để cho dễ gọi (và để không phải lặp lại nhiều lần “trước/sau năm 1975”), xin được tạm dùng những “cụm từ” 1 sau:

- “Tiếng Việt trong nước”: tiếng Việt được sử dụng trong cả nước hiện nay.

- “Tiếng Việt ngoài nước”: tiếng Việt được người Việt định cư ở nước ngoài (trước và sau năm
1975) sử dụng.

- “Tiếng Việt cũ”: cách nói hoặc từ ngữ được sử dụng ở miền Nam trước năm 1975.

- “Tiếng Việt mới”: cách nói hoặc từ ngữ thay cho “tiếng Việt cũ”, được sử dụng ở trong nước
hiện nay.

- “Miền Nam thuở trước”: miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Những cách gọi này có tính cách tương đối, giai đoạn (do những biến động của lịch sử), và chỉ sử dụng trong phạm vi bài này.

Từ đây trở đi, trong bài sẽ không có những chữ nghĩa như “từ VC”, “tiếng Saigon”… hoặc những phê phán kiểu “xưởng đẻ”, “chiến sĩ gái”, “Công ty chất đốt thanh niên”, “Cửa hàng thịt tươi sống phụ nữ”… ngụ ý cười nhạo sự quê mùa của người sử dụng ngôn ngữ. Quê mùa không phải là cái tội, chỉ là sự thua thiệt do không có may mắn được đến trường đến lớp để “tiếp thu” 1 những kiểu cách văn minh lịch sự. Theo đà tiến hóa, chắc chắn là những cách nói ấy sẽ không tồn tại. Ông cha ta ngày xưa ít được học hành đến nơi đến chốn, hầu hết đều đi từ “chân quê” đến văn minh thành thị. Có người Việt nào lò dò đặt chân đến nước Mỹ lần đầu mà không… ngáo ngáo, chỉ khác là không bị người bản xứ cười nhạo (và chỉ ít lâu sau đó là bắt đầu có sự phân biệt kẻ đến trước, người đến sau, trong lúc đều cùng một thân phận tha hương, ăn nhờ ở đậu, không lấy gì làm vẻ vang).

Ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc, chắc không ai phủ nhận điều này. Ngôn ngữ là sản phẩm của con người, chứ không… làm nên con người. Tiếng Việt cũng không ra khỏi lẽ ấy. Tiếng Việt dùng chung cho cả nước. “Người phát minh” ra tiếng Việt không hề có ý định cấp giấy phép cho “bên” nào đặc quyền sử dụng; vì vậy, thiết tưởng ta cũng không nên làm cho tiếng Việt–ngôn ngữ của nước ta–trở nên “phức tạp” 1.

Nếu ta có thể “nhất trí” được với nhau, tiếng Việt là những “tiếng” được ghi lại trong các bộ tự điển tiếng Việt của cả miền Bắc lẫn miền Nam thuở trước (tất nhiên những bộ tự điển này luôn cần được bổ sung) thì không có chữ nào, tiếng nào là độc quyền của “bên” nào. Bên nào xài cũng được, miễn là chịu khó xài cho đúng.

1.1. Chữ và nghĩa

Ngôn ngữ tự nó không có lỗi gì cả. Hoặc nếu có, chỉ là ở nơi người sử dụng chúng. Thế nhưng, như thế nào gọi là “lỗi”? Có thể kể ra một ít ví dụ về cách dùng từ ngữ và những cách nói cần được điều chỉnh sao cho hợp lý.

- Biểu diễn: Thay vì nói “Ca sĩ L.T. đã biểu diễn những ca khúc gắn liền với tên tuổi chị”, nói “Ca sĩ L.T. đã trình diễn những ca khúc gắn liền với tên tuổi chị”.

Ta không nói biểu diễn một bài hát, nhất là khi ca sĩ đứng yên một chỗ mà hát, không múa may nhảy nhót.

- Chúc sức khỏe: Thay vì nói “Chúc sức khỏe!” hoặc “Chúc sức khỏe anh chị!”, nói “Chúc khỏe!” hoặc “Chúc anh chị khỏe!” hoặc “Chúc anh chị nhiều sức khỏe!”

