Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Về qui trình và tiêu chuẩn phong giáo sư ở VN

Cuối tuần qua, tôi đọc một mạch những trao đổi trực tuyến của ngài Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân. Bài dài quá, đề cập đến rất nhiều khía cạnh giáo dục và đào tạo, nhưng thông tin cụ thể thì không có bao nhiêu. Ngay cả các câu trả lời cũng chung chung, chứ không thấy có câu nào thiết thực hay giải quyết rốt ráo một vấn đề. Liên quan đến câu hỏi về đề bạt giáo sư / phó giáo sư tôi thấy câu sau đây đáng chú ý. Thế là tôi gõ lại vài nhận xét và suy nghĩ của mình sau khi đọc qua những trả lời của ông Bộ trưởng.

* Một ứng viên sau khi đủ điều kiện tối thiểu do Hội đồng chức danh giáo sư (HĐCDGS) nhà nước quy định phải được 2/3 thành viên HĐCDGS cơ sở, 3/4 thành viên HĐCDGS ngành và 2/3 thành viên HĐCDGS nhà nước bỏ phiếu tín nhiệm mới được công nhận chức danh Phó giáo sư. Thành viên HĐCDGS ngành và nhà nước làm sao biết ứng viên là người như thế nào mà bỏ phiếu tín nhiệm? Bộ trưởng có cách gì để cải tiến cách tuyển chọn chức danh này không? (Lê Minh Thanh - Nam 40 tuổi - Giảng viên - PTIT)

Ông Nguyễn Thiện Nhân là chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (có thể xem tin ở đây). Vì thế, câu hỏi này đến ông cũng là hợp lí. Mấy năm gần đây, trước những phàn nàn, góp ý về vấn đề phong chức danh giáo sư, phó giáo sư (GS/PGS), Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng có lắng nghe và có nhiều thay đổi quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều qui định “không giống ai”, và nhất là qui trình làm việc thì rất cồng kềnh và nặng nề thủ tục hơn là tinh giản. Một trong những qui định khó hiểu đó là câu hỏi trên đây. Ở đây, tôi bàn sơ qua câu trả lời của ngài Bộ trưởng (viết nghiêng) như sau:

“Phó Thủ tướng, Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân: Việc công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư rất có ý nghĩa, khẳng định trình độ, khả năng của các giảng viên đại học ở trình độ cao, trao cho họ quyền được chủ động trong nội dung môn học, quyền được hướng dẫn nghiên cứu sinh, quyền được giữ những trách nhiệm quản lý về khoa học cũng như về đề tài… nên phải lựa chọn rất khách quan. Nội dung hồ sơ được công nhận là đủ tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư gồm những cấu phần chủ yếu sau:”

Tôi không hiểu “quyền được chủ động trong nội dung môn học” là gì. Còn quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh thì có gì không ổn ở đây, bởi vì trước khi trở thành GS/PGS ứng viên đã làm hướng dẫn nghiên cứu sinh rồi! Tại sao trở thành GS/PGS mới có quyền hướng dẫn nghiên cứu sinh? Qui định hơi ngược đời! Còn quyền được giữ những trách nhiệm quản lí khoa học thì chắc chỉ có VN mới có, bởi vì ở nước ngoài, không cần phải là GS/PGS mới có quyền quản lí khoa học; chỉ cần người có khả năng chuyên môn – cho dù là bằng cấp chỉ cử nhân – cũng có thể quản lí khoa học. Các quan chức trong Bộ giáo dục ở Mĩ, Canada, Úc, v.v… đâu cần đến bằng tiến sĩ, và chắc chắn chẳng có chức danh giáo sư. Không thấy ông Bộ trưởng nói gì về nghiên cứu khoa học cả, một lĩnh vực nồng cốt của một giáo sư!

Tôi nghĩ rằng ông Bộ trưởng vẫn chưa quán triệt ý nghĩa của chức danh GS/PGS. Thực ra, đó chỉ là một chức vụ trong hệ thống đại học mà thôi. Chức danh này là một hình thức ghi nhận hay công nhận đóng góp của ứng viên trong khoa học và cống hiến cho trường cũng như cho quốc gia.

“1. Được đào tạo như thế nào: Phải có bằng Tiến sĩ ở những chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực mình được công nhận. Hội đồng từ cơ sở trở lên phải xem bằng cấp của người được công nhận xem có đúng không.”

Tại sao học vị tiến sĩ phải là một tiêu chuẩn phải có để được đề bạt lên chức danh GS/PGS? Tôi thấy ở các đại học phương Tây (tôi chỉ nói đại học lớn và có uy tín) ở một số khoa (như luật, y khoa, khoa học máy tính), GS/PGS không cần có học vị tiến sĩ. Ở Úc, khi cuộc cách mạng giáo dục đại học khởi đầu, một số trường cao đẳng được nâng cấp thành đại học, họ cũng phải bổ nhiệm GS/PGS cho những người có học vị thạc sĩ, thậm chí cử nhân. Trong bối cảnh ở Việt Nam, tôi nghĩ không cần phải đòi hỏi ứng viên chức danh giáo sư có học vị tiến sĩ, mà thạc sĩ hay thậm chí cử nhân cũng được, miễn là phải có thực tài và đáp ứng các tiêu chuẩn khách quan đặt ra.

“2. Kê khai quá trình tham gia đào tạo của mình từ trước đến nay, đặc biệt là số giờ giảng liên tục ở mức nhất định ở từng trình độ đại học. Ví dụ, phải có hướng dẫn nghiên cứu sinh (nếu làm Tiến sĩ), hướng dẫn Thạc sĩ (nếu đăng ký làm Phó Giáo sư). Hội đồng phải xem xét hồ sơ có đúng chất lượng.”

Như vậy là đặt nặng tiêu chí đào tạo! Nếu người chỉ làm nghiên cứu, tức ít giảng dạy, thì sao? Tôi nghĩ cái thiếu sót cơ bản của bộ tiêu chuẩn đề bạt chức danh GS ở Việt Nam là không phân biệt ngạch đề bạt. Ở nước ngoài, các đại học phân biệt 2 ngạch đề bạt: giảng dạy và nghiên cứu. Ứng viên chức danh GS nếu muốn được đề bạt dựa vào nghiên cứu thì các tiêu chuẩn giảng dạy sẽ được hạ thấp một chút, và ngược lại khi ứng viên xin đề bạt qua ngạch giảng dạy thì các tiêu chuẩn về nghiên cứu sẽ được giảm.

“3. Biên soạn SGK, tài liệu tham khảo giảng dạy đại học. Những tài liệu này phải được chấm có hệ số tùy theo chất lượng phù hợp mục tiêu.”

Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo giảng dạy đại học không nên tính vào điểm để đề bạt chức danh giáo sư. Trong thực tế, đại đa số sách giáo khoa ở VN chỉ là sách mà tác giả hoặc là dịch lại từ sách nước ngoài (nhưng không đề nguồn!) hoặc là những cuốn sách biên soạn lại từ các tài liệu ở nước ngoài hay của tác giả khác ở trong nước. Điều này cũng dễ hiểu vì phần lớn các GS/PGS ở Việt Nam ít làm nghiên cứu khoa học, nên họ không có những dữ liệu của chính họ, mà phải “mượn” từ người khác. Do đó, đối với một số ngành (như ngành y chẳng hạn), sách giáo khoa không có giá trị khoa học. Mà, không có giá trị khoa học thì không nên tính vào điểm để được đề bạt.

“4. Các công trình khoa học được công bố ở trong nước hoặc nước ngoài, có chấm điểm từ 0-2 điểm với độ lệch 0,25 điểm.”

Tại sao 0-2 điểm? Chẳng lẽ một bài trên New England Journal of Medicine đánh đồng tương đương với một bài trên tập san Y học Thực hành của Bộ Y tế ư? Nếu thế thì quả là vô lí quá. Rồi lại có cái gọi là “độ lệch” 0,25 điểm ở đây nữa, chẳng biết cái độ lệch này là gì và phản ảnh cái gì. Chẳng lẽ là độ lệch chuẩn (standard deviation). Mà, chấm điểm là áp dụng cho từng cá nhân, cái độ lệch chuẩn đó áp dụng cho quần thể, chứ không thể áp dụng cho cá nhân được. Đúng là bí hiểm!

“5. Về mặt chuyên môn, phải bảo đảm một số điểm khoa học nhất định.”

Câu này không có thông tin gì cả!

“Vấn đề đặt ra là các thành viên Hội đồng ngành và liên ngành quốc gia có đủ khả năng chấm hay không. Trước hết, các thành viên Hội đồng ngành đều phải là Giáo sư, tức là những người có trình độ khoa học cao nhất trong ngành, có đủ khả năng đánh giá SGK, giáo trình, các bài báo khoa học. Nếu ngành chưa đủ số Giáo sư thì được bổ sung không quá 1/3 Phó Giáo sư.”

Có thật giáo sư là “những người có trình độ khoa học cao nhất trong ngành, có đủ khả năng đánh giá SGK, giáo trình, các bài báo khoa học”? Tôi nghi ngờ nhận xét này. Thật ra, tôi xem đây là một đánh giá / nhận xét naïve (ngây thơ). Khoa học thường đi vào những lĩnh vực hẹp, và một giáo sư không thể nào hiểu hết hay thông thái tất cả các vấn đề được. Lấy ví dụ một giáo sư chuyên gia về tiểu đường, nếu chỉ làm lâm sàng thì làm sao hiểu (chưa nói “biết”) các vấn đề sinh học phân tử hay gene liên quan đến tiểu đường được.

“Hội đồng liên ngành bao gồm Chủ tịch các Hội đồng ngành đều phải là Giáo sư. Hội đồng liên ngành chủ yếu rà soát những trường hợp sát nút. Ví dụ 12 điểm là Giáo sư, ứng viên đạt 13 điểm. Hội đồng liên ngành sẽ rà soát xem có sai sót, lỏng lẻo không. Hoặc có những khiếu kiện liên quan đến các công trình khoa học thì Hội đồng liên ngành sẽ làm rõ. Như vậy, tôi xin cam kết rằng những nhà khoa học này có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản lý để đánh giá được năng lực của các ứng viên.”

Đây là một qui định máy móc (12 điểm)! Tôi nghĩ không nên cân đo đong đếm như thế, vì bản chất của các cách tính điểm của các chỉ tiêu cũng chỉ là tương đối. Thật ra, các chỉ tiêu này như tôi đã từng nói cũng không hẳn là thích hợp, thì nói gì đến chuyện tổng kết số điểm để đề bạt chức danh GS/PGS! Đáng lẽ hội đồng nên yêu cầu ứng viên chỉ ra rằng ứng viên tương đương với ai trên thế giới hay trong nước, và cách làm đó là một cách để ứng viên tự đánh giá cũng như tạo thuận lợi cho hội đồng xem xét thêm.

Cam kết của ông Bộ trưởng xem ra hơi lạc quan. Tôi nghĩ không một hội đồng ngành nào có đủ năng lực chuyên môn để đánh giá chính xác năng lực của một ứng viên cả. Chỉ có đồng nghiệp của ứng viên mới đánh giá chính xác năng lực của ứng viên mà thôi.

“Cuối cùng, Giáo sư phải thuyết trình bài bằng ngoại ngữ để Hội đồng thẩm định. Trong trường hợp không đủ thành viên Hội đồng thẩm định ngoại ngữ mà ứng viên lựa chọn thì sẽ mời phiên dịch.”

Vấn đề ngoại ngữ cũng quan trọng, nhưng không thể nói chung chung là giáo sư phải “thuyết trình bằng ngoại ngữ để hội đồng thẩm định” được, bởi vì ngay cả các vị thành viên trong hội đồng đã chắc gì thông thạo ngoại ngữ. Ngay cả ngài phó thủ tướng, dù mang hàm giáo sư, nhưng khả năng tiếng Anh của ngài cũng còn rất hạn chế, thì nói gì đến chuyện xét duyệt trình độ tiếng Anh của người khác! Ai muốn biết trình độ tiếng Anh của ngài Bộ trưởng thì có thể xem qua tài liệu này.

