Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Nhận định của Tuyên giáo về hợp tác đào tạo Việt-Mĩ

Mấy hôm nay thấy báo QĐND đăng những bài nói về chống “Diễn biến hòa bình” tôi chẳng hiểu họ nói gì và nhắm vào ai. Cũng có vài bài nói về những người đang bị giam cầm vì tội tuyên truyền chống phá Nhà nước, nhưng cũng chẳng rõ ràng gì cả. Nhưng trên trang nhà của Quảng Ninh có đăng “Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động ‘Diễn biến hoà bình’ trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá” thì sẽ hiểu báo QĐND đang nói cái gì.

http://www.quangninh.gov.vn/So-GDDT/apm_sgd/0020d0.aspx

Trong đề cương này, có nhiều chỗ người soạn thảo dùng chữ “chúng”, chẳng biết chỉ ai. Có lẽ để chỉ những người không cùng quan điểm với Đảng chăng? Nhưng nhận định sau đây thì có lẽ “chúng” ở đây là Mĩ: “Chúng tập trung vào “chiến lược con người” để đào tạo một lớp người thân Mỹ và phương Tây. Mỹ đã bộc lộ rõ ý đồ lợi dụng hợp tác giáo dục, đào tạo để chuyển hoá Việt Nam. Đến nay chỉ riêng Mỹ đã có 15 chương trình, dự án lớn có liên quan đến lĩnh vực giáo dục - đào tạo đang triển khai ở Việt Nam. Ngân sách của chính phủ Mỹ dành cho các chương trình Fulbringt Việt Nam tăng lên 4 triệu USD/ năm, còn “Quỹ giáo dục Việt Nam” mỗi năm dành 5 triệu USD cấp cho 100 sinh viên Việt Nam học tại Mỹ, Đại sứ quán Mỹ ráo riết triển khai dự án “Góc Hoa Kỳ” nhằm quảng bá với lớp trẻ hình ảnh nước Mỹ, lối sống Mỹ. Các cơ quan hoạch định chiến lược của Mỹ đưa ra bản “lộ trình 4 bước”, trong đó bước 4 có nội dung các trường đại học Mỹ được khuyến khích mở các cơ sở tại Việt Nam.”

Về báo chí và phản biện: “[…] Thời gian qua, có một số lãnh đạo và báo chí, phóng viên đã bộc lộ tư tưởng báo chí đối lập với Đảng, quá nhấn mạnh vai trò “phản biện” và lạm dụng “quyền lực xã hội” để đưa các bài viết công kích sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.”

Chẳng thấy nói gì đến việc phim ảnh Hàn Quốc tràn lan hiện nay ở Việt Nam. Cũng chẳng thấy nói gì đến phim ảnh nhảm nhí của Trung Quốc phủ đầy làn sóng tivi Việt Nam. Những phim ảnh đó, sản phẩm văn hóa đó cũng theo phong cách phương Tây đó chứ! Vậy thì tại sao lại lo ngại chuyện Mĩ giúp về giáo dục và đào tạo, mà tôi nghĩ là họ có ý tốt chứ chắc chẳng có "diễn biến hòa bình" gì cả. Vấn đề là bản lĩnh văn hóa của mình. Văn hóa mình yếu thì mình cảm thấy bị đe dọa, nhưng nếu văn hóa mình mạnh thì chẳng phải lo lắng xâm lăng văn hóa từ đâu cả.

Hình như Ban tuyên giáo giả định rằng ai theo học ở Mĩ cũng đều bị "nhiễm" văn hóa Mĩ và lối sống phương Tây, nhưng tôi ngờ rằng giả định này không hẳn đúng. Tôi sống và làm việc ở ngoài này cả gần 30 năm mà tôi vẫn là người Việt Nam, tôi vẫn nói tiếng Việt, vẫn ăn thức ăn Việt, vẫn mang trong người tình cảm Việt, tôi không sống theo phương Tây. Dù rằng trong thực tế cũng có vài người chạy theo và bị phương Tây "cảm hóa", nhưng số này không nhiều và phần đông là trẻ tuổi, nhưng một thời gian sau thì họ lại quay về với nguồn cội.