Nói “Chúc sức khỏe!” là không đủ ý (và chưa thành câu chúc), mà phải là “Chúc sức khỏe… (như thế nào?)”, chẳng hạn “Chúc sức khỏe tốt / dồi dào!” Hoặc, có thể nói “Chúc khỏe!”, “Chúc khỏe nhé!” (tương tự “Chúc vui!”, “Chúc thọ!”, “Chúc may mắn!”….).

- Chuyên môn: Thay vì nói “Cô Nga là giáo viên phụ trách chuyên môn”, nói “Cô Nga là giáo viên phụ trách về biên soạn tài liệu giáo khoa” (hoặc “… về hướng dẫn sư phạm”, hoặc “… về sinh hoạt học đường”, hoặc “… về sổ sách kế toán”).

Nói “phụ trách chuyên môn” là không đủ ý, vì có cả trăm thứ “chuyên môn”, người nghe không rõ là “chuyên môn” về… cái gì(?).

- Quá trình: Thay vì nói “Xin nói sơ qua về quá trình thực hiện một bộ phim”, nói “Xin nói sơ qua về tiến trình thực hiện một bộ phim”.

Nói “quá trình” là nói về trình tự của một diễn tiến đã kết thúc. Ví dụ: “Đơn xin việc cần ghi rõ quá trình học vấn”, hoặc: “Sau mười năm, nhìn lại quá trình hoạt động của trường”.

- Tản mạn: Thay vì nói “Tản mạn về tiếng Việt”, nói “Chuyện trò tản mạn về tiếng Việt”, hoặc “Mạn đàm về tiếng Việt”.

Nói “tản mạn về…” là không đúng nghĩa. Tản mạn (tính từ) chỉ có nghĩa tương tự “lan man”, “rải rác”, “tản mác”…, chứ không có nghĩa là “mạn đàm”, “phiếm luận”, “trò chuyện” (động từ)…

- Trao đổi: Thay vì nói “Sau khi trao đổi, chúng tôi hiểu nhau hơn”, nói “Sau khi trao đổi ý kiến, chúng tôi hiểu nhau hơn”.

Nói “trao đổi” là không đủ ý, mà cần nói “trao đổi”… cái gì(?), ví dụ: “trao đổi ý kiến / kinh nghiệm / quan niệm / hàng hóa / tù binh”…

- Trình độ văn hóa: Thay vì nói “Trình độ văn hóa: lớp 12”, nói “Trình độ học vấn: lớp 12”.

Muốn hỏi về quá trình học vấn hay bằng cấp của một người, câu hỏi là: “Trình độ học vấn?”.

- Tư liệu: Thay vì nói “Có thể tham khảo thêm các tư liệu về đề tài này ở các thư viện”, nói “Có thể tham khảo thêm các tài liệu về đề tài này ở các thư viện”.

“Tư liệu” là tài liệu riêng thuộc quyền sở hữu của cá nhân, gia đình, tổ chức…, không phổ biến đại chúng.

Những từ ngữ và những cách nói trên khá thông dụng ở trong nước và cả ở ngoài nước. Ngoài ra, có ít từ ngữ “mới” mà ý nghĩa và cách dùng chưa thống nhất, rõ ràng. “Dân oan”, chẳng hạn. Không rõ là cái “từ” này ở đâu ra, trong hay ngoài nước? Các “báo, đài” 1 ở ngoài nước có vẻ sính dùng “từ” này. Một dòng chữ đọc được bên dưới tấm ảnh, “Dân oan tập trung khiếu kiện trước nhà thờ Đức Bà”. Trong ảnh là đám đông tụ tập thành những nhóm dăm ba người, kẻ đứng người ngồi, chuyện trò bàn bạc chi đó. Nhiều người ăn mặc bảnh bao, mặt mũi tươi rói. “Dân oan” có khi được dùng thay cho “người dân”, có khi thay cho… “một người dân”, chẳng hạn “Lá thư kêu cứu của một dân oan”, hay “Một dân oan tỉnh Tiền Giang cho biết…” Ngày trước ta có những “dân chúng”, “dân lành”, “dân quê”, “dân nghèo”, “dân đen”…, nay lại có thêm tầng lớp mới là “dân oan” (không chừng mai đây lại có thêm “dân ức”, “dân oán”, “dân khổ”, “dân đói”…). Đến ngày nào “tuyệt đại bộ phận” 1 nhân dân được gọi là “dân oan” cả thì nhà cầm quyền cũng “mệt” đấy chứ không phải chơi.