Theo tôi cái sai lầm cơ bản của qui trình phong chức danh giáo sư ở Việt Nam hiện nay là nó mang tính quá tập trung, cũng giống như thời bao cấp hay bắt chước theo các nước xã hội chủ nghĩa cũ (nay không còn nữa). Theo qui trình tập trung này, đơn của ứng viên phải được xem xét từ hội đồng cơ sở nơi ứng viên làm việc, sau đó lên hội đồng của Bộ (?), và cuối cùng là Hội đồng ngành trong Hội đồng chức danh Nhà nước. Trên giấy tờ thì phức tạp như thế, nhưng hội đồng cơ sở là quan trọng nhất, vì nếu hội đồng này thông qua thì 2 hội đồng kia cũng ok theo.

Cái sai lầm số 1 là để cho hội đồng cơ sở đánh giá. Là đồng nghiệp với nhau, chắc chắn các thành viên trong hội đồng cũng phải kiêng nể, vị tình, chứ khó mà có quyết định khách quan được. Thật ra, cũng có thể đặt câu hỏi về khả năng chuyên môn của hội đồng cơ sở trong việc đánh giá đơn của ứng viên.

Cái sai lầm thứ 2 là hội đồng ngành thường quá bao quát. Chẳng hạn như chỉ có một hội đồng cho ngành y, và hội đồng này phải lo tất cả các ứng viên từ các ngành hẹp trong ngành y như thần kinh, nội tiết, khớp, tim mạch, v.v… Làm sao 12 thành viên trong hội đồng này đánh giá các lĩnh vực chuyên môn hẹp? Đó là chưa nói đến tư cách của các thành viên này có xứng đáng ngồi trong hội đồng đó hay không!

Vậy thì phải làm gì để khắc phục vấn đề này? Theo tôi, trong bối cảnh Việt Nam, có lẽ cái hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước vẫn cần, nhưng họ chỉ nên là một hội đồng phê chuẩn mà thôi. Tôi đề nghị một qui trình khác đơn giản hơn như sau:

1. Ứng viên soạn thảo đơn và hồ sơ xin đề bạt theo những tiêu chuẩn và tiêu chí mà tôi đã phát biểu trước đây;

2. Đơn sẽ do HĐCDGSNN gửi cho 8 người chuyên gia trong cùng ngành (trong và ngoài nước) bình duyệt;

3. Dựa vào báo cáo bình duyệt, HĐCDGSNN phỏng vấn ứng viên và phê chuẩn.

Nói tóm lại, tôi thấy qui trình và tiêu chuẩn đề bạt chức danh GS/PGS ở Việt Nam dù có cải tiến, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét và sửa đổi sao cho phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Hi vọng rằng những đề nghị đơn giản trên đây của tôi sẽ góp phần vào định hướng đó.

NVT

Đọc thêm:
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/06/hoi-ong-chuc-danh-giao-su-nha-nuoc.html

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2009

Đoan Trang và Người buôn gió được trả tự do!

Mới vào mạng đọc báo thì thấy có tin vui và nóng hổi này: phóng viên Phạm Đoan Trang của Vietnamnet và blogger Người buôn gió mới được trả tự do. Mừng cho 2 người. Nhưng còn một người nữa (blogger Mẹ Nấm ở Nha Trang) vẫn còn bị giam cầm. Hi vọng chị Mẹ Nấm sẽ sớm được về với gia đình.

Tất cả những người này đều có những phát biểu hay bày tỏ thái độ với Trung Quốc. Đoan Trang và Người buôn gió thì viết bài, còn Mẹ Nấm thậm chí can đảm hơn là in áo thung với hàng chữ “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam” và một biểu ngữ chống Trung Quốc trong việc khai thát bauxite ở Tây Nguyên. Hoan hô các công dân can đảm và ưu tú của Việt Nam chống lại hành động bành trướng và sát nhân của bọn Trung Quốc!

NVT

===

http://www.bauxitevietnam.info/c/7582.html

Niềm vui Chủ nhật: Tin nóng hổi – Nhà báo Phạm Đoan Trang, blogger Người Buôn Gió đã được trả tự do

Bauxite Việt Nam là trang mạng duy nhất ở trong nước lên tiếng về những vụ việc này. Ngày 3-9-2009, chúng tôi đã đăng lại một bài viết của Phạm Đoan Trang với Lời dẫn như sau: “Nhà báo Đoan Trang vừa bị bắt giữ. Vâng, đó là việc của chính quyền XHCN, chúng tôi không có ý kiến, có ý kiến thì còng số 8 chắc chắn sẽ tìm đến mình ngay. Chúng tôi cũng sợ còng lắm, chứ có anh hùng gì đâu. Nhưng theo ông Nguyễn Anh Tuấn, chủ trì trang mạng Vietnamnet thì đây là “lý do an ninh” chứ không phải vì các bài báo chị đã viết. Thế thì, để ngẫm nghĩ về chị, tính cách humour dễ thương của chị – điều này thì chắc không ai bị tước quyền – Bauxite Việt Nam xin đăng lại một bài của chị, viết trong ngày 10-4-2009, tóm lược Hội thảo về Bauxite ở Tây Nguyên mà ông Hoàng Trung Hải, PTT VN chủ trì”.

Tiếp đó, ngày 4-9-2009, chúng tôi lại cho đăng bài Phỏng vấn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ về trường hợp bắt nhà báo Phạm Đoan Trang, trong đó, TS Cù Huy Hà Vũ đã đứng ở góc độ luật pháp khẳng định rõ: “Cơ quan công an bắt nhà báo Phạm Đoan Trang không thể thông báo chung chung là nhà báo này “xâm phạm an ninh quốc gia” mà phải nói thật rõ nữ phóng viên này đã phạm tội gì trong 14 tội quy định tại Chương XI – Các tội xâm phạm an ninh quốc gia bởi không thể có chuyện cùng lúc phạm cả 14 tội được! Vậy mà theo lời ông Nguyễn Anh Tuấn, thủ trưởng của nhà báo Phạm Đoan Trang thì cơ quan công an đã không cho biết địa điểm bắt và nhất là không cho biết tội danh cụ thể được quy cho nhà báo này! Chính sự khuất tất đó là dấu hiệu cho thấy cơ quan công an bắt giam nhà báo Phạm Đoan Trang trái pháp luật!”

Khi chúng tôi tỏ ý băn khoăn liệu có phải vì tích cực chống dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và ra sức bảo vệ chủ quyền Biển Đông mà các phóng viên này đã sa lưới pháp luật hay không thì ông Vũ quả quyết: “Ngược lại là đằng khác, chống khai thác bauxite tại Tây Nguyên vào thời điểm hiện nay, khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ Việt Nam trên biển Đông chính là nhằm bảo vệ an ninh quốc gia. Quốc phòng thì rõ rồi, bảo vệ văn hóa, bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ an ninh quốc gia vì cả chúng ta và thế giới đều biết, sở dĩ dân tộc Việt Nam trường tồn, không bị đồng hóa dù bị ngoại bang đô hộ cả ngàn năm là vì đã giữ vững được bản sắc văn hóa của chính mình, vẫn trụ vững trên mảnh đất quê hương là vì quyết không để môi trường sống bị hủy diệt bởi ngược lại là chỉ có tha phương! Các “tâm thư” của Khai Quốc Công thần – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn, Thiếu tướng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh, cuộc vận động xuyên Việt và liên Việt (người Việt trong và ngoài nước) ký “Kiến nghị” – phong trào yêu nước và dân chủ rầm rộ chưa từng thấy kể từ khi chính thể Dân chủ Cộng hòa ra đời vào 2/9/1945 – do GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn và GS TS Nguyễn Thế Hùng khởi xuớng và việc công dân Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng không nằm ngoài mục đích cao cả này!”

Ông Vũ còn tích cực đề nghị: “Tổng biên tập Vietnamnet và gia đình nhà báo Phạm Đoan Trang cần nhanh chóng yêu cầu cơ quan công an thông báo về tội danh cụ thể và các chi tiết khác có liên quan đến việc bắt giam cô. Nếu cơ quan công an không làm được như vậy thì phải trả tự do ngay lập tức và không điều kiện cho nhà báo Phạm Đoan Trang!“

Bởi ông nhận thức rằng: “[...] từ Đảng, Nhà nước, Chính phủ cho đến người dân Việt Nam, tất thảy phải luôn tâm niệm: “Đúng Hiến pháp và Pháp luật thì làm, không đúng Hiến pháp và Pháp luật thì kiên quyết không làm, tức phụng sự Tổ Quốc và Nhân dân vậy!”.

Và ông được chúng tôi chia sẻ: “Xin cảm ơn Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ đã một lần nữa khẳng định “Tổ quốc – Hiến pháp và Pháp luật trên hết”!

Trong Lời dẫn mở đầu tin nóng về việc Chủ tịch Tập đoàn TKV bị cách chức, chúng tôi có bày tỏ nỗi lo ngại: “Mặt khác, các phóng viên từng có trong tay ít nhiều bằng chứng, hoặc từng chứng kiến những lời ông Kiển hứa hẹn trong các cuộc hội thảo và trong lễ khai mạc đại dự án bauxite, cũng lại đang… lần lượt vào nhà pha ngồi bóc lịch. Thế thì lấy đâu ra nhân chứng để tiếp tục “hỏi thăm” ông Tổng nữa?”

Tuy vậy, từ thâm tâm, Bauxite Việt Nam vẫn tin ở sức mạnh của công lý có thể chiến thắng bạo lực, cái nhân văn cao cả sẽ đến lúc phát huy tác dụng để vượt qua được sự mờ tối dù vô tình hay cố ý, nhất là trong thời đại ngày nay, khi chúng ta đã gia nhập vào công cuộc toàn cầu hóa, mỗi hành động dù xẩy ra ở những nơi khuất nẻo đến đâu vẫn có nhân dân thế giới, với trình độ dân chủ tự do từ hàng trăm năm nay, từ xa dõi theo và tích cực phán xét mọi điều sai đúng.

Quả nhiên, theo tin mới nhất chúng tôi vừa nhận được từ Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhà báo Phạm Đoan Trang và blogger Người Buôn Gió đã được trở về với đời sống tự do.
Xin chúc mừng các đồng nghiệp thân quý của chúng tôi. Và cũng xin hoan nghênh ngành an ninh đã có hành động đúng đắn và mau lẹ. Mong cơ quan an ninh địa phương tiếp tục giải quyết sớm trường hợp của blogger Mẹ Nấm cùng các trường hợp oan sai ở những nơi khác. Hãy noi gương trung ương, không được hành xử theo lối tỉnh lẻ.

Nguyễn Huệ Chi

Giải pháp chống tham nhũng trong khoa học

Bài nói thẳng nói thật dưới đây trên Tia Sáng phản ảnh những điều mà những ai làm khoa học chân chính ở Việt Nam đều biết hay kinh qua. Thoạt đầu khi nghe bạn bè nói rằng ở trong nước làm nghiên cứu (hay “dự án”) chỉ là một hình thức cải thiện thu nhập cá nhân mà thôi, chứ không phải làm nghiên cứu khoa học, tôi bán tín bán nghi. Nhưng bây giờ thì tôi biết đó là một thực tế đã tồn tại qua nhiều năm.

Ở nước ngoài không thiếu những trường hợp nhà khoa học gian dối và thiếu trung thực. Nhưng sự gian dối và thiếu trung thực của họ thường liên quan đến những vấn đề rất khoa học tính, như vặn vẹo dữ liệu theo ý mình, giả tạo dữ liệu, làm nghiên cứu ma, tác giả ma, v.v… chứ không liên quan đến tiền bạc như ở Việt Nam. Thật vậy, có lẽ đây là trường hợp đặc thù rất Việt Nam, bởi vì tôi chưa biết có nước nào trên thế giới mà nhà nghiên cứu có sử dụng tiền tài trợ để tăng thu nhập cá nhân.

Tôi nghĩ cụm từ “gian dối” và “thiếu trung thực” không thích hợp ở đây; phải nói như Gs Hoàng Tụy thì mới thích hợp hơn: tham những. Không còn nghi ngờ gì nữa, vì đây là tham nhũng theo đúng với nghĩa lạm dụng chức quyền để cố ý làm trái pháp luật nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân.