Mà, nếu có cách suy nghĩ theo phương Tây hay làm việc theo phong cách phương Tây thì có gì là sai hay xấu xa đến nỗi phải lên án chứ? Phương Tây cũng có nhiều (rất nhiều) điều để chúng ta học hỏi từ họ. Trong quá trình hội nhập, tôi lại nghĩ Việt Nam cần nhiều người có kinh nghiệm cọ xát với văn hóa phương Tây. Cứ nhìn sang Hàn Quốc, Nhật, hay Đài Loan thì thấy: những người du học ở phương Tây và Mĩ là động lực quan trọng để phát triển kinh tế và khoa học.

Có khi, chính sự bảo thủ của ta làm cho ta tụt hậu và khó hội nhập thế giới. Cứ nhìn qua những quan chức Việt Nam đi công tác nước ngoài thì thấy là chúng ta "lép vế" như thế nào. Khả năng Tiếng Anh còn quá kém, làm chọ họ thụ động, không phát biểu được điều gì hay ho. Còn phong cách hành xử theo kiểu truyền thống Á châu thì không hợp với cộng đồng quốc tế. Chẳng nói gì xa xôi, ngay cả cách ăn mặc của một số lãnh tụ chính trị Việt Nam khi phó hội quốc tế cũng thấy rằng họ có quá nhiều sơ hở, có khi làm người ta cười cho.

Khổ thiệt! Chiến tranh lạnh đã qua lâu rồi, mà hình như ở VN vẫn còn những người suy nghĩ rất nóng. :-) Với cái nhìn này thì những bàn thảo về đại học đẳng cấp quốc tế, cải cách giáo dục, hội nhập khoa học, này nọ … sẽ rất khó dẫn đến hiệu quả nào.

Điều đáng buồn là thời đại này mà Ban tuyên giáo vẫn còn nói theo kiểu "chúng" và "ta", chẳng khác gì giữa kẻ thù và ta. Ngày nay, người ta không quan tâm đến chuyện anh theo chủ thuyết gì mà là anh là ai. Khi tôi đi dự hội nghị ở nước ngoài (như tôi thuật lại), ít ai hỏi tôi VN bây giờ là XHCN hay gì gì, mà là "anh là người Việt Nam hả"? Tôi nghĩ đó là một sự chuyển biến từ ý thức hệ sang căn cước tính. Mà, đặc tính để xác định căn cước chính là dân tộc và tôn giáo, hay nói chung là "văn hóa". Thành ra, cái mà chúng ta cần là trang bị cho mình một bản lĩnh văn hóa, chứ không phải những giáo điều chính trị.

NVT

Truy tìm ung thư và thông điệp một chiều

Hôm nay, một nhóm bác sĩ Úc kêu gọi đàn ông dưới 40 tuổi nên đi xét nghiệm PSA thường xuyên để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến. Trong khi đó, hôm qua tập san JAMA của Mĩ công bố một nghiên cứu qui mô cho thấy truy tìm ung thư bằng xét nghiệm PSA không hẳn đem lại lợi ích cho người dân.

Trong nỗ lực phòng ngừa ung thư, các nước phương Tây đã phát động nhiều chương trình truy tìm ung thư trong những người chưa có triệu chứng ung thư. Những chương trình này thường được gọi [bằng tiếng Anh] là “cancer screening”. Phụ nữ có tuổi (từ 40 trở lên) được khuyến khích tham gia vào những chương trình như thế để truy tìm ung thư vú bằng quang tuyến (còn gọi là mammography) hay ung thư cổ tử cung bằng thử nghiệm pap smear, và đàn ông thì được khuyên nên xét nghiệm chẳng hạn như PSA thường xuyên để phát hiện ung thư tiền liệt tuyến.

Cái logic đằng sau các chương trình truy tìm ung thư này rất đơn giản: phát hiện ung thư sớm sẽ có cơ hội điều trị kịp thời; và điều trị sớm cũng có nghĩa là xác suất cứu sống bệnh nhân tăng lên. Nhiều tờ rơi hiện nay quảng cáo rằng phụ nữ trên 40 tuổi thường xuyên xét nghiệm mammography sẽ giảm nguy cơ tử vong 20% so với phụ nữ không xét nghiệm thường xuyên.

Chính vì cái thông điệp đó từ các cơ quan y tế Mĩ mà phần lớn công chúng và ngay cả một số đông bác sĩ tin rằng truy tìm ung thư sớm là một phương án cứu sống bệnh nhân và kéo dài tuổi thọ cho cộng đồng. Nhưng sự thật thì không hẳn như thế, mà phức tạp hơn nhiều. Những ai từng theo dõi hay biết về “cơ chế” của các chương trình truy tìm ung thư (cancer screening) đều biết rằng còn rất nhiều bất định về lợi ích và rủi ro của những chương trình này, chứ không phải “clear cut” như nhiều người lầm tưởng.