1.2. Tiếng Hán-Việt và tiếng “nửa Hán-Việt”

Không phải từ ngữ Hán-Việt nào cũng cần và cũng có thể thay được bằng từ ngữ “thuần Việt”. Khá nhiều tiếng Hán-Việt khó mà tìm được tiếng thuần Việt nào tốt hơn hoặc tương đương để thay thế.
Một ít từ ngữ Hán-Việt thường được sử dụng trong nước có thể thay được bằng thuần Việt và… hay không kém, chẳng hạn: “đại đa số” hoặc “đại bộ phận” có thể thay bằng “phần lớn”, “phần đông”; “tuyệt đại đa số” hoặc “tuyệt đại bộ phận” có thể thay bằng “hầu hết”; “giáo trình”, “giáo án” có thể thay bằng “bài giảng”; “tham quan” có thể thay bằng “thăm”, “thăm viếng”; “thường niên” có thể thay bằng “hàng năm”; “tiếp thu” có thể thay bằng “hiểu”, “am hiểu”, “học hỏi”; “tranh thủ” có thể thay bằng “cố gắng”, “cố thu xếp”; “khẩn trương” có thể thay bằng “mau mắn”, “lẹ làng” hoặc “căng thẳng” (tùy nghĩa trong câu).

Trong khi đó, một số từ ngữ Hán-Việt được trong nước đổi sang thuần Việt khá tốt như: “cả nước” thay cho “toàn quốc”; “nhà nước” thay cho “quốc gia”; “trong nước” thay cho “quốc nội”; “ngoài nước” thay cho “hải ngoại”; “nước ngoài” thay cho “ngoại quốc”; “chữ cái” thay cho “mẫu tự”; “quý” thay cho “tam cá nguyệt” (miền Nam thuở trước có chữ này nhưng ít dùng); “tàu sân bay” thay cho “hàng không mẫu hạm”; “Lầu Năm Góc” thay cho “Ngũ Giác Đài”; “Hội Chữ Thập Đỏ” thay cho “Hội Hồng Thập Tự”.

Các ví dụ trên cũng cho thấy một điều hơi lạ, người Việt trong nước, một mặt có xu hướng thuần-Việt-hóa các từ ngữ Hán-Việt, một mặt lại sính dùng các từ ngữ này. Có vẻ như đối với những gì “trân quý” 1 hoặc muốn “phô trương thanh thế” thì họ chuộng sử dụng tiếng Hán-Việt, hoặc giữ nguyên tên Hán-Việt chứ không muốn đổi sang tiếng thuần Việt. Ví dụ: siêu đẳng, siêu thị, siêu tốc, siêu xa lộ, siêu khuyến mãi, siêu tiết kiệm, thậm chí siêu giảm giá, siêu rẻ, siêu sao, siêu mẫu, siêu quậy, siêu hot, siêu mỏng, siêu nhỏ, siêu khủng (không rõ là “khủng” gì, “khủng khiếp”, “khủng long” hay “khủng bố”?!) và cả siêu xe nữa (chẳng hạn: “Siêu xe Ferrari 599 GTB dạo quanh Hồ Gươm”). Về tên riêng, các tên gọi như Thiên An Môn, Hữu Nghị Quan, Vạn Lý Trường Thành… vẫn được giữ nguyên, trong lúc Tòa Bạch Ốc (hay Bạch Cung), Ngũ Giác Đài… thì lại đổi thành Nhà Trắng, Lầu Năm Góc.

Tiếng Hán-Việt, dù muốn dù không, trở thành một “bộ phận không thể tách rời” 1 trong ngôn ngữ của người Việt. Nhiều từ ngữ Hán-Việt được sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày tạo cảm giác gần gũi, thiết thân không kém gì tiếng thuần Việt. Hơn nữa, sử dụng tiếng Hán-Việt dẫu sao vẫn hơn là vay mượn những tiếng nước ngoài, vì dễ nghe hơn, dễ hiểu hơn, và ít ra cũng còn được… một nửa Việt.