Vấn đề đặt ra là tại sao. Tại sao nhà khoa học tham nhũng?

Tôi nghĩ giải thích rằng do thu nhập cá nhân thấp cũng có lí, nhưng đó là động cơ để tham nhũng hơn là nguyên nhân. Tôi nghĩ nguyên nhân chính là do thiếu những chuẩn mực khoa học cụ thể. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam được “nghiệm thu” bằng một buổi lễ khá màu mè, còn ở nước ngoài họ không có nghiệm thu, nhưng đòi hỏi nhà nghiên cứu phải báo cáo tiến độ của công trình nghiên cứu. Báo cáo tiến độ bao gồm những việc đã làm hay hoàn thành, bài báo khoa học công bố ở đâu, hay đào tạo bao nhiêu nghiên cứu sinh. Ở đây, bài báo khoa học rất quan trọng, vì không có cái này là xem như công trình nghiên cứu thất bại. Nếu ở Việt Nam cũng làm theo qui trình này, thì nguy cơ tham nhũng có thể sẽ giảm đi nhiều.

Nguyên nhân thứ hai là việc đánh giá đề tài nghiên cứu chưa được tốt. Ở ngoài này, một đề cương nghiên cứu thường được đánh giá (bình duyệt) bởi ít nhất là 2 chuyên gia trong ngành và một hội đồng chuyên ngành. Ở Việt Nam thì hình như chỉ có hội đồng chuyên ngành, mà không có bình duyệt (phản biện) độc lập của 2 chuyên gia ngoài hội đồng. Thật ra, trong bối cảnh khoa học Việt Nam hiện nay cũng rất khó mà chọn các chuyên gia vừa đủ uy tín khoa học (hiểu theo nghĩa có công bố quốc tế và có kinh nghiệm) và khách quan để đánh giá đề tài khoa học. Có lẽ vì lí do này mà việc tuyển chọn đề tài nghiên cứu phải phụ thuộc vào những mối liên hệ cá nhân (đồng nghiệp trong ngành đều quen biết nhau) và điều này là một cơ hội cho sự thiếu khách quan. Từ sự nể trọng và nhường nhau như thế được tích lũy dần theo thời gian nó tạo nên một mạng liên hệ thân hữu và dẫn đến “văn hóa bộ lạc”. Trong cái văn hóa này chỉ có người trong bộ lạc mới có cơ may xin tài trợ, còn người ngoài bộ lạc thì phải … chờ. Cũng trong văn hóa bộ lạc này, người ta thay phiên nhau cung cấp tài trợ và nghiệm thu theo những tiêu chuẩn của bộ lạc đặt ra. Tham nhũng xảy ra từ và trong văn hóa này. Thật ra, ở ngoài này cũng có văn hóa bộ lạc, nhưng vì họ có hệ thống bình duyệt độc lập, nên tham nhũng ít xảy ra so với ở Việt Nam.

Nguyên nhân thứ ba là do quản lí kém. Thủ tục tài trợ nghiên cứu khoa học ở Việt Nam rất nhiêu khê và phức tạp. Nhìn vào thì thấy rất chặt chẽ, nhưng chẳng hiểu sao lại có tình trạng này. Có lẽ tình trạng bòn rút tiền Nhà nước cho nghiên cứu tự nó nói lên khả năng quản lí của cơ quan tài trợ quá kém. Bộ KHCN cũng nhận ra điều này nên gần đây đã có nhiều cải cách tích cực.

Ở ngoài này tôi thấy họ quản lí tiền bạc rất đơn giản, nhưng lại chặt chẽ. Cơ quan tài trợ trả tiền (thường từ 10% đến 15% tổng kinh phí công trình) cho phòng tài chính của trung tâm nghiên cứu quản lí tiền tài trợ. Chẳng hạn như nếu nhà nghiên cứu được tài trợ $100,000 thì cơ quan tài trợ phải rót $110,000 hay $115,000 cho trung tâm nghiên cứu. Số tiền này sẽ do phòng tài chính của trung tâm nghiên cứu quản lí, và phòng tài chính có nhiệm vụ chi tiền theo yêu cầu của nhà nghiên cứu. Nhưng phòng tài chính cũng có nhiệm vụ kiểm tra xem chi phí có đúng theo những gì nhà nghiên cứu hứa trong đơn xin tài trợ hay không. Do đó, nếu trong đơn xin tài trợ không có khoản lương bổng, thì không cách gì nhà nghiên cứu bòn rút số tiền đó cho lương bổng được.

Do đó, tôi nghĩ giải pháp để chống tham nhũng trong khoa học là tiêu chuẩn đánh giá công trình nghiên cứu phải minh bạch và cải cách qui trình quản lí.

NVT

===

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=3035

Cần có giải pháp ngăn ngừa những nhà khoa học thiếu trung thực

10:06-04/09/2009

Trong buổi làm việc với Bộ KH&CN gần đây Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã yêu cầu lãnh đạo Bộ KH&CN triển khai một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN, trong đó ông nhấn mạnh cần đổi mới chính sách, cơ chế tài chính đối với KH&CN, chấm dứt việc các nhà KH phải nói dối.

Từ nhiều năm nay, chuyện nhà KH nói dối diễn ra với rất nhiều kiểu, nhiều cách lắt léo khác nhau, nhưng có thể quy vào hai trường hợp điển hình:

1. Các nhà KH buộc phải nói dối. Họ chính là những người đang thực sự làm KH và trong số họ ngay cả người có tài năng tâm huyết, dù được tuyển chọn làm chủ trì đề tài và làm ra kết quả hữu ích thật, cũng không thể sống “thật” với KH theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Vì: Tiền đề tài nhẽ ra chỉ được dành cho nghiên cứu lại phải “phù phép” lấy ra thêm thắt cho đồng lương giáo sư ít ỏi (vài ba triệu đồng) của mình và cộng sự; nếu nhà KH không có quyền lực hành chính (thậm chí có), hàng tuần, hàng tháng, thậm chí hàng ngày phải hệ lụy từ cô kế toán, cậu văn thư, đến các trưởng phó phòng hành chính quản trị, viện phó, viện trưởng… để có được chữ ký, con dấu đỏ hợp pháp hóa cho các chứng từ, biểu mẫu, báo cáo “giả”, hóa đơn đỏ, nhằm “qua mặt” được các cuộc kiểm tra tài chính của cấp trên, để giải ngân, nghiệm thu… Kết quả là không ít % kinh phí đề tài không cánh mà bay; cùng với nó là sự chán nản, nhụt chí thậm chí mất lòng tin giữa nhà khoa học và nhà quản lý…

2. Không ít các nhà KH thuộc hàng ngũ cây đa cây đề, đã đề xuất với cơ quan quản lý KH cấp trên về những chương trình, dự án, đề tài (chủ yếu thuộc lĩnh vực nghiên cứu triển khai và ứng dụng, KHXH&NV), với những mục tiêu thật hoành tráng nhưng thiếu tính khả thi, hiệu quả và địa chỉ sử dụng “mơ hồ” nhưng vẫn tổ chức nghiệm thu với một hội đồng gồm các chức sắc quen thuộc, nể nang nhau, đánh giá xuất sắc rồi xếp vào tủ (cho đến nay vẫn chưa có tiêu chí đánh giá và quản lý các đề tài này một cách thực sự khoa học) hoặc bịa ra những điều kiện bảo đảm để nhận các dự án đầu tư lớn của Nhà nước. Một số nhà quản lý có quyền lực, mang danh nhà KH “đã biến” công việc thuộc chức trách, nhiệm vụ của cơ quan mình thành các đề tài nghiên cứu với kinh phí hàng tỉ đồng (GS. Hoàng Tụy gọi đây là một dạng tham nhũng mới - tham nhũng trong khoa học). Nói không ngoa vì lợi ích riêng, họ đã chủ động nói dối, lấy tiền đóng thuế của dân chi vào những việc ngoài KH.

Việc đầu tư kinh phí tới hàng nghìn tỉ đồng để xây dựng các Phòng thí nghiệm trọng điểm (PTNTĐ) là một chủ trương đúng đắn. Khi tổ chức tuyển chọn các đơn vị chủ trì nhận dự án đó, lãnh đạo các đơn vị, tổ chức KH nào cũng đều khẳng định mình đầy đủ cơ sở vật chất, hạ tầng, nhân lực và nhiệm vụ KH… Nhưng khi triển khai đạt hiệu quả thấp (thanh tra 3 PTNTĐ của ĐHQG TP.HCM, Vinashin, Bộ NN&PTNT đều phát hiện lãng phí hàng trăm triệu đồng trong xây dựng cơ bản, một số thiết bị chưa được lắp đặt, không có người sử dụng) thì lại nêu lý do chính là thiếu những cái mà khi lập hồ sơ họ cho là đã có đủ. Một Chương trình trong điểm quốc gia được duyệt kinh phí gần 700 triệu đồng, nhưng ông Trưởng ban Chương trình còn muốn “vẽ” thêm việc cần làm để được duyệt trên 1 tỷ, trong khi một thành viên của Chương trình cho rằng chỉ cần 300 triệu là đủ. Đó là hai ví dụ trong nhiều trường hợp nhà khoa học chủ động nói dối.

Với những quy định tài trợ cho NCCB mới được ban hành gần đây, trường hợp các nhà khoa học buộc phải nói dối đã giảm đi rất nhiều. Còn trong các lĩnh vực nghiên cứu khác dường như chúng ta chưa có giải pháp nào tỏ ra hữu hiệu để ngăn ngừa một số nhà KH chủ động nói dối. Đó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hạn chế tác dụng, thậm chí vô hiệu hóa nhiều chính sách quản lý KH&CN tiến bộ như công khai tuyển chọn và đấu thầu các đề tài nghiên cứu, Nghị định 115…, từ đó nảy sinh nhiều vấn nạn nhũng nhiễu, lãng phí, gây nghi ngờ giữa các nhà khoa học,… hiệu quả hoạt động KH&CN thấp.

Vì vậy yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới chính sách, cơ chế quản lý tài chính trong khoa học không chỉ là để các nhà khoa học không phải nói dối mà còn là ngăn ngừa được những nhà khoa học thiếu trung thực không thể nói dối.

TIA SÁNG

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2009

Tiếp viên của Vietnam Airlines

Hôm nay, ngày cuối tuần, có chút thì giờ kể chuyện cổ tích ...

Đã từng nghe qua nhiều về thái độ kẻ cả và hống hách của các tiếp viên thuộc Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam, nhưng tôi chưa từng chứng kiến cho đến chuyến bay vừa qua từ Phú Quốc về Sài Gòn, và bây giờ thì tôi có thể làm nhân chứng về hành vi hết sức vô giáo dục của hai tiếp viên VNA. Tôi phải dùng “VNA” vì tôi sợ làm hoen ố cụm từ “Hàng không Quốc gia Việt Nam”.

Chuyến bay Phú Quốc – TPHCM mang kí danh VN482, ngày 16/8/2009 (2 giờ chiều), cũng chẳng có gì “eventful” nếu không bị làm phiền phức bởi tiếp viên của VNA. Câu chuyện thật đơn giản: tôi ngỏ ý muốn gửi hành lí xách tay của tôi trong khoan sau cùng của máy bay vì tôi thấy khoang chứa hành lí trên đầu ghế có vẻ hơi nhỏ, không giống như máy bay B777 hay Airbus 320. Tuy nhiên, một cô tiếp viên tên là “Bich Thuy” (mà tôi đoán là Bích Thủy hay Bích Thúy) gạt phăng đề nghị của tôi, và nói phải để phía trước ghế. Thấy cách nói hách dịch của cô ấy tôi hơi ngạc nhiên, vì chỉ cách đây vài ngày trong chuyến bay từ TPHCM ra Phú Quốc tôi có dịp tiếp chuyện một anh tiếp viên trẻ của VNA rất dễ mến và hết lòng giúp đỡ khách.