Sự thật là thế này: cần phải xét nghiệm mỗi năm (hay mỗi 2 năm) 1000 phụ nữ tuổi 50 trở lên liên tiếp trong vòng 10 năm có thể giảm 1 ca tử vong từ ung thư vú so với những phụ nữ không tham gia vào chương trình truy tìm ung thư.

Còn nam giới? Kết quả nghiên cứu không mấy rõ ràng. Theo một nghiên cứu từ Mĩ, không có khác biệt gì về tử vong giữa nhóm đàn ông tham gia vào chương trình truy tìm ung thư tiền liệt tuyến và nhóm đàn ông không tham gia vào chương trình này. Một nghiên cứu khác ở Âu châu cho thấy đàn ông thường xuyên xét nghiệm PSA có tỉ lệ tử vong là 2.4%, còn nhóm không tham gia xét nghiệm thường xuyên có tỉ lệ tử vong là 3%, một khác biệt chỉ 0.6%, tức không có ý nghĩa lâm sàng.

Cũng như bất cứ chương trình y tế cộng đồng nào, chương trình truy tìm ung thư cũng có rủi ro và tác hại. Cứ mỗi 1000 phụ nữ khỏe mạnh tham gia chương trình truy tìm ung thư vú thì có 500 người sẽ bị căng thẳng vì kết quả dương tính giả (tức là kết quả xét nghiệm là dương tính nhưng sự thật là họ không mắc bệnh), và 180 người sẽ trải qua sinh thiết một cách không cần thiết. Ngoài ra, trong số 100 phụ nữ được báo là có kết quả dương tính ung thư vú, thì có đến 30 người có ung thư phát triển chậm tức chẳng đe dọa gì đến tính mạng của họ. Xét nghiệm càng nhiều (theo định kì), tỉ lệ dương tính giả càng tăng.

Đối với đàn ông, rủi ro và tác hại (như bất lực và incontinence) còn nhiều hơn nữ, bởi một phần là phương pháp xét nghiệm PSA không chính xác. Vì PSA thiếu tính chính xác cho nên dẫn đến nhiều kết quả dương tính giả và âm tính giả (kết quả xét nghiệm là âm tính nhưng bệnh nhân thật sự mắc bệnh). Trong xét nghiệm PSA cùng với các phương pháp xét nghiệm hiện hành khác, có đến 2 phần 3 bệnh nhân được phát hiện bị ung thư tuyến tiền liệt đã ở trong thời kì không còn chữa trị được nữa. “Chữa trị” ở đây có nghĩa là cắt bỏ cái tuyến tiền liệt. Trong các bệnh nhân này, cắt bỏ tuyến tiền liệt sẽ chẳng đem lại lợi ích thực tế nào cho bệnh nhân. Câu hỏi được đặt ra, do đó, là phát hiện chứng ung thư tuyến tiền liệt sớm để làm gì? Việc làm này đem lại lợi ích cho ai và làm tổn hại ai? Tăng cường thử nghiệm PSA có thực sự cứu được nhiều bệnh nhân không/

Nhưng một điều đáng quan tâm là nhiều người khi tham gia vào các chương trình truy tìm ung thư không hề biết đến rủi ro và tác hại! Lí do là những người quảng bá các chương trình truy tìm ung thư này chỉ tuyên truyền một chiều, chỉ nói về lợi ích, mà không nói đến tác hại có thể xảy ra.

Nhưng qua những bằng chứng khoa học mới nhất, các giới chức y tế đã nhận thức rằng lợi ích các chương trình truy tìm ung thư đã bị thổi phồng quá đáng. Và, một trong những thủ phạm của sự thổi phồng này không ai khác hơn chính là giới y tế. Một chuyên gia của Viện Y tế Mĩ nói rằng giới y tế cần phải thành thật với công chúng những gì mà họ (giới y tế) biết và những gì họ không biết.

Không ai khuyến cáo rằng phụ nữ nên ngưng khám định kì mammography, hay đàn ông nên ngưng xét nghiệm PSA định kì; mục tiêu lâu dài là thông báo cho công chúng biết những thông tin mới nhất về lợi ích và rủi ro trong các chương trình truy tìm ung thư. Nhận thức về lợi ích và rủi ro tùy thuộc vào hoàn cảnh từng cá nhân. Do đó, quyết định có tham gia vào những chương trình này hay không là của từng cá nhân, chứ không thể là của giới chức y tế hay của bất cứ một giáo sư nào.