Bên cạnh từ ngữ Hán-Việt, một số từ ngữ “nửa Hán-Việt” (tiếng Hán-Việt và tiếng thuần Việt sánh đôi nhau) cũng được sử dụng nhiều trong nước, như: người phát ngôn, nhà văn hóa, viện chăn nuôi, in ấn (thay vì “ấn loát”), tranh cãi (thay vì “tranh luận”, “tranh biện”), truy tìm (thay vì “truy tầm”), truy đuổi (thay vì “truy nã”), truy quét, truy lùng (thay vì “truy kích”), truy hỏi, truy vặn (thay vì “truy vấn”), vụ việc (thay vì “sự vụ”), di dời (thay vì “di động”), tu sửa (thay vì “tu bổ”)…

Một “đặc trưng” 1 khác của người Việt trong nước là sính “nói chữ”, thích dùng những “cụm từ” văn vẻ, quanh co hoặc bóng gió (thường là để tránh “đi thẳng vào vấn đề” hoặc để làm giảm nhẹ cái xấu), như: có khả năng (có thể); tạo điều kiện (tìm cách; thu xếp); kém văn hóa (ít học); bệnh thành tích (làm láo, báo cáo hay); quyết định thôi giữ chức (quyết định từ chức/cách chức); tình hình diễn biến phức tạp (tình hình xấu đi); giao lưu tình cảm (làm quen, kết bạn tâm tình); quà biếu trên mức tình cảm (hối lộ); ùn tắc giao thông (kẹt xe); trẻ em chưa ngoan (trẻ em hư hỏng); học sinh ngồi nhầm lớp (học sinh kém trình độ, cần cho xuống lớp dưới); điều kiện kinh tế gia đình rất hạn chế (gia đình nghèo khó, mức sống chật vật)…

1.3. Tiếng Việt “cũ” và “mới”

Bên dưới là một ít từ ngữ phổ biến ở trong nước, thay cho từ ngữ hoặc cách nói tương đương (ghi trong ngoặc đơn) của người Việt ở miền Nam thuở trước. (Các từ ngữ này xếp theo thứ tự vần abc).

Ban chấp hành (thay cho “ban điều hành”), bản chất (thay cho “bản tính”), biểu diễn (thay cho “trình diễn”), bức xúc (thay cho “ấm ức”; “bứt rứt”; “bực tức”; “nhức nhối”).

Ca từ (thay cho “lời ca”; “câu hát”), chấp hành (thay cho “thi hành”), chất lượng (thay cho “phẩm chất”), chủ trì (thay cho “chủ tọa”), chuyên nghiệp (thay cho “nhà nghề”), có sức/tính thuyết phục (thay cho “thuyết phục được”), cơ bản (thay cho “căn bản”), công nhân viên (thay cho “công chức”), cụm từ (thay cho “nhóm chữ”), cực đoan (thay cho “quá khích”), cường điệu (thay cho “phóng đại).

Di dời (thay cho “di chuyển”), dị ứng (thay cho “phản ứng”; “khó chịu”), diễn viên điện ảnh (thay cho “tài tử màn bạc”), diễu hành (thay cho “diễn hành”).

Đánh giá cao/thấp (thay cho “xem là có giá trị/kém giá trị”), đặc trưng (thay cho “đặc điểm”), đăng ký (thay cho “ghi danh”; “ghi tên”), đạt yêu cầu (thay cho “đáp ứng yêu cầu”), định kiến (thay cho “thành kiến”), đội ngũ (thay cho “hàng ngũ”), đột xuất (thay cho “bất ngờ”; “ngoài dự kiến”), đứng lớp (thay cho “dạy lớp”; “phụ trách lớp”).

Gần gụi (thay cho “gần gũi”), giao tiếp (thay cho “giao tế”; “xã giao”), giáo án (thay cho “giáo trình”; “bài giảng”).

Hải quan (thay cho “quan thuế”), hành xử (thay cho “xử sự”), hiện đại (thay cho “tối tân”), hộ chiếu (thay cho “sổ thông hành”), hộ khẩu (thay cho “tờ khai gia đình”), hoành tráng (thay cho “vĩ đại”), hội nhập (thay cho “hòa nhập”), hư cấu (thay cho “tưởng tượng”).

Khẳng định (thay cho “xác định”), khâu (thay cho “bước”; “phần hành”; “giai đoạn”), kiểm tra (thay cho “kiểm soát”).