Đến khi đến ghế ngồi số 1D, tôi không thể để hành lí phía trước ghế vì đó là nơi thoát hiểm. Trong khi máy bay đang lăn bánh trên phi đạo sắp cất cánh, một cô tiếp viên khác tên là “Anh Thu” (có lẽ là Anh Thư, nói giọng miền Nam) ra lệnh tôi phải đứng dậy để sắp xếp hành lí vào phía trên. Cô ra lệnh “Anh phải đứng dậy cất hành lí vào đây này”, và chỉ cái khoang hành lí trên đầu. Tôi giải thích rằng khoang đó đã đầy và chưa chắc vừa hành lí xách tay này. Cô ta nhất định không chịu giải thích của tôi. Nhưng tôi cực kì ngạc nhiên về cách nói hống hách và kẻ cả của cô. Tôi sử dụng danh từ “lệnh” vì đó thực sự là cách cô ta nói với tôi. Bởi vì máy bay sắp cất cánh nên tôi từ chối không làm theo “lệnh” của cô.

Thế là cô Anh Thu báo cáo cho cô Bich Thuy (có lẽ là tiếp viên trưởng), và cô Bich Thuy đến làm phiền tôi. Bằng một giọng nói “Hà Lam Linh”, rất chát chúa và khó lọt tai, cũng cực kì hống hách (y như lúc tôi mới gặp lúc nãy) mà chỉ có thể mô tả là thô lỗ và vô giáo dục, cô Bich Thuy lại đến dọa tôi rằng nếu tôi không xếp hành lí vào đúng chỗ thì máy bay sẽ phải quay lại sân bay. Tôi không chịu nỗi và không thể nào chấp nhận thái độ của cô, nên tôi giải thích rằng: “Cô là tiếp viên, cung cấp dịch vụ cho hành khách, phục vụ cho hành khách, chứ không phải là người ra lệnh tôi một cách vô giáo dục như thế”. Một đồng nghiệp tôi thấy cảnh chướng tai gai mắt nên nói thẳng hơn: “Tôi thấy cử chỉ của cô rất ư là mất dạy.”

Có thể đoán được cô ta sốc với cách nói thành thật của chúng tôi. Chúng tôi rất cẩn thận với tiếng Việt, nhưng chúng tôi phải dùng tính từ “mất dạy” để nói với cô ấy, vì chúng tôi không tìm tính từ nào thích hợp hơn.

Qua một vài phút đôi đo, cô Bich Thuy lại dọa ngừng máy bay. Tôi cũng đồng ý để máy bay quay lại nhà ga và giải quyết. Cô ta báo cáo với cơ trưởng. Cơ trưởng (người ngoại quốc) xuất hiện. Tôi chỉ vào cô tiếp viên và nói (bằng tiếng Anh) với ông cơ trưởng rằng tôi không chấp nhận cử chỉ và lời nói thô lỗ của tiếp viên Bich Thuy. Tôi còn nói thêm rằng ông phải dạy cô ta cách hành nghề vì cô ta quá vô giáo dục. Ông ta chỉ nói “Ok”. Máy bay vẫn tiếp tục hành trình một cách êm thắm.

Nhưng tôi và đồng nghiệp tôi không được để yên. Khoảng 20 phút sau khi máy bay cất cánh, cô tiếp viên Bich Thuy lại đến chỗ chúng tôi đòi nói chuyện. Tôi từ chối nói chuyện với cô ta vì tôi không muốn tốn chữ nghĩa với một kẻ mà tôi đã đánh giá là mất dạy. Bằng ánh mắt “ăn tươi nuốt sống” (vì chúng tôi chỉ nhìn thấy mắt do họ đeo khẩu trang), cô ta hung hãn lớn tiếng xúc phạm đến vị đồng nghiệp của tôi (là một tiến sĩ – bác sĩ) trước mặt các hành khách gần đó. Trước thái độ trả đũa đó, tôi kiên quyết yêu cầu cô ta xa chỗ chúng tôi ngồi để chúng tôi được bình yên.

Câu hỏi mà tôi loay hoay đi tìm câu trả lời là tại sao một số tiếp viên VNA quá mất dạy như thế? Thì ra, câu trả lời nằm ở cái văn hóa mà họ được nuôi dưỡng và trưởng thành.

Qua tiết lộ của một giám đốc VNA trên báo chí gần đây, tôi biết rằng nhiều tiếp viên VNA thiếu trình độ học vấn thích hợp cho công việc. Phần lớn họ chỉ học đến trung học, rồi khi vào làm, họ được vội vã gửi đi học tiếng Anh và huấn luyện sơ sài về văn hóa phục vụ trên máy bay. Hệ thống giáo dục ngày nay không đặt nặng giáo dục đạo đức xã hội, nên có thể họ không biết cách hành xử với hành khách. Vì thế tôi nghĩ họ không am hiểu các qui ước xã giao tối thiểu. Lớn lên trong xã hội vô cảm trong thời buổi này càng làm cho họ trở thành những người vô đạo lí. Chính vì thế mà họ không biết kính trên, nhường dưới là gì.

Có lẽ do thiếu huấn luyện tốt nên đại đa số tiếp viên VNA nói tiếng Anh giọng lơ lớ, thậm chí sai. Chẳng hạn như cô Bich Thuy trong chuyến bay của tôi nói tiếng Anh sai, và giọng rất khó nghe. Người khách ngoại quốc ngồi kế tôi nghe tiếng Anh của cô này nói rằng anh ta không hiểu cô nói gì! Trình độ tiếng Anh của họ kém xa đồng nghiệp ngoại quốc.

Tôi cũng biết rằng nhiều cô cậu tiếp viên VNA thường xuất thân từ thành phần COCC (con ông cháu cha), quen kiểu hống hách của cha mẹ là quan chức, nên họ có thể hành xử như kẻ cả người trên. Vì xuất thân COCC và chắc trong nhà cũng có kẻ hầu người hạ nên họ không quen phục vụ người khác như là một nhiệm vụ. Có lẽ chính vì thế mà họ ra lệnh cho hành khách hơn là giúp hành khách. Họ quên chức năng và nhiệm vụ của tiếp viên là gì.

Dù biết và hiểu như thế, nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một tiếp viên hàng không, mặc áo dài Việt Nam, lại có thái độ hung hãn như thế, một thái độ mà nói theo ngôn ngữ dân gian là “chợ búa” và “giang hồ”. Tôi không thể nào tưởng tượng nỗi một tiếp viên hàng không mà hành xử như những kẻ côn đồ như thế!

Trong nhiều năm qua, tôi luôn chọn Vietnam Airlines làm phương tiện đi lại giữa Úc và Việt Nam, hoặc di chuyển trong nước. Trong thời gian đó, dù cung cách phục chưa được tốt như các hãng hàng không quốc tế khác, nhưng tôi chưa bao giờ bị một tiếp viên VNA xúc phạm. Tôi nghĩ rằng hai cô tiếp viên Bich Thuy và Anh Thu chỉ là hai “con sâu làm rầu nồi canh” trong đội ngũ tiếp viên của Vietnam Airlines.

Tôi cũng nghĩ rằng hai tiếp viên Bich Thuy và Anh Thu không xứng đáng đứng trong hàng ngũ tiếp viên của Vietnam Airlines. Thật ra, hai người này không xứng đáng làm bất cứ việc gì có liên quan đến hành khách vì thái độ của họ rất vô giáo dục và vô văn hóa, hoàn toàn phản lại mục tiêu”đem văn hóa Việt đến thế giới” mà VNA đã và đang ra sức quảng bá trên thế giới.

Tôi viết entry này để cảnh báo các hành khách khác nếu chẳng may mắn gặp hai cô tiếp viên Anh Thư và đặc biệt là cô Bích Thủy trên máy bay VNA thì nên đề phòng, hay cách hay nhất là tránh xa hai kẻ lưu manh đội lốt tiếp viên VNA này.

NVT

PS. Ngoài ra, xin mời các bạn ghé đọc câu chuyện "Cướp ngày" do một đồng nghiệp kể lại về hành vi của một viên chức hải quan Tân Sơn Nhất:

http://ngdinhnguyen.multiply.com/journal/item/140

Lần đầu tiên trong đời tôi biết làm một trong những điều mà tôi cho là đáng tởm nhất: hối lộ! Nhưng nói thế thì tôi thấy tội cho tôi, đúng hơn là tôi bị cướp!

...

Bổ sung 21/9/09. Hai bài sau đây do một bạn đọc giới thiệu cũng nói lên phần nào chất lượng phục vụ của tiếp viên VNA

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/VietnamAirlinesFaceMoreComplaints_TMi-20060623.html

Tính chuyên nghiệp của đội ngũ tiếp viên hàng không Việt Nam

Trà Mi, phóng viên đài RFA

Thời gian gần đây, Vietnam Airlines đang phải liên tiếp đối diện với những vụ tai tiếng làm đau đầu chính phủ và gây bức xúc trong dư luận như việc lãng phí ngân sách nhà nước mua sắm động cơ, hay việc tuỳ tiện đài thọ cho con cháu quan chức du học nước ngoài.

Vào khi giới chức của Tổng công ty hàng không Việt Nam vẫn chưa tìm ra lời giải đáp thoả đáng trước hàng loạt các nghi vấn đang được đặt ra thì mới đây lại xuất hiện thêm các cáo buộc về những khoản “tiêu cực phí” hàng chục ngàn mỹ kim lót đường cho một vị trí tiếp viên hàng không.
Việc này khiến công luận lại thêm chú ý đến tính chuyên nghiệp cũng như tiêu chuẩn của đội ngũ tiếp viên hàng không Việt Nam vốn lâu nay đã bị than phiền rất nhiều.

Trà Mi trao đổi với một nhân viên của hãng và một hành khách quen thuộc của Vietnam Airlines liên quan đến đề tài này.

Đánh giá chung về thái độ cư xử và cung cách làm việc của lực lượng tiếp viên hàng không Vietnam Airlines, anh Phúc, ngừơi thừơng xuyên sử dụng dịch vụ của hãng cho các chuyến công tác nội địa và quốc tế, nhận xét:

Anh Phúc: Nói chung và trung bình kém, chắc chắn là không bằng nước ngoài, nhiều điều chưa tốt.

Trà Mi:
Thưa anh nói là trung bình kém, anh có thể nói rõ hơn ở những khía cạnh nào?

Anh Phúc: Service dịch vụ trên máy bay, cung cách và thái độ phục vụ của tiếp viên ở đây. Rất nhiều người mặt lạnh lùng, vô cảm, khả năng ngoại ngữ không tốt. Một số theo tôi nghĩ là không đủ tiêu chuẩn đâu, thế còn vấn đề tại sao họ vào được thì mình không có ý kiến.

Vietnam Airlines xưa giờ mọi người vẫn than phiền nhiều lắm rồi, nhất là việc chuyến bay muộn, không đúng giờ. Dạo gần đây tôi bay nội địa nhiều hơn nước ngoài và có cảm giác rằng chất lượng của tiếp viên đoàn từ hình thức đến nội dung đều không bằng lúc trước. Tôi mong muốn điều này được cải thiện tốt hơn vì là khách hàng, mình phải trả tiền cho dịch vụ đó mà. Trước mắt thì còn rất nhiều hạn chế khó mà khắc phục được ngay nên dịch vụ không tốt cũng phải đành chịu.

Cùng một đề tài, chúng tôi đã hỏi thăm một nhân viên của hãng hiện đang công tác tại sân bay Tân Sơn Nhất để tìm hiểu thêm. Cô cho biết nhận xét của mình về đội ngũ tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines hiện nay.

Nhân viên Vietnam Airlines: Bây giờ đã có tiến bộ khá hơn rất nhiều nhưng so với nước ngoài thì vẫn còn yếu kém, thiếu tính chuyên nghiệp, nhanh nhẹn, gọn gàng, chưa niềm nở.

Trà Mi: Còn nói về cung cách phục vụ có ân cần chu đáo hay không?

Nhân viên Vietnam Airlines: Tương đối thôi không tốt lắm.

Trà Mi: Bản thân chị cũng có nhiều cơ hội đi ra nước ngoài, nếu so sánh đội ngũ tiếp viên nhà với quốc tế, chị thấy có những điểm gì khác biệt?