NVT

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2009

Nhật kí Nagoya 3. Từ 0 đến 1 và từ 1 đến 10

Có lần, trong một bữa ăn tối với một giáo sư ở Đại học Nagoya, chúng tôi đàm đạo chuyện đời, và anh ta cứ lặp đi lặp lại thắc mắc: Tại sao người Nhật chúng tôi có thể đi từ 1 đến 10, mà không thể đi từ 0 đến 1. Phải một lúc nói chuyện tôi mới hiểu ý của anh, rằng tại sao người Nhật không có tư duy đột phá như người Âu châu, nhưng rất có khả năng cải tiến những khám phá của người Âu châu rất hay.

Tôi không biết đó là cách nói tự hạ thấp mình hay là cách nói thành thật, bởi vì trong thực tế tôi thấy người Nhật cũng sáng tạo lắm chứ. Tôi nói rằng số bằng sáng minh từ Nhật đứng vào hàng “top 10” trên thế giới, số bài báo khoa học cũng chẳng kém ai, người Nhật cũng chiếm vài giải Nobel. Dù biết rằng con số này chẳng nói lên khả năng khám phá, nhưng vẫn là một chỉ số cho thấy họ cũng chẳng thua kém ai. Tôi an ủi anh ta rằng Nhật, cũng như dân Đông Á nói chung, là nơi chịu ảnh hưởng văn minh nông nghiệp với an cư lạc nghiệp là chính, tức là thích cái gì ổn định, nên không có nhu cầu sáng chế ra những thứ [mà chúng ta cho rằng hiện đại như ngày nay] như xe hơi, máy bay, tàu vũ trụ, v.v… Chúng ta, những người chịu ảnh hưởng văn minh nông nghiệp, không có tính tấn công vào thiên nhiên vì chúng ta muốn sống hoà thuận với thiên nhiên. Nhưng anh bạn tôi không chấp nhận lí giải đó. Anh ta nói người Nhật vẫn còn kém cỏi quá. Tôi nghĩ anh ta nói người Á châu còn kém cỏi quá. Nhưng nếu Nhật mà kém cỏi thì Việt Nam chắc …

Nhưng đầu óc tôi thì miên man suy nghĩ chuyện khác … Tôi tự hỏi tại sao cũng là người châu Á với nhau mà tập thể người Nhật giỏi hơn tập thể người Việt Nam mình. Trả lời câu hỏi lớn này chắc cần đến cả chục quyển sách nghiên cứu, nhưng qua kinh nghiệm cá nhân, tôi có vài nhận xét theo kiểu “cuỡi ngựa xem hoa” như sau:

Thứ nhất là tinh thần trách nhiệm. Tôi đi đâu cũng thấy người Nhật ở bất cứ vị trí nào cũng làm việc một cách hết sức nghiêm chỉnh. Từ người lái taxi, người đầu bếp, tiếp viên nhà hàng đến giáo sư đại học đều có vẻ yêu thích công việc của họ, họ cần mẫn và chú tâm làm việc của mình. Chẳng hạn như khi tôi hỏi cách đi từ khách sạn đến City Hall bằng xe điện, người bán vé mặc dù không biết tiếng Anh và tôi thì mù tiếng Nhật, anh ta nghiên cứu bản đồ và nói gì đó nhiều lắm rồi chỉ tôi đến chỗ mua vé. Tôi chưa đến chỗ thì anh ta đã bỏ office ra và chỉ tôi đi chỗ khác để mua vé chính xác hơn. Sau này tôi mới biết là anh ta muốn chọn cho tôi một tuyến đường không phải đổi xe điện, còn chỗ tôi đến mua lần đầu là phải đổi xe điện và tôi có nguy cơ bị lạc. Anh ta quả là quan tâm đến việc tôi bị lạc. Trước đây, khi còn ở khách sạn, mỗi buổi ăn sáng tôi nhìn ra đường phố và chú ý đến một ông phu quét đường mà ấn tượng đẹp về ông tôi vẫn còn giữ mãi. Cứ mỗi sáng, đúng 7 giờ, không biết từ đâu ông đi xe đạp đến, dựng xe đạp vào một nơi dành cho xe đạp xong, ông bắt đầu làm việc. Mà đường xá bên Nhật thì quá sạch, chẳng có gì để ông quét dọn. Ấy thế là ông đi chầm chậm xem xét từng ngõ ngách có gì dơ bẩn không, có bao cao-su nào rớt không, có dấu kẹo chewing gum không…và làm sạch tất cả. Xong một đoạn đường, ông lại đến một đoạn đường khác và làm sạch đường. Nhìn qua thái độ làm việc, ông quả là một người yêu việc làm của mình, tự hào vì thành tích của mình, chẳng hề lộ vẻ đau khổ hay tự ti gì cả. Thật là đáng khâm phục.