Liên hệ (thay cho “liên lạc”, “tiếp xúc”), linh hoạt (thay cho “linh động”).

Năng nổ (thay cho “năng động”), nghiêm túc (thay cho “nghiêm chỉnh”; “nghiêm trang”; “đứng đắn”), nghiệp dư (thay cho “tài tử”), ngữ pháp (thay cho “văn phạm”), nhắc nhớ (thay cho “nhắc nhở”), nhất trí (thay cho “đồng ý”).

Phản cảm (thay cho “phản tác dụng”), phản hồi (thay cho “hồi đáp”), phát hiện (thay cho “phát giác”), phức tạp (thay cho “rắc rối”), phương án (thay cho “kế hoạch”).

Quá trình (thay cho “tiến trình”), quảng trường (thay cho “công trường”), quân hàm (thay cho “cấp bậc”).

Sâu sắc (thay cho “sâu xa”), sự cố (thay cho “trục trặc”; trở ngại”).

Tâm đắc (thay cho “ưng ý”; “đúng ý”), tản mạn (thay cho “mạn đàm”), tập trung (thay cho “tập họp”), tham gia (thay cho “tham dự”), tham quan (thay cho “thăm”; “thăm viếng”), thành danh (thay cho “tên tuổi”), thân thương (thay cho “thân yêu”; “thân mến”), thông tin (thay cho “tin tức”), thông tin thương mại (thay cho “quảng cáo”), thống nhất (thay cho “đồng nhất”), thu nhập (thay cho “lợi tức”), thuật ngữ (thay cho “danh từ kỹ thuật”), tiếp thu (thay cho “tiếp nhận”), tiết học (thay cho “giờ học”), tính từ (thay cho “tĩnh từ”), tình huống (thay cho “tình thế”; “tình cảnh”; “hoàn cảnh”), toàn bộ (thay cho “tất cả”), trân quý (thay cho “quý trọng”; “yêu quý”), tư liệu (thay cho “tài liệu”), tư vấn (thay cho “cố vấn”), từ (thay cho “chữ”; “từ ngữ”).

Vận động viên (thay cho “lực sĩ”), xuất khẩu (thay cho “xuất cảng”), xử lý (thay cho “giải quyết”)…

Những chữ in nghiêng ở đoạn trên là các từ ngữ được người Việt ở hải ngoại sử dụng nhiều trong sinh hoạt thường ngày, kể cả trong giới truyền thông, văn học (viết văn, viết báo, truyền thanh, truyền hình…) và các trường dạy tiếng Việt, khiến dần dà người ta không còn phân biệt được đâu là “tiếng Việt cũ”, đâu là “tiếng Việt mới” nữa.

Từ đó, xảy ra chuyện khôi hài, một bài báo công kích việc sử dụng “tiếng Việt mới” ở trong nước, thế nhưng trong bài tác giả lại sử dụng khá nhiều từ ngữ “mới” ấy, đại khái: “Tôi rất ‘tâm đắc’ với tác giả ‘bài viết’ ấy. Nội dung rất ‘sâu sắc’ và ‘có sức thuyết phục’. Mỗi lần đọc hay nghe những ‘từ’ ấy tôi rất ‘dị ứng’. Là người Việt phải biết ‘trân quý’ tiếng Việt ‘thân thương’ của ‘ta’…” Bài báo cho thấy người viết bị nhiễm “virus ‘tiếng Việt mới’” khá nặng, cần được điều trị.

Mỗi người có thể có những cách “đánh giá” 1 khác nhau về các “từ” của “tiếng Việt mới”. Cá nhân tôi, vẫn sử dụng các từ ngữ sau:

Dị ứng: Không dễ tìm được từ ngữ nào tương đương trong “tiếng Việt cũ” (không hẳn là “phản ứng” hay “khó chịu”). Nói: “Tôi rất dị ứng với cái từ ấy”, nghe giống như là ăn phải món gì đó, hoặc uống nhằm thứ thuốc men gì đó, da dẻ phát ngứa, nổi mề đay, gãi sồn sột…

Bản chất: Nghe “mạnh” hơn là “bản tính”. Nói: “Bản chất của hắn ta là vậy”, có nghĩa là “hắn ta”… hết thuốc chữa. Cái gì đã thuộc về “bản chất” rồi là đã nằm trong máu trong thịt, không cách chi “cải tạo” được, chỉ có nước… thay máu.