Nhân viên Vietnam Airlines: Nhiều lắm. Tiếp viên của mình được cái là đẹp. Tiếp viên nước ngoài rất nhanh nhẹn, chu đáo, chỉ cần hỏi mình ngắn gọn là biết mình cần gì là đáp ứng ngay. Về khả năng ngoại ngữ của đội ngũ tiếp viên nhà thì không giỏi lắm. Giao tiếp thông thừơng chỉ nhiêu đó thôi vì không có thời gian tiếp chuyện với khách nhiều để trao dồi thêm.

Trà Mi: Nói vậy có nghĩa là những gì họ trang bị trước khi trở thành 1 tiếp viên quá sơ sài chỉ giới hạn ở những giao tiếp bình thừơng thôi?

Nhân viên Vietnam Airlines: Khả năng ngoại ngữ họ rất hạn chế không phải cái gì cũng nói được, và phát âm không chuẩn…

Trà Mi: Như vậy trước khi vào nghề người ta không dành thời gian đào tạo chuyên sâu khả năng ngoại ngữ cho nhân viên sao?

Nhân viên Vietnam Airlines: Không, những khoá ngoại ngữ đa số căn bản, không chuyên sâu, trong thời gian ngắn hạn thôi và ở trình độ thấp…

Trà Mi: Có nhiều lời đồn đại không hay rằng tiếp viên hàng không đa số là do quen biết, lo lót . Chị làm trong sân bay, chị thấy điều này có phải là một thực tế?

Nhân viên Vietnam Airlines: Có chứ. Gần đây nhất là có 1 nguòi tố cáo phải mất 20 ngàn đô để xin một vị trí tiếp viên. Hồi khoá tôi vào là những năm 90 lúc đó 1 ngàn đô lớn lắm mà người ta đã phải trả 5-6 ngàn cho một vị trí dưới mặt đất rồi huống hồ chi bay.

Trà Mi: Nhưng chị thấy điều này có phổ biến không hay chỉ là hiện tượng lâu lâu một lần?

Nhân viên Vietnam Airlines: Khoá nào cũng có hết. Thừơng họ tuyển vào chọn những người quen biết trước, sau đó là thành phần lo lót , cuối cùng mới tới những ngừơi may mắn bên ngoài lọt vào. Tiêu cực thật ra là do có người hữu trách ra giá chứ làm sao mà người ở ngoài biết giá mà chạy.

Trà Mi: Nếu những chuyện này ai cũng biết như vậy và xảy ra lâu dài mà không có biện pháp thay đổi sao?

Nhân viên Vietnam Airlines: Rất khó thay đổi những việc này là do chính những ngừơi lãnh đạo…có rất nhiều phức tạp mà khó chấm dứt được… Mặt khác, nhiều ngừơi cứ lo chạy chọt vào ngành hàng không vì sự hào nhoáng của nó… Có người xin xỏ thì mới xảy ra những chuyện như vậy…

Trà Mi: Nhưng chắc thực tế nó cũng là một nghề hái ra tiền nên người ta mới lao chân vào?

Nhân viên Vietnam Airlines: Chính xác, làm rất nhiều tiền. Tiếp viên có thể buôn bán, vận chuyển hàng lậu các loại. Nhân viên mặt đất kiểm tra thì kiếm tiền trên hành lý của khách. Chứng kiến thấy nhiều người chỉ cần vài tháng là kiếm rất nhiều tiền. Có ngừơi chỉ vài tháng tết mà có thể mua sắm hột soàn rất mắc tiền. Nói chung đó là 1 guồng máy. Thực tế 100% ai vô ngành cũng phải làm ăn như thế cả.

Trà Mi: Những tiêu cực nảy xảy ra thừơng xuyên như vậy có phải là do không có biện pháp xử phạt, chế tài?

Nhân viên Vietnam Airlines: Có chứ. Quy định cấm thậm chí có cả camera trong sân bay mà nhưng không hiểu vì sao vẫn không kiểm soát được. Chỉ những trường hợp nào quá lộ liễu mới bị đuổi, bị phạt thậm chí đưa qua khâu vệ sinh làm 6 tháng rồi quay lại vị trí nhưng cũng không hiệu quả, không ngăn chặn được gì cả. Tất cả vẫn theo 1 guồng máy.

Trà Mi: Xin chân thành cảm ơn chị đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/06/printable/060620_airlines_luongchiduc.shtml

Xét 'lý lịch' vào làm ở Vietnam Airlines

Một người đã được Vietnam Airlines tuyển dụng vào làm tiếp viên và tốt nghiệp đào tạo sau kỳ trúng tuyển nói rằng hiện đang phải ở nhà chừng một năm không được trả lương và chưa được đi làm bởi điều ông gọi là Vietnam Airlines đang còn chờ Bộ Công An xác minh lý lịch.

Ông Lương Chí Đức nói với BBC rằng ông đã trúng tuyển vào học lớp nghiệp vụ tiếp viên hàng không, có thời hạn 6 tháng tại Trung tâm Huấn luyện bay.

Tuy nhiên, sau khi hoàn thành khoá huấn luyện thì gần một năm qua ông Đức không được sắp xếp công việc với lý do mà Vietnam Airlines nói là 'còn chờ Bộ Công an đang xác minh lý lịch'.

Trong mấy ngày gần đây một số tờ báo tại Việt Nam đăng tin trong kỳ thi tuyển tiếp viên khoá 41 của Vietnam Airlines, đã xuất hiện đường dây 'chạy việc' cho các thí sinh và rằng gia đình ông Lương Chí Đức đã đóng 20.000 đôla cho một 'cò' vốn hứa sẽ đưa Đức trở thành tiếp viên của Vietnam Airlines.

Ông Đức nói với BBC rằng "đó là tiêu cực xã hội và nhà tôi bị lừa và việc chạy chọt này là không liên quan đến kết quả xét tuyển của tôi".

Ông Đức nói quá trình mà ông gọi là bị lừa đảo này thực ra liên quan tới quá tình thi tuyển đầu vào và công an đang chứng minh điều này chứ không hề liên quan tới việc xét lý lịch của ông.
Trả lời phỏng vấn của BBC Việt Ngữ ngày hôm 20/06, ông Lương Chí Đức nói cho tới thời điểm này ông không nhận được câu trả lời nào từ phía Vietnam Airlines:

Lương Chí Đức: Khi tôi vào tham dự khóa huấn luyện lớp tiếp viên hàng không, cái quyết định cho biết trúng tuyển không chỉ có riêng tôi mà đó là danh sánh của hơn 150 người. Chứ có phải là tôi tự vào học đâu.

Thủ tục là thế này, trong quy trình tuyển lựa, khi tôi đáp ứng yêu cầu của ban tuyển sinh thì tôi nhận được quyết định trúng tuyển, và trở thành học viên của trung tâm huấn luyện bay. Khóa học kết thúc, tôi sẽ thành tiếp viên của Vietnam Airlines.

Như nhiều người khác, tôi đáp ứng đầy đủ yêu cầu của khóa học, tốt nghiệp rồi, nhưng bây giờ Vietnam Airlines chưa cho tôi đi làm vì bên Bộ Công an chưa gửi bản xác minh lý lịch của tôi cho Vietnam Airlines. Nên tôi vẫn chưa được đi làm. Nghĩa là bây giờ chỉ thiếu một bản xác minh lý lịch gia đình là theo nguyên tắc, tôi sẽ được đi làm như những người khác.

BBC:Khoảng thời gian chờ đợi này như vậy là có lâu không, hay cũng bình thường khi áp dụng với các học viên khác?

Không bình thường ở chỗ Bộ Công an hoặc bên tổ chức cán bộ cố tình gây khó dễ cho tôi. Tôi chờ một năm qua mà không có câu trả lời của Vietnam Airlines. Tôi bây giờ chịu cảnh thất nghiệp trong khi đã ký giấy cam kết rằng sau khi hoàn tất khoá học thì phải làm cho Vietnam Airlines, nếu không phải đền tiền đào tạo.

BBC:Việc xác minh lý lịch của anh lẽ ra cần làm trước khi anh thi tuyển vào Vietnam Airlines, sao lại là sau khi vào rồi mới làm, thưa anh?

Câu hỏi rất là đúng. Tại sao Vietnam Airlines không phối hợp với Bộ Công an làm công việc ấy trước khi tuyển? Phi công thì được xác minh trước khi tuyển, nhưng tiếp viên chúng tôi thì họ lại làm sau khi đã tuyển. Tôi thuộc khóa 41, và nhiều người ở các khóa, 38, 39 cũng đã rơi vào tình trạng như tôi hiện nay. Có người cũng đã chờ đợi cả năm để chờ được xác minh lý lịch, rất là mệt mỏi.

BBC:Sau khi đào tạo cho anh mà không tuyển dụng, vậy có điều khoản nào bắt Vietnam Airlines bồi thường không?

Nếu Vietnam Airlines không bồi thường, chúng tôi sẽ kiện lên Bộ Lao động – Thương Binh – Xã hội.

BBC:Trong trường hợp Bộ Công an kết luận là không thể tuyển anh vì lý do gì đấy trong lý lịch, anh làm gì?

Không có lý do gì để mà tôi không được tuyển cả. Gia đình nhà tôi không phải thành phần chống đối nhà nước, chưa từng phạm pháp. Bản thân tôi chưa bao giờ làm gì phạm pháp, nên không có lý do gì mà không cho tôi đi làm.

Tôi đã hỏi bên Vietnam Airlines thì hỏi chỉ trả lời rằng họ không biết, mà còn đang chờ kết quả xác minh lý lịch của Bộ Công an. Tôi biết có nhiều người vướng mắc như tôi vậy, cứ vấp lý do chưa được xác minh lý lịch và phải chờ đợi một thời gian mới xong.

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2009

Mô hình nào của ĐH chuẩn mực quốc tế

Thấy tạp chí Tia Sáng có đi một bài bình luận về tính khả thi của đề án xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị (trích dưới đây), tôi cũng muốn có vài lời bình luận thêm (bổ sung entry trước đây của tôi).

Một quan chức của Bộ GDĐT lấy mô hình của Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông (HKUST) để cho rằng đề án của Bộ là khả thi. Quan chức này nói: “Tuy vậy, chỉ trong vòng 15 năm kể từ ngày khai giảng khoá đầu, trường đã được NewsWeek xếp hạng 60 trên toàn thế giới, cao nhất trong số các trường ĐH ở Hồng Kông.” Thật khó tin! Tia Sáng hỏi “không biết trường này có trong tốp 200 theo xếp hạng của ĐH Thượng Hải?”

Nhưng như tôi nói trước đây, có nhiều cách xếp hạng, và chẳng có cách nào khách quan cả. Ngay cả cách xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải cũng bị các chuyên gia Hà Lan xem là ngớ ngẩn, và thiếu chuyên nghiệp. Nhưng để trả lời câu hỏi của Tia Sáng, tôi thử tra bảng xếp hạng của Đại học Giao thông Thượng Hải thì thấy HKUST được xếp vào hạng 212 trên thế giới, sau trường Chinese University of Hong Kong (hạng 204). Ngay cả xếp hạng ở Á châu năm 2008, trường Chinese University of Hong Kong vẫn cao hơn HKUST.

Do đó, nói như quan chức của Bộ GDĐT không hẳn đúng, vì HKUST không phải là trường được xếp hạng cao nhất ở Hồng Kông. Lấy HKUST ra làm mô hình để phát triển thì tôi e rằng không nên.

Cách xếp hạng thường dựa vào các chỉ tiêu như sự thành đạt của cựu sinh viên, giải thưởng quốc tế của các giáo sư, nghiên cứu khoa học, v.v… Nhìn vào bảng xếp hạng thì thấy điểm về cựu sinh viên và giải thưởng quốc tế của HKUST là 0 (có lẽ còn quá “trẻ”, mới 18 năm); điểm về các công trình nghiên cứu có chất lượng cao, có ảnh hưởng, thì trường này thuộc vào loại làng nhàng (16.3 trên 100), nhưng điểm về nghiên cứu khoa học nói chung thì họ kha khá (33.5 trên 100). Nói cách khác, HKUST đi lên nhờ vào nghiên cứu khoa học là chính.