Thứ hai là tinh thần làm việc theo nhóm. Trong thời gian ở hội nghị, tôi thấy trước khi một symposium bắt đầu, họ đều họp nhóm và bàn thảo cách điều hành ra sao, ai nói gì, nói như thế nào. Có lần dự một buổi như thế tôi mới thấy họ có tinh thần “teamwork” rất cao. Họ có khuynh hướng phục tùng cấp trên (chủ tịch chẳng hạn) và hòa đồng với người chung quanh. Người Nhật xem cấp trên là bậc có thẩm quyền và khả năng nhất, cho nên họ tuân thủ theo chỉ thị của cấp trên mà ít khi nào chất vấn xem chỉ thị đó đúng hay sai.

Ngoài ra, tôi thấy người Nhật có xu hướng tự đặt mình trong cộng đồng khép kín. Thật vậy, anh bạn người Nhật của tôi xem Nhật là một hòn đảo, và vì thế họ cần phải tồn tại trong cộng đồng. Từ đó, người Nhật suy nghĩ nội tâm nhiều, họ chú ý đến sự hòa đồng và hợp tác trong nhóm. Họ cảm thấy thoải mái với những người cùng cộng đồng, dân tộc mà họ là thành viên.

Người Nhật có khuynh hướng lắng nghe ý kiến của người khác hơn là phát biểu ý kiến của chính mình. Họ lúc nào cũng hỏi tôi nghĩ gì, mà không nói họ nghĩ gì! Họ quan tâm đến hòa hợp. Trong các thảo luận, người phương Tây phát biểu ý kiến của họ một cách trực tiếp để tránh lẫn lộn, còn người Nhật thì không chịu nói trực tiếp vì họ nghĩ rằng nói như thế là thiếu tính lịch sự, bất kính.

Thứ ba là họ tỉ mỉ và chú trọng chi tiết. Nhìn vào cách họ dọn thức ăn và trang trí thức ăn, dễ dàng thấy họ làm cái gì cũng nho nhỏ, xinh xinh, nhưng làm rất tinh vi và cẩn thận. Các đền chùa của Nhật cũng không lớn hơn các đền chùa Việt Nam bấy nhiêu, nhưng cách họ xây dựng thì tinh vi và đẹp hơn Việt Nam nhiều. Tôi nghĩ có lẽ đây là tâm lí xuất phát từ môi trường. Nhật là nước đông dân nhưng đất hẹp; do đó, đường xá, công viên, nhà cửa, v.v… đều được thiết kế gần với môi trường sống, tức là nho nhỏ. Có lẽ chính vì thế mà họ rất để ý đến chi tiết nhỏ hơn là những “big picture”. Họ làm những độ điện tử nhỏ rất hay và rất đẹp, hơn là phát triển những phi thuyền vũ trụ.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Thời gian ngắn ở Nhật gặp đồng nghiệp nào họ cũng hỏi tôi đến từ đâu -- where are you from -- và câu trả lời thường như một thói quen là từ Úc. Nhưng câu trả lời đó ít khi nào thỏa mãn tính tò mò của họ, bởi đơn giản một điều là tôi mang họ Nguyễn, một họ phổ biến nhất ở Việt Nam, cũng như họ Suzuki ở Nhật. Thành ra, tôi phải thêm một câu là tôi sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, nhưng đã sống ở ngoài Việt Nam lâu gần 30 năm qua. Cố nhiên, tôi chẳng có gì mắc cỡ hay mặc cảm khi nói mình là người Việt; ngược lại, tôi còn có thể tự hào cái nguồn cội của mình.