Tâm đắc: Nghe… tâm đắc hơn là “ưng ý”, “hợp ý”.

Nhạy cảm: Nghe… nhạy cảm hơn là “dễ đụng chạm”, “dễ gây xích mích”, “dễ xa nhau”.
Tính từ: Từ ngữ chỉ về tính cách, tính chất của người, vật, sự việc (đúng hơn “tĩnh từ”, nghĩa tương phản với “động từ”).

Vận động viên: Đúng hơn “lực sĩ”. Nhiều vận động viên không phải là “lực sĩ”.

Các từ ngữ mới như “đối tác”, “dữ kiện”, “dữ liệu”, “phản hồi”, “truy cập”, “hiển thị”… không thấy có trong “tiếng Việt cũ” cũng thường được tôi sử dụng. Những từ ngữ “quan ngại”, “phản ánh”, “hình thành”, “đảm bảo”… không phải là “tiếng Việt mới” như nhiều người tưởng mà từng được sử dụng ở miền Nam thuở trước.

Phần này không đề cập đến những tiếng lóng hoặc ngôn ngữ đường phố (street language) mà “tiếng Việt cũ”, “tiếng Việt mới” gì cũng đều có.

1.4. Nói sai, hiểu đúng

“Lát nữa đây tôi sẽ trao đổi với anh,” nghe người bạn nói vậy, ta tự động hiểu là anh ta sẽ trao đổi ý kiến với mình (chứ không phải trao đổi… hình ảnh tài liệu, hay thứ gì khác).

“Anh có thể vào trang web ấy để tham khảo ít tư liệu,” nghe người bạn nói thế, ta hiểu là cả nước đều có thể tham khảo thoải mái các tài liệu ấy (chứ chẳng phải riêng tư gì).

Nếu ta “nhất trí” được với nhau ngôn ngữ là “công cụ truyền đạt ý tưởng và giao tiếp giữa con người” thì hai câu nói trên xem như “đạt yêu cầu” 1. Người nói muốn nói cách nào cũng được, chỉ cần người nghe hiểu được và hiểu đúng là ngôn ngữ đã hoàn thành tốt đẹp vai trò của mình.

“Tư liệu” hay “tài liệu” thì cũng chỉ là cách gọi, là cái tên con người đặt để ra. Giả sử “nhà phát minh” chữ nghĩa chỉ tay vào cái bàn và nói “đây là cái ghế” thì vật dụng ấy sẽ có tên là “ghế”.

Giả sử ta gọi “chó” là “mèo” và “mèo” là “chó” thì khi nói “chó”, người nghe sẽ hiểu đấy là con vật nuôi ở trong nhà, kêu “meo meo” và giỏi bắt chuột; ngược lại, “mèo” là con vật nuôi để giữ nhà, sủa “gâu gâu”, và thường ngoắc ngoắc đuôi mừng chủ đi đâu về. Mới nghe thì có vẻ ngược ngạo, nhưng nghe riết cũng thành… quen tai. Tên gì thì cũng chỉ là cái… tên.

Nhiều người Việt ngoài nước vẫn phê phán hai chữ “chất lượng” của “tiếng Việt mới”, cho rằng “lượng” không thể nào là “phẩm” được, và nói “nâng cao chất lượng” là không đúng mà phải nói “nâng cao phẩm chất”. Thực ra, không phải người Việt trong nước không biết rằng chữ “lượng” (trong từ ngữ “chất lượng”) là chỉ mức độ lớn nhỏ, nhiều ít, cân đo đong đếm được. Cũng không phải họ không biết đến hai chữ “phẩm chất”. Từ ngữ này vẫn có trong từ điển tiếng Việt của họ, và được định nghĩa “Cái làm nên giá trị của người hay vật” (và còn cho ví dụ: “Hàng kém phẩm chất”). Trong lúc “chất lượng” được định nghĩa “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” (Từ điển tiếng Việt, Nhiều tác giả, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2006). Như vậy thì hai từ ngữ này có nghĩa tương tự, thế nhưng họ lại sính dùng “chất lượng” hơn, và giải thích rằng, nói “chất lượng” là để… phân biệt với “số lượng”.