Tuy nhiên, phải ghi nhận một điều là chỉ trong vòng 18 năm mà HKUST đã vươn từ một trường vô danh thành một trường có tiếng như vậy cũng rất đáng được khen. Thành tựu đó một phần là do kinh phí dồi dào (hàng tỉ USD đã được đầu tư), nhưng phần lớn là do lãnh đạo tốt, có uy tín thu hút một lực lượng giáo sư và nhà khoa học có tiếng làm việc cho trường. Tôi chưa đến HKUST lần nào, nhưng từng làm visiting professor (hình như VN dịch là “giáo sư thỉnh giảng”) cho Chinese University of Hong Kong thì tôi thấy cách làm việc ở đây (từ quản lí đến hành chính) chẳng khác gì các đại học phương Tây. Thật vậy, tôi thấy mình “at home” và rất thoải mái ngay từ ngày đầu tiên làm việc ở đây, “at home” đến nỗi có lần tôi suýt bỏ Úc sang đây đầu quân theo lời mời của một đồng nghiệp.

Nhìn lại tình hình ở Việt Nam ta, tôi thấy khó có trường nào có thể đuổi kịp HKUST. Ở Việt Nan, có thể chúng ta không có nhiều nhà khoa học tài giỏi như Hồng Kông, nhưng chúng ta không thiếu những tài năng vượt trội tầm cỡ quốc tế; cái mà chúng ta thiếu môi trường cho tài năng được chấp cánh và phát huy.

Môi trường khoa học còn quá kém. Lãnh đạo với tư duy cũ, tầm nhìn về khoa học còn hạn hẹp, tính đố kị của người Việt, chuyện cởi mở, chuyện hiểu biết thế nào là đẳng cấp quốc tế, v.v… Tôi có nói chuyện với vài hiệu trưởng đại học ở trong nước, và cảm nhận mà tôi có được là họ quá bận rộn với việc quản lí (management) nên không có thì giờ suy nghĩ về chiến lược (strategy). Nói cách khác, lãnh đạo đại học ở VN đang chỉ là nhà quản lí chứ chưa là nhà chiến lược. Họ chưa có thì giờ nhìn xa để thấy 5 hay 10 năm nữa đại học của mình ở đâu trên thế giới này, mà chỉ loay hoay với những chuyện hàng ngày. Họ cũng không có cố vấn có kính nghiệm quốc tế. Có lãnh đạo đại học y thậm chí vẫn còn khám bệnh và làm phẫu thuật! Thế thì khó mà đòi hỏi họ một tầm nhìn chiến lược được.

Môi trường quản lí còn quá nhiều rào cản và mang màu sắc chính trị hóa. Nào là phải đảng viên mới có quyền làm hiệu trưởng hay trưởng khoa được, rồi chuyện “cơ cấu” (xếp người vào vị trí theo một qui trình nào đó), chuyện “hành là chính”, v.v… Chẳng nói gì xa xôi, chỉ việc một giáo sư nước ngoài về giảng bài hay nói chuyện trong hội nghị mà ban tổ chức cũng phải chạy đôn chạy đáo xin phép … an ninh. Với những khó khăn như thế thì thì nói gì đến chuyện xây dựng một (chứ chưa nói 4) đại học đẳng cấp quốc tế.

Trước đây tôi có phát biểu trên Tia Sáng, và nay lặp lại một ý liên quan đến vấn đề này: Tôi nghĩ mô hình đại học mới phải như CalTech hay ANU của Úc, tức là tập trung vào nghiên cứu sinh và nghiên cứu khoa học. Không cần đại học lớn, chỉ vài trăm (<1000 sinh viên tài giỏi) và một nhóm giáo sư tài giỏi tầm cỡ quốc tế thật sự thì có thể trong vòng 10-15 năm đưa trường lên đẳng cấp quốc tế (lấy kinh nghiệm ANU). Chúng ta nên bắt đầu nhỏ nhưng chắc và tốt, và sau đó phát triển lớn lên; chứ không nên bắt chước một trường như HKUST. Không nên đặt mục tiêu duy ý chí kiểu 10 năm nữa phải có trường đẳng cấp quốc tế, hay “phấn đấu” thế này thế nọ; chỉ âm thầm thực hiện và thực hiện tốt thì thế giới sẽ biết chứ không cần đánh trống tự xưng mình là “đẳng cấp quốc tế”.

Tôi vẫn nghĩ giáo dục đại học VN cần một cuộc cách mạng, mà người cầm đầu phải như … Đặng Tiểu Bình. Mèo đen hay mèo trắng gì cũng được, miễn là đưa giáo dục đại học lên một tầm cỡ mới, sánh vai cùng bè bạn trên thế giới, để sao cho sinh viên mình cầm mảnh bằng MS hay PhD từ đại học VN ra ngoài không cảm thấy xấu hổ.

NVT

===

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=76&CategoryID=3&News=2979

Tự xây dựng trường ĐH chuẩn mực quốc tế 02:52-17/08/2009

Việc bàn thảo xây dựng ở Việt Nam một trường đại học đẳng cấp quốc tế khởi đầu cách đây vài năm, dường như đã lắng xuống thì gần đây sôi động trở lại khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra dự án sẽ vay của WB và ADB khoảng 400 triệu USD và hợp tác với một số đại học và tổ chức nước ngoài vào năm 2013, sẽ xây dựng mới 4 trường đại học công lập đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao, tiến tới trình độ quốc tế vào năm 2020, trong đó có ít nhất một trường lọt vào tốp 200 của thế giới.

Cụ thể là trường đại học Việt Đức trong khuôn viên ĐHQG TP.HCM, Đại học KH&CN tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và hai trường đại học ở Đà Nẵng và Cần Thơ. Tại cuộc lấy ý kiến các chuyên gia và nhà khoa học trong và ngoài nước ở Hà Nội đầu tháng 8, dường như để minh chứng cho tính khả thi của dự án này, bà Trần Thị Hà Vụ trưởng Vụ GD-ĐH đã dẫn ra sự thành công của ĐH KH&CN HongKong (HKVST) - chỉ sau 15 năm xây dựng đã được Newsweek xếp hàng 60 trên thế giới(không biết trường này có trong tốp 200 theo xếp hạng của ĐH Thượng Hải?). Nhưng phần lớn những người am hiểu giáo dục đại học đều không tin vào tính khả thi của dự án, dù chúng ta có đổ vào đó không chỉ 400 triệu USD mà là cả tỉ USD. Họ đã có lý, vì tiêu chí hàng đầu của một đại học đẳng cấp quốc tế là một trung tâm nghiên cứu và đào tạo mạnh với một đội ngũ GS, giảng viên có nhiều công bố quốc tế, có hệ số trích dẫn cao. Vậy chỉ trong thời gian gần chục năm làm cách nào chúng ta có được đội ngũ GS, giảng viên như vậy cho các trường kể trên? Trong khi chất lượng nghiên cứu của đội ngũ GS, giảng viên các trường ĐH hiện nay của ta còn rất hạn chế. (Số công bố quốc tế trong lĩnh vực toán - một lĩnh vực thuộc loại mạnh hàng đầu của Việt Nam - của tất cả các trường ĐH và Viện toán của ta trong năm chỉ bằng số công bố quốc tế của trường ĐH Toulouse - một trường ĐH hạng trung bình ở Pháp). Hơn nữa, theo nguồn tin rất đáng tin cậy của một giáo sư, thì có đối tác của 4 trường trên còn xa mới được coi là trường đạt chuẩn mực quốc tế, nói gì đến đẳng cấp quốc tế. Đối tác như vậy không hy vọng họ có thể thu hút được các nhà khoa học uy tín nước ngoài đến Việt Nam tham gia giảng dạy.

Từ bài học các nước đang phát triển có trình độ KH&CN và tiềm lực kinh tế hơn ta nhiều như Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước khác trong xây dựng trường ĐH đẳng cấp quốc tế cho thấy không có trường hợp nào do nước ngoài làm hoặc áp đặt một mô hình của nước ngoài mà thành công. Điển hình là năm 2005, George Mason, một trong những trường Đại học Mỹ đầu tiên mở một chi nhánh đào tạo ở Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập, nhưng vào tháng 5 vừa qua, nó trở thành trường đầu tiên quyết định đóng cửa, dù chưa hề cho tốt nghiệp một sinh viên nào. Vì vậy việc chúng ta hợp tác với nước ngoài để xây dựng một số trường ĐH là cần thiết nhưng với thực trạng của nền kinh tế - xã hội và giáo dục đại học hiện nay của ta, không nhất thiết đặt ra mục tiêu top 200 - “có tính chính trị” như vậy- mà chỉ đặt vấn đề xây dựng các trường ĐH theo chuẩn mực quốc tế, nhằm đào tạo những chuyên gia có kỹ năng cao, đóng góp vào sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.

Theo GS Hoàng Tụy, nếu chúng ta thực sự mong muốn về lâu dài có được một trường đại học có đẳng cấp quốc tế thuộc hạng trung bình của các nước tiên tiến, thì trước mắt phải bắt đầu từ việc tự xây dựng một trường đại học với qui mô nhỏ, chọn lọc một vài ngành học mà ta có tiềm lực mạnh với từ 200 - 300 sinh viên, nhưng mọi hoạt động giảng dạy và đào tạo của trường ngay từ đầu phải theo các chuẩn mực quốc tế và ngày càng phấn đấu theo chuẩn mực cao hơn. Bộ máy quản lý của trường thời kỳ đầu cần thu hút được những GS có uy tín lớn, cần thiết có thể mời các GS người nước ngoài. Trong bối cảnh của Việt Nam, để có thể xây dựng được một trường ĐH đẳng cấp quốc tế, là một việc lâu dài rất khó khăn, phải vượt qua không ít chướng ngại về thể chế, về văn hóa nghiên cứu, tính cạnh tranh... đặc biệt là chính sách tiền lương, đãi ngộ vật chất. Vì vậy theo GS Hoàng Tụy, sự quyết tâm cùng với các chính sách của các nhà quản lý là điều cần nhưng chưa đủ. Phải huy động được sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà giáo có uy tín quốc tế và chỉ có họ mới có thể huy động thêm được nguồn lực và tư vấn cho các nhà quản lý những bước đi và giải pháp thích hợp.

TIA SÁNG

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2009

Giáo sư và đại học Việt Nam

Bài dưới đây có nhiều thống kê có ích và nói lên một khía cạnh quan trọng của giáo dục đại học nước ta hiện nay.

Theo bài này, VN hiện nay có đến 376 trường đại học và cao đẳng! Không biết có bao nhiêu đại học? Theo thống kê niên học 2006-2007 thì cả nước có 139 trường đại học và 183 cao đẳng; và với tỉ số này, chúng ta có thể đoán VN đang có 162 trường đại học. Chỉ có 2 năm mà con số đại học tăng chóng mặt! Chỉ có ở Việt Nam chúng ta mới có những “tiến bộ” vượt bực này.

Còn số giáo sư? Theo thống kê thì hiện nay VN có khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư, trong số này số GS là 1100 người. Nhưng theo bài này, số GS/PGS ở các đại học chỉ 320 GS (chiếm 29% tổng số GS) và 1966 PGS (chiếm 36% tổng số). Như vậy, khoảng 65% GS/PGS ở VN không dạy học. Họ là ai? Chắc là các quan chức trong các bộ và sở.

Vẫn theo thống kê niên học 2006-2007, cả nước có 47,646 giảng viên tại các trường đại học và cao đẳng; trong số này có 417 giáo sư và 1871 phó giáo sư. Đến nay (2009) thì có 320 giáo sư và 1966 phó giáo sư. Như vậy, số giáo sư giảm, nhưng số phó giáo sư tăng! Một xu hướng bất bình thường.

Nếu giả dụ rằng cả nước có 162 trường đại học, và với con số GS/PGS là 2286 người, thì tính trung bình, mỗi đại học chỉ có 14 GS/PGS. (Không dám so sánh với đại học nước ngoài, vì tổng số GS ở các đại học của VN còn ít hơn số GS của một đại học lớn của Mĩ).

Theo số liệu thống kê của Bộ GDĐT thì số sinh viên đại học hiện nay là khoảng 1.2 triệu. Như vậy tính trung bình cứ 25 sinh viên có một giảng viên (1.2 triệu chia cho 48,000 giảng viên). Tuy nhiên, trong số 48,000 giảng viên này, có hơn 50% ở trình độ cử nhân, 30% thạc sĩ, và 13% tiến sĩ. Do đó, nhìn vào các con số này, chúng ta có thể nói rằng đại học nước ta vẫn chủ yếu là cử nhân dạy … cử nhân.

Trong bối cảnh này mà ngài Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói rằng trong 4 năm nữa sẽ xây 4 trường đại học đẳng cấp quốc tế! Dù rất muốn Việt Nam có một đại học tên tuổi trên trường quốc tế, nhưng với trình độ hiện tại (H-index tối đa của giáo sư VN chỉ khoảng 15) và với cái cơ chế hiện tại thì tôi e rằng ý tưởng đó của ngài bộ trưởng quá lãng mạn.

NVT

===

http://vietnamnet.vn/giaoduc/2009/08/864997

376 trường đại học, cao đẳng chỉ có 320 giáo sư

Cả nước hiện có 320 giảng viên ĐH chức danh giáo sư (GS), chiếm 0,52% trong gần 62.000 giảng viên cơ hữu ở 376 đại học, học viện, trường ĐH, CĐ. So với năm học trước, số GS đã tăng 6 người, trong khi lượng sinh viên tăng gần 120.000 em.

Thống kê này được tính đến ngày 10/8 và Bộ GD-ĐT sẽ đưa ra trước hội nghị tổng kết năm học 2008 - 2009 khối ĐH, CĐ tổ chức tại Hà Nội vào ngày mai (25/8).

Theo thống kê, số giảng viên có chức danh PGS là 1.966, đạt tỷ lệ 3,21%, tăng 121 người so với năm học 2007 - 2008.

Qua một năm học, số giảng viên cả nước đã tăng hơn 9% với 5.070 người. Trong số đó, tăng nhiều nhất là lượng giảng viên có trình độ thạc sĩ.

Cụ thể, số giảng viên có trình độ tiến sĩ là 6.217, đạt tỷ lệ 10,16% (tăng 335). Số giảng viên có trình độ thạc sĩ là 22.831, đạt tỷ lệ 37,31% ( tăng 2.556).

Lượng giảng viên này đảm nhiệm công tác giảng dạy cho hơn 1,7 triệu sinh viên.
Từ năm 2000 - 2007, Việt Nam đã công nhận 3.252 GS và PGS, trong đó có 450 GS và 2.802 PGS.

Năm 2008 việc công nhận bị gián đoạn. Dự kiến công việc này sẽ tiếp tục vào tháng 11/2009. Theo số liệu mới nhất của Hội đồng Chức danh Giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN), hàng năm, Việt Nam công nhận 41 GS và 255 PGS. Con số này ít hơn số nghỉ hưu - trung bình mỗi năm là 866 người (gồm 50 GS, 716 PGS).

Trong số cán bộ khoa học đang làm việc ở các trường ĐH, CĐ, có tới 75% đã quá tuổi 50.

‘Điều này đáng báo động về thực trạng thiếu cán bộ khoa học kế cận”, Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ Môi trường (Bộ GD-ĐT) Tạ Đức Thịnh nhìn nhận.

“Còn khiêm tốn”, Giám đốc ĐH Đà Nẵng Bùi Văn Ga cho biết về đội ngũ cán bộ đầu ngành có kinh nghiệm ở đại học này, dù ĐH đã "nỗ lực xây dưng đội ngũ trong gần 35 năm qua".

Việc thiếu cán bộ đầu đàn, không đủ cán bộ có kinh nghiệm giảng dạy và có trình độ cao ở từng lĩnh vực chuyên môn chính dẫn tới hậu quả không đủ người có năng lực biên soạn giáo trình.

Sự thiếu hụt nguồn nhân lực đầu đàn cũng góp phần khiến nhiều chương trình ở các trường không được xây dựng theo cấu trúc và các khối kiến thức quy định; để lẫn lộn các học phần giữa các khối kiến thức; khối lượng kiến thức không đủ yêu cầu tối thiểu đối với trình độ đào tạo hoặc kiến thức cốt lõi tối thiểu của ngành đào tạo; có tên ngành đào tạo không phù hợp với nội dung chương trình. Nhiều học phần có tên gọi quá cũ thể hiện nội dung cũ, không được cập nhật.

Một "hậu quả" khác là sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên đào tạo trình độ tiến sĩ và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Thậm chí, có những chuyên ngành chỉ có một hoặc hai người có đủ trình độ tham gia giảng dạy và tham gia hội đồng chấm luận án.

"Trẻ hóa đội ngũ"

Ngày 17/7/2009, Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) đã ban hành qui định và tiêu chuẩn mới cho chức danh GS, PGS.

Theo GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia), quy định mới có phần hợp lí hơn so với các quy định trước, nhưng vẫn còn rất khác và phức tạp hơn so với các chuẩn mực ở nước ngoài.

Tại phiên họp thứ nhất của HĐCDGSNN khóa 2009 - 2014, nhiều ý kiến cho rằng với các mức ’chấm điểm" tỷ mỉ dành cho ứng viên GS, PGS sẽ hạn chế các trường hợp ứng viên trẻ; đặc biệt là những người có năng lực khoa học tốt đã được thể hiện qua các bài báo đăng ở tạp chí uy tín nước ngoài nhưng chưa đủ thời gian để hướng dẫn NCS, nhất là "đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ" hoặc tiêu chuẩn "chủ nhiệm đề tài", "chủ trì đề tài"...

GS Nguyễn Trọng Giảng, Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội cho biết, thay đổi theo hướng chính xác, đơn giản hoá sẽ giúp cho việc "trẻ hóa" đội ngũ PGS, GS ít gặp trở ngại.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

Làm theo Di chúc cụ Hồ

Hôm nay, Việt Nam nghỉ lễ Quốc khánh 2/9. Cố nhiên, ai cũng biết ngày 2/9 là ngày mà cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 2/9 năm nay cũng là ngày kỉ niệm 40 năm cụ Hồ Chí Minh qua đời. Một thời gian dài, cả nước đều nghĩ ông cụ qua đời vào ngày 3/9/1969, vì lúc đó Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng công bố như thế. Mãi đến năm 1989, Bộ Chính trị (dưới thời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) mới công bố ông cụ mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969.

Ở trong nước, Nhà nước và các đoàn thể đang phát động phong trào học tập và làm theo di chúc cụ Hồ. Đường xá khắp nước đều treo biểu ngữ với nội dung như “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “40 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ”, v.v…

Vậy thì Di chúc cụ Hồ nói gì? Thật ra, cụ Hồ viết di chúc lần đầu năm 1965 (lúc đó có chữ kí của Bí thư thứ nhất Lê Duẩn); lần thứ hai ông cụ bổ sung vài điều vào năm 1968; và lần bổ sung chỉnh sửa sau cùng là năm 1969. Nhưng Bộ Chính trị chọn công bố bản đầu tiên (1965) để công chúng biết. Trong di chúc viết năm 1965, ở phần “Về việc riêng”, ông cụ viết rõ là sau khi ông qua đời, không nên tổ chức đám tang rình rang làm lãng phí thì giờ và tiền bạc của dân. Ông viết tiếp:

“Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là 'hỏa táng'. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.”

Thế nhưng chúng ta biết ý nguyện được hỏa táng của ông cụ không được thực hiện. Vậy thì năm nay, 40 năm sau ngày ông cụ mất, nếu kêu gọi làm theo di chúc của cụ Hồ thì có nên làm theo ý nguyện trên hay không?

NVT


Thấy bài sau đây trên talawas cũng thú vị:
http://www.talawas.org/?p=9479

talawas – Trung tướng Đặng Quốc Bảo từng giữ các chức vụ như: Hiệu trưởng trường Đại học Kỹ thuật Quân sự (1968-1976), Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV) và Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng.

Ông được coi là người có những suy nghĩ cải cách mạnh bạo trong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài phát biểu ngày 18 tháng 7 năm 2003 về Xây dựng Đảng và một bức thư tố cáo tham nhũng, được coi là của ông, đã lưu hành trên mạng.

Ngày 1/8/2008, ông được tặng Huân chương Hồ Chí Minh “vì thành tích xuất sắc đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và sự nghiệp tuyên giáo của Đảng”. Gần đây nhất, chân dung ông được miêu tả trong bài “Ma lực Đặng Quốc Bảo” của nhà báo Xuân Ba trên Tiền phong ngày 15/6/2009.

Bản đánh máy, ghi cuộc trò chuyện với ông ngày 26/6/2009 đang được chuyền tay trong nước. Chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả.

Trò chuyện với nguyên Ủy viên BCHTƯĐCSVN Đặng Quốc Bảo: Ta độc tài cộng sản

Đại tá Tạ Cao Sơn và đại tá Quách Hải Lượng ghi ngày 26/6/2009

Có mấy vấn đề: 1) Bàn về chủ thuyết phát triển; 2) Hiểu biết thế giới toàn cầu hóa; 3) Chống độc tài, thực hiện dân chủ.

I. Muốn phát triển, điều đầu tiên, yếu tố đầu tiên là phải giữ được an ninh quốc gia. An ninh quốc gia ở đây nổi lên là vấn đề Trung Quốc. Không xử lý vấn đề Trung Quốc, không thể phát triển. Trong mọi khó khăn, cái khó khăn nhất là đối phó với Trung Quốc.
Vậy, trong vấn đề phát triển của Việt Nam phải đặt vấn đề Trung Quốc lên hàng đầu. Có 5 điều kiện thực hiện phát triển của Việt Nam:

Khắc phục vấn đề Trung Quốc;

Nhận thức đúng về chủ nghĩa tư bản. Phải thấy: nó không chết, nó có nhiều biến động, vận động nội tại rồi biến thành một xã hội tốt đẹp hơn. Hiểu như vậy ta sẽ chung sống và lợi dụng được nó để có thêm điều kiện phát triển. Chủ nghĩa tư bản phát triển có cơ chế và yếu tố chống độc tài. Những người cộng sản không học được điều này ở CNTB. Cho nên, khi lên cầm quyền đã thâu tóm quyền lực vào Đảng, rồi chỉ là một tập đoàn, một nhóm người, cuối cùng là quyền lực của một người. Đảng Cộng sản độc tài là như vậy. Chúng ta cần tạo cho chủ nghĩa tư bản xuất hiện ở Việt Nam.


Phải tham gia luật chơi chung, luật chơi chung của thế giới và Liên hợp quốc. Tạo chỗ đứng của Việt Nam trong các lĩnh vực trên thế giới, phải thâm nhập, hòa nhập, để người ta trợ giúp cho chúng ta.

Chúng ta phải liên kết chặt chẽ với khối ASEAN và phấn đấu thành minh chủ của ASEAN và phải thông hiểu chính Việt Nam có văn hóa đa dạng, có trí tuệ (bây giờ ý Đảng lòng dân đang ở trong trạng thái nào?).

Chiến dịch chuyển văn minh, trí tuệ, kế tiếp các đời sau. Phải có cải tạo về chính trị, chống độc tài. Hễ ai lên (những người thoát thai từ xã hội), có thế lực, có quyền lực là y như trở thành độc tài.

Các cậu cứ nghĩ mà xem, có học văn hóa chưa hẳn đã đủ. Trong các bậc cách mạng đi trước chúng ta Bác Hồ tự nhận là không được học hành đến nơi đến chốn, cố tranh thủ những nơi có thể cho mình nhiều tri thức của thế giới, nhưng thực dân đế quốc không cho.

Các anh Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp có học nhưng nhiều khuyết tật. Nếu anh nào lên nắm quyền lực rồi cũng độc tài. Năm xưa anh Trường Chinh có gọi tôi lên để nói chuyện. Chúng tôi là anh em thúc bá[1]. Anh Trường Chinh nói: người ta phản ánh lên Bộ Chính trị rằng chú chống lại Đại hội 4[2], chống chủ nghĩa xã hội, chú lãnh đạo Đoàn Thanh niên đối lập với Đảng Cộng sản.

Các cậu có biết tôi trả lời ra sao không?

Tôi thẳng thắn trả lời: những phản ánh đó là đúng, là sự thực. Tôi chống Đại hội 4 (cứ nói như vậy) vì tôi thấy chủ nghĩa xã hội suy thoái, tôi cảm thấy chủ nghĩa xã hội đổ vỡ, khi Trung Quốc chống lại Liên Xô là bắt đầu đổ vỡ hệ thống xã hội chủ nghĩa rồi (sau này Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là sự chứng minh cho suy nghĩ của tôi lúc đó); thế rồi sự nổi dậy của 5 vạn trí thức (các tiến sĩ, giáo sư, các nhà khoa học) họ sẽ chống lại những cái sai, cái bảo thủ. Vì Đảng Cộng sản đã không thể hiện được vai trò chỉ đạo của chủ nghĩa Mác, không khoa học, đi vào chủ nghĩa cá nhân. Làm gì có cái chủ nghĩa làm chủ tập thể. Cái cậu Tương Lai nói nhiều cái được, nhưng cậu ấy ca ngợi “Làm chủ tập thể” của Lê Duẩn là sáng tạo (!). Lại còn tình hình nữa là thanh niên không có tự do dân chủ. Cho nên nếu nói tôi lãnh đạo Đoàn Thanh niên để chống lại Đảng Cộng sản cũng đúng, vì cương lĩnh của Đảng Cộng sản không có tương lai. Tôi không muốn để cho thanh niên đi theo con đường sai lầm.

Anh Trường Chinh nói: “Thế thì chú phải ra khỏi Trung ương.”

Tôi đáp: “Tôi sẵn sàng ra khỏi Trung ương và có thể chịu bỏ tù.”

Thế là tôi ra khỏi Trung ương.

Các cậu xem tình hình học sinh, thanh niên ngày nay rất thụ động, họ bị ru ngủ, bị đánh lừa. Việc tự cải tạo là cực khó, việc nổi dậy cũng rất khó (có vấn đề tư tưởng, thiếu lãnh tụ). Chưa có đủ điều kiện. Ngay như nông dân hiện nay đang rất ức vì bị mất ruộng đất, mất nguồn sống, họ có nổi dậy vì lợi ích trực tiếp, chưa nổi dậy về chính trị. Các cựu chiến binh ở nông thôn cũng cùng cảnh, nhưng họ bị mua.

Tình hình thực tế là học sinh, sinh viên đang trong cuộc sống cực khổ, họ phải đi tìm chỗ (giải quyết khó khăn cho gia đình và cho bản thân). Nhiều cuồng tín và sống giả. Cho nên tầng lớp thanh niên, sinh viên rất kém chủ động. Lại còn cái Đoàn Thanh niên rất có tội, hàng năm giới thiệu tới 10 vạn thanh niên cơ hội chủ nghĩa vào Đảng Cộng sản. Trong khi đó ở nước ngoài, học sinh, sinh viên là nòng cốt của quốc gia.

Giới trí thức có độc lập suy nghĩ, nhưng còn thiếu những người có tư duy chiến lược, đại bộ phận phải lo miếng ăn, lo bát cơm của họ.

Cái thiếu chung là thiếu ngọn cờ, thiếu trào lưu, thiếu phong trào, một khi có phong trào là đi theo phía tiến bộ, phía cách mạng.

Cậu Nguyễn Trần Bạt có nhiều tư duy tốt, song cậu ấy có cái sai lầm rất lớn là chủ trương không cách mạng. Cuộc cách mạng mới là thay đổi căn bản, thay đổi, cải tạo lại, đổi mới, cách mạng mới có chuyển biến triệt để. Đừng sợ nói đến cách mạng. Trước hết là phải cách mạng tư duy, nếu không nó cứ luẩn quẩn mãi trong vòng lạc hậu…

Cũng phải nói đến giới luật, luật gia. Họ là mhững người hiểu biết, cho nên những tiếng nói phản biện có nhiều từ giới luật gia.

Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chính là sự khởi động. Ở Thành phố Hồ Chí Minh sôi động lắm, không như Hà Nội. Chính giới luật gia có thể trở thành một động lực chính trị.

Còn doanh nhân của nước ta đang bắt tay với chính quyền, họ lo kiếm chác, làm giầu, chưa lo cho thời gian lâu dài sau này.

Bức tranh chung của Việt Nam là như vậy. Chưa thể có gì được từ trên căn bản.

II. Nói về mảng thứ hai của phát triển

Xem lại quá khứ:

Trước đây tôi có dịp được gần Bác Hồ, được hỏi Bác nhiều điều. Trong đó tôi đưa ra câu hỏi: “Thưa Bác, trong cả đời hoạt động của Bác, có cái gì thành công, có cái gì thất bại, cái gì băn khoăn?”

Bác khen câu hỏi của chú hay:

- Cái thành công của Bác là giải quyết vấn đề dân tộc – giải phóng dân tộc;

- Cái thất bại của Bác cũng là dân tộc, tức là Bác chưa tìm được con đường phát triển cho dân tộc. Điều này Bác chưa làm được, các chú, con cháu các chú phải làm, phải tìm ra được con đường phát triển cho dân tộc.

- Bác băn khoăn: Không được tả khuynh (Xô-viết Nghệ Tĩnh, Cải cách Ruộng đất).

Xem như vậy, tức là Bác Hồ chưa tìm ra con đường phát triển, chưa chỉ ra con đường phát triển. Thế mà cứ nói là đi theo con đường Bác Hồ đã chỉ thì thật là vô lý. Ngày xưa Bác chỉ ra con đường giải phóng dân tộc. Lúc đó ta nói: “Bác bảo đi là đi, Bác bảo thắng là thắng”; Có thể đúng như vậy. Nhưng bây giờ cứ nhai lại rằng đã đi theo con đường Bác đã chỉ thì thấy Bác đã chỉ đâu mà theo!

Trong giai đoạn phát triển, chúng ta cần có Nhà nước pháp quyền, phải có pháp trị. Dùng đức trị sẽ không còn quản được quốc gia. Chứ Bác là điển hình của việc không dùng pháp trị. Thời ông Phạm Văn Đồng có sai lầm là đi giải tán trường luật. Chúng ta đã không nhấn mạnh dân chủ và luật pháp.

Xem xét lại nhân dân ta thì thấy:

Ngày xưa là THẦN DÂN của phong kiến, sau là THẦN DÂN của tư bản, và bây giờ là THẦN DÂN của cộng sản. Là thần dân chứ chưa là công dân đích thực.

Bác tự nhận là có sự hạn chế, tiếp thu văn hóa phương Đông cũng chưa trọn vẹn (phương Đông – Trung Quốc có Khổng gia, Lão gia, Khổng giáo, Nho giáo…).
Về cái nguy cơ không dân chủ, thiếu luật như Nguyễn Mạnh Tường đã cảnh báo từ năm 1950.

Ta độc tài cộng sản. Sai lầm lớn nhất là ta dùng chuyên chính vô sản (thu cái độc tài cho một Đảng, một nhóm người trong Đảng nhân danh là cộng sản rồi cuối cùng là độc tài của một cá nhân). Như nhà nước Liên Xô cũ là nhà nước bành trướng chủ nghĩa nhân danh cộng sản bành trướng đại Đảng. Chỉ vô sản gây tai họa, hiểm họa. Cái ấu trĩ trước đây là thường hay có quan điểm nhận xét rằng phong trào tự do là đi từ tự phát lên tự giác. Không phải vậy. Stalin muốn vận động giai cấp để làm chủ thiên hạ. Nói đến độc tài, nếu Võ Nguyên Giáp cầm quyền nhất định cũng sẽ độc tài.

Cái ngày Nguyễn Chí Thanh vào Nam công tác, trước khi lên đường có nói lại với Hồ Chí Minh: Cảnh giác, có thể có đảo chính. Ai đảo chính? Đó chính là Võ Nguyên Giáp, và Giáp đã huy động một số cán bộ làm bộ sậu cho mình. Thật ra có hai người muốn làm đảo chính, đó là Võ Nguyên Giáp và Lê Đức Thọ. Cho nên Thọ mới đánh Giáp, kết quả có một hồi không cho Giáp sinh hoạt Bộ Chính trị (Tớ nói đây là có chứng cứ, hồ sơ lưu trong Văn phòng Trung ương Đảng, nghe được Nguyễn Chí Thanh nói là do hồi đó đang làm bí thư cho ông ta).

Độc tài của cộng sản ghê lắm. Thâu tóm quyền lực, lừa bịp nhân dân, biến người dân thành nô lệ. Vấn đề này ta cứ nhìn toàn cục và có cái nhìn xuyên thế kỉ rất rõ. Khi đã có quyền lực trong tay ắt dẫn đến độc tài. Trên thế giới, như Napoleon người ta giết hết đồng nghiệp. Ta cũng vậy, các vụ Chu Văn Tấn, Bằng Giang, Lê Quảng Ba… Người ta xuyên tạc lịch sử.

III. Có thông tin về vấn đề “Nam tình báo cục với Tổng cục 2”. Cái đó là giả hay thật?

Tôi không quan tâm thật giả, vấn đề là bài viết đó đã vạch trần toàn bộ âm mưu chiến lược đen tối của Trung Quốc đối với Việt Nam. Chúng nó đã, đang thực hiện và nhất định thực hiện các mưu đồ xâm lược Việt Nam. Trên thế giới chưa ai mưu sâu như Trung Quốc, chưa ai xảo trá, nham hiểm bằng Trung Quốc. Trung Quốc là xứ sở của ngụy biện và ngộ biện. Hiện nay Việt Nam chưa có nhân vật nào chọi được với Trung Quốc. Trước đây Văn Tiến Dũng cũng không nhìn đúng Trung Quốc, người Việt Nam còn rất ngây thơ. Ngày nay Trung Quốc giàu, mạnh, tham… là một hiểm họa.

Tai họa sẽ đến với Việt Nam, nếu những người lãnh đạo không nhìn rõ, không thấy được Trung Quốc là một đổi thủ nguy hiểm.

Việt Nam cần:
Tồn tại và phát triển
Phải có ý chí, phải có trí tuệ
Phải mạnh lên
Phải liên minh với các nước khác (như với Ấn, Nga, Nhật, thậm chí cả Mĩ).

Chúng ta phải có hẳn một chiến lược liên minh. Trung Quốc tham vô đáy, không khéo ta sẽ từng bước trở thành bộ phận Trung Quốc. Vì nói phải ngả về Trung Quốc để được yên là chủ nghĩa đầu hàng, chủ nghĩa thất bại. Ngả theo Trung Quốc thực chất là bán nước. Việt Nam phải có sức sống dân tộc, không chịu làm nô lệ, Việt Nam phải có trí tuệ. Chúng ta phải tìm đến sức mạnh thời đại. Nhưng ta biết kiềm chế, không để Trung Quốc có cớ thôn tính ta. Ông cha ta kiến võ chưa bao giờ có chủ trương ngả theo Trung Quốc. Chúng ta không khiêu khích kẻ lớn. Trung Quốc thù dai lắm, nên nhớ!

Đối phó với Trung Quốc:
Trên đất liền không sợ
Trên biển ta yếu tuyệt đối, Trung Quốc mạnh tuyệt đối.

Chúng ta cần có thời gian để tạo nên một hệ thống phòng thủ, có đủ sức phòng thủ và phản kích, dựa vào bờ, giữ đảo… Vì thế, nên phát triển nhiều hải đội có hỏa lực mạnh (tên lửa chuẩn xác tốc dộ cao, hiệu quả lớn, nó có khả năng gây thiệt hại lớn cho địch. Chú ý: tên lửa phải là nòng cốt. Kế hoạch tên lửa hóa có thể phải tốn đến 3000 – 4000 USD).

Việt Nam phải giữ sao cho được vài chục năm để đi lên. Phải giữ vững khối Bộ Chính trị-Quốc phòng-Chính phủ. Vai trò quần chúng nổi dậy giữ mình là rất quan trọng.

Chú thích:
[1] Ông Đặng Quốc Bảo là em ruột nhà cách mạng Đặng Xuân Thiều, cha là Đặng Ngọc Định. Ông Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, cha là Đặng Xuân Viện (talawas)
[2] Đại hội IV của Đảng CSVN năm 1976 (talawas)