Nhưng trong vài giây phút tự hào đó, tôi vẫn không thể không chạnh lòng khi sự thật là nước Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới; người Việt Nam qua cái nhìn của báo chí Tây phương và có lẽ ở Nhật nữa, là những người ăn trộm (như vụ tiếp viên VNA ăn trộm hàng ở Nhật), du côn buôn bán á phiện; quan chức thì tham nhũng hối lộ tràn lan; trình độ khoa học thì thuộc vào hàng thấp nhất thế giới, v.v… Tôi lúc nào cũng chuẩn bị sẵn những “lí giải” để bảo vệ danh dự Việt Nam, để phòng ngừa khi phía đối tác đưa ra những sự thật đó. Cũng may mắn là không ai hỏi tôi về những chuyện đó, có lẽ họ tế nhị hay không muốn làm phật lòng khách mời chăng.

Nhưng những chuyến đi như thế này, lúc nào tôi cũng tự hỏi: tại sao cũng là người Á châu, da vàng, tóc đen, có cùng văn hóa với nhau, mà người ta phát triển như thế, còn mình thì lại tồi tệ như thế? Đừng đổ thừa chiến tranh, vì chúng ta có 30 năm xây dựng và không thành công. Đổ thừa cho Mĩ cấm vận không còn thuyết phục nữa, khi mà Mĩ đã chủ động bình thường hóa ngoại giao với ta nhiều lần. Chỉ tại mình thôi.

Những gì tôi nhận xét về người Nhật mang tính đặc điểm văn hóa. Người Nhật có văn hóa tinh thần trách nhiệm, làm việc theo nhóm, và tỉ mỉ. Còn người Việt thì sao? Gần đây, có người (như Vương Trí Nhàn) cất công sưu tầm những thói hư tật xấu của người Việt. Tôi nghĩ việc làm đó đáng trân trọng, vì nó giúp cho mình nhìn lại mình, tự vấn mình. Đọc qua những thói hư tật xấu đó, tôi thấy người mình hoàn toàn ngược lại người Nhật: không có tinh thần trách nhiệm, không thích làm theo nhóm mà muốn làm vua một cõi, và làm việc thì ẩu. Có thể lấy ra hàng trăm ví dụ ngay tại thời điểm này để minh họa cho 3 đặc tính này của người Việt, nên ở đây tôi không nhắc lại làm gì. Ấy thế mà chúng ta có vẻ thích tự ru ngủ bằng những khẩu hiệu quen thuộc như chúng ta anh hùng, thông minh, học giỏi, v.v… Nhưng sự thật phản bác lại tất cả những lời tự ca ngợi đó. Nếu người Nhật tự vấn tại sao họ có thể đi từ 1 đến 10 mà không đi được từ 0 đến 1, còn ta cũng nên tự vấn tại sao chúng ta chưa biết 1 là gì.

NVT

Ghi thêm: Viết xong nhật kí này tôi đọc được một bài trên Tia Sáng hỏi "Vì sao Trung Quốc chưa ai có giải Nobel", tác giả viết (tôi chỉ trích vài đoạn quan trọng):

Vấn đề con người:

Khoa học lạc hậu, vấn đề chính là ở khâu đào tạo bậc đại học. Cơ chế quan liêu trong các trường ĐH đã bóp chết mọi nhân tài có tính sáng tạo. Phần lớn cán bộ giảng dạy và nghiên cứu trong trường ĐH và cơ quan nghiên cứu khoa học hiện nay là những người thích làm quan chức và làm học phiệt; đối với họ, làm quan kiếm tiền là trên hết; kiến thức học vấn là thứ yếu. người thực sự làm khoa học đã ít lại càng ít; nếu có thì cũng chẳng có không gian phát triển. Đạo đức của giới cán bộ khoa học ngày một xuống cấp. Mới đây chinanews.com.cn đưa tin không ít giáo sư đại học lợi dụng việc hướng dẫn nữ nghiên cứu sinh tiến sĩ để giở trò đồi bại với họ. Hiện tượng sao chép luận văn, kết quả nghiên cứu của người khác rất phổ biến, như thế sao có thể thu được kết quả nghiên cứu có giá trị. Cán bộ khoa học kém đạo đức thì sẽ chẳng bao giờ đạt được thành tựu xứng đáng giải Nobel. Nhà khoa học người Hoa Charles Kuen Kao (Cao Côn) ngay từ năm 1966 đã hoàn tất công trình nghiên cứu truyền thông tin ánh sáng bằng sợi cáp quang, sau đó ông cũng chẳng để ý đăng ký sáng chế phát minh, thế mà 40 năm sau ông nghiễm nhiên được trao một nửa giải Nobel Vật lý 2009 – là một điển hình về đạo đức khoa học.

Vấn đề văn hóa:

Tư tưởng “Đại nhất thống” của văn hóa Nho giáo nhấn mạnh sự thống nhất cao về chính trị và văn hóa của quốc gia; nó có mặt tích cực là nhấn mạnh ý thức tập thể, song lại xóa bỏ ý thức chủ thể của cá nhân và tự do ý chí. Đồng thời “Đạo Trung Dung” mà văn hóa Nho giáo đề xướng cũng kiềm chế tư duy mới của chúng ta. “Trung Dung” là nguyên tắc cơ bản trong triết học Khổng Tử, là vũ trụ quan, phương pháp luận và tiêu chuẩn đạo đức được văn hóa Nho giáo ra sức đề cao. “Trung Dung” lấy hài hòa thống nhất làm tiền đề, cho rằng sự phát triển của con người hoặc sự vật đều nên vừa phải, trong giới hạn thích đáng, không “quá mức” và “bất cập”. Ảnh hưởng rõ nhất của tư tưởng này đối với giáo dục là thầy giáo chỉ thích các học sinh ngoan ngoãn vâng lời mà ra sức bài xích các học sinh nói năng hoặc có suy nghĩ “ngoài khuôn phép”, đòi hỏi chúng phải “cải tạo” cho hợp khuôn phép. Như thế tuy đã đưa học sinh vào khuôn phép nhưng lại bóp chết năng khiếu của biết bao trẻ em thông minh. Rất tiếc là tới nay nhiều người vẫn chưa nhận thức được tai hại sâu xa của các mặt tiêu cực trong văn hóa truyền thống Trung Quốc đối với việc giáo dục tinh thần sáng tạo KHKT.

Tôi nghĩ chỉ thay đổi hai chữ "Trung Quốc" bằng "Việt Nam", chúng ta cũng có một lời giải thích tại sao Việt Nam chưa bao giờ có ai chiếm giải thưởng khoa học lớn (chứ chưa nói đến giải Nobel).

NVT

Khi nào cần dùng thuốc kháng virus cho cúm A(H1N1)?

Một trong những câu hỏi mà người ta thường thắc mắc là khi nào cần sử dụng các thuống kháng virus như Tamiflu, Relenza. Một khuyến cáo theo “lương năng bình dân” là những ai không thật sự mắc bệnh thì không nên dùng thuốc. Nhưng vấn đề là làm sao biết ai thật sự mắc bệnh khi chưa có xét nghiệm sinh hóa, và chẳng lẽ phải chờ cho đến khi người ta mắc bệnh mới cho dùng thuốc? Không có câu trả lời tuyệt đối cho 2 vấn đề này.

Trước kia, các giới chức y tế nghĩ rằng nên dùng thuốc kháng virus để phòng ngừa bệnh lây lan (tức cho những người chưa có triệu chứng hay có triệu chứng “nhẹ”), nhưng sau đó thì họ lại khuyến cáo chỉ sử dụng thuốc cho những ca bệnh đã được xác định qua xét nghiệm. Sau này, lại có khuyến cáo chỉ sử dụng thuốc cho những trường hợp bệnh nặng nhất. Nói chung, giới y tế vẫn còn đang trên đường học hỏi, rút kinh nghiệm.

Đến nay, khuyến cáo mới nhất của Trung tâm phòng chống và kiểm soát bệnh của Mĩ (CDC) cố gắng tìm một phác đồ điều trị “trung dung”, nhằm mục tiêu giảm tình trạng lạm dụng thuốc và thiếu điều trị. Theo khuyến cáo mới nhất, điều cần thiết trước hết là nhận dạng bệnh nhân có nguy cơ cao, ngay cả trong trường hợp xét nghiệm chưa có, hay xét nghiệm có kết quả âm tính. Đối với những trường hợp này, thuốc kháng virus có thể được chỉ định, mà họ đặt tên rất Mĩ là “Empiric antiviral treatment”. Empiric treatment ở đây có nghĩa là điều trị trước và sẽ xem xét sau. Triết lí cơ bản của phác đồ này là: điều trị bệnh nhân, chứ không phải điều trị kết quả xét nghiệm!
Nhưng vấn đề ở đây là: Ai là người có nguy cơ cao? Theo CDC thì những người sau đây có thể được xem là có nguy cơ cao:

• Cảm thấy bị bệnh, như thở khó khăn (bất kể trước đó có bệnh hay không), cảm cúm, đau cuống họng, hay ho mà không có nguyên nhân rõ ràng

• Những người nhập viện vì nghi ngờ bị cúm cũng cần được điều trị bằng thuốc kháng virus.

• Những người cũng có triệu chứng tuy không nặng nhưng (i) dưới 2 tuổi; (ii) trên 65 tuổi; (iii) phụ nữ mang thai; (iv) hen, bệnh tim mạch (ngoại trừ cao huyết áp), suy thận, viêm gan, tiểu đường, nhiễm HIV; và (v) những người dưới 19 tuổi nhưng phải dùng aspirin lâu dài vì hội chứng Reye.

CDC có một website để “xét nghiệm” ai có nguy cơ cao và cần điều trị ở đây:

http://www.flu.gov/evaluation

Website hỏi 4 câu:

1. Bạn có bị sốt hay cảm thấy bị sốt? Nếu bạn đang sử dụng thuốc aspirin, acetaminophen, ibuprofen, thì trả lời “yes”.

2. Bạn có bị đau cuống họng hay ho?

3. Bạn có cảm thấy khó thở từ khi có triệu chứng cảm cúm?

4. Từ khi bạn có triệu chứng cúm, bạn có cảm thấy đau nhức hay “nặng ngực” mà bạn chưa từng bị trước đây?

Nếu trả lời “yes” 4 câu hỏi trên, CDC khuyến cáo bạn nên gặp bác sĩ và nên được dùng thuốc kháng virus.

Những khuyến cáo và câu hỏi trên đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu của CDC, chứ không phải ngẫu nhiên. Ở Việt Nam, tôi không rõ có những nghiên cứu như thế hay không, vì tôi chẳng thấy trong y văn gần đây.

Tuy nhiên, Bộ Y tế Việt Nam gần đây có đưa ra một phác đồ điều trị khá phức tạp, nhưng gần như hoàn toàn làm theo theo mô hình của WHO. Bởi vì phác đồ điều thường thay đổi theo thời gian khi kiến thức và dữ liệu khoa học hiện hành. Do đó, trong bối cảnh chưa có nghiên cứu, có lẽ Việt Nam nên tham khảo cách làm của CDC để tiến đến một phác đồ điều trị hữu hiệu hơn.

NVT

Nhân chuyện một bác sĩ gốc Việt bên Anh, nghĩ chuyện VN

Thỉnh thoảng giới y khoa gốc Việt ở các nước phương Tây được báo chí đề cập đến, nhưng khổ nỗi phẩn lớn là những điều tiêu cực. Mấy năm trước báo chí Mĩ phanh phui đường dây ăn cắp tiền bảo hiểm của giới bác sĩ và dược sĩ gốc Việt ở California, làm cho nhiều đồng nghiệp khác bẽ mặt. Nay đến chuyện một bác sĩ chấn thương chỉnh hình tên là Chinh Nguyen ở Anh cũng bị một phóng viên Anh (xem bài dưới đây) hặm hực viết bài chỉ trích nặng nề.

Cứ theo như bài báo này thì Bs Chinh Nguyen, 43 tuổi, là một “consultant orthopaedic surgeon”, tức bác sĩ chuyên khoa chấn thương chỉnh hình. (Trong hệ thống y khoa Anh và Úc, chữ “consultant” còn hàm ý cho biết đó là một bác sĩ thâm niên, cao cấp). Anh ta được bệnh viện Whittington ca ngợi là một bác sĩ tài ba, một tấm gương sáng về sự thành công của người tị nạn gốc Việt. Anh đến Anh Quốc lúc 18 tuổi, không biết một chữ tiếng Anh, nhưng quyết chí học hành và học giỏi, anh tốt nghiệp bác sĩ từ trường y của University College London vào năm 1993. Sau khi xong chương trình chuyên khoa, anh về làm việc cho bệnh viện Whittington từ năm 2005.

Nhưng ngày 25/9/2006, Bs Chinh Nguyen bị cảnh sát bắt vì tội rửa tiền và đứng đầu một đường dây cần sa trị giá 3.5 triệu Bảng Anh! Anh được tại ngoại hầu tra cho đến năm nay, tòa tuyên án phạt 5 năm tù giam. Vợ ông và người em của anh ta cũng bị bắt và phạt nhưng báo chí không cho biết hình phạt là gì.

Điều đáng nói là trong suốt thời gian 2006 đến năm nay, anh Bs Chinh vẫn hành nghề tại bệnh viện Whittington. Bệnh viện không biết gì về tiền án hay đời tư cá nhân với bản án hình sự của anh ta.

Người ta có