Nói gì thì nói, cái “từ” ấy (và các “từ” khác nữa của “tiếng Việt mới”) vẫn được lưu hành rộng rãi trong mọi sinh hoạt của người Việt ở hải ngoại. Các “báo, đài” vẫn cứ “đảm bảo chất lượng” lia chia, các xướng ngôn viên truyền thanh, truyền hình vẫn cứ “nâng cao chất lượng” đều đều, và vẫn cứ phát ngôn ra rả những “phát hiện”, “kiểm tra”, “tham gia”, “tham quan”, “biểu diễn”, “đăng ký”, “tập trung”, “chủ yếu”, “tháng Một”, “tháng Bốn” (thay vì tháng Giêng, tháng Tư)… vân vân. “Khán thính giả nghe đài” thì cũng dễ dãi, ít có ai thắc mắc hay ý kiến này nọ, hoặc nếu có phản kháng thì cũng… yếu ớt, vì biết có phản kháng cũng chẳng ăn thua gì. Người nghe nghe mãi, nghe riết cũng… quen tai, và tới nay thì dù muốn dù không cũng đành chấp nhận “sống chung hòa bình”. Cũng không thể phê phán các cô xướng ngôn viên ấy được, vì các cô chỉ đọc làu làu các văn bản được ai đó soạn sẵn, và “ai đó” thì hầu như cũng chẳng bận tâm đến chuyện đúng sai, phải trái, “tiếng Việt mới”, “tiếng Việt cũ” của các “từ” ấy.

Trả lời các phản hồi của “thính giả nghe đài” về việc sử dụng nhiều từ ngữ “tiếng Việt mới” trong các chương trình phát thanh bằng Việt ngữ, người phụ trách chương trình này của một đài phát thanh nước ngoài giải thích, “Đối tượng của chương trình này ‘đại đa số’ 1 là thính giả ở trong nước chứ không phải chỉ là người Việt ở nước ngoài. Chúng tôi sử dụng từ ngữ thông dụng ở trong nước để việc ‘truyền thông’ đạt được hiệu quả .” “Thính giả nghe đài” chắc cũng thỏa mãn cách giải thích này nên không có ý kiến gì thêm.

[Cách gọi “thính giả nghe đài” cũng là “cụm từ” 1 của tiếng Việt trong nước. Thoạt đầu là “các bạn nghe đài”, sau đổi thành “quý bạn nghe đài” (nghe “trân quý” hơn), sau lại đổi thành “quý thính giả nghe đài” hoặc “quý khán thính giả xem đài” (lẽ ra phải là “quý khán thính giả xem và nghe đài”). Thế nhưng, đổi như vậy thì lại thừa ra cái đuôi “nghe đài”, “xem đài”. Những “cụm từ” này cũng được ít đài truyền thanh, truyền hình của người Việt ở hải ngoại vay mượn. Với cách dùng “từ” như thế, e rằng mai đây sẽ lại có thêm những “khán giả xem phim”, “khán giả xem kịch”, “độc giả đọc sách”, “độc giả đọc báo”... vân vân].

Thực tế, “tiếng Việt mới” và “tiếng Việt cũ” đều có những trường hợp sử dụng từ ngữ không được chính xác. Người Việt ở miền Nam thuở trước vẫn viết hoặc nói “áo lạnh” (thay vì “áo ấm”); “gái mãi dâm” (thay vì “gái mại dâm”); “đi khám bác sĩ” (thay vì “đi khám bệnh”, hoặc “đi gặp bác sĩ”)… Và người đọc hay người nghe, khi nghe “áo lạnh”, thay vì yêu cầu người nói điều chỉnh, phải… tự điều chỉnh não bộ (là nơi tiếp nhận ngôn ngữ) để hiểu rằng người nói muốn nói là “áo ấm”. Việc này có thể tạo ra chút lúng túng ở lần đầu tiên vì “sự cố” 1 có hơi bất thường; tuy nhiên, từ đó về sau thì “quá trình” tự điều chỉnh ấy sẽ trôi chảy và trở nên bình thường.

Nói sai nhưng… hiểu đúng là được, như cách nói của người Mỹ, “That’s ok, no problem”. Về mặt truyền đạt ý tưởng, như thế gọi là “đạt yêu cầu”.

lê hữu
————————————————————————
1 Từ ngữ phổ biến ở trong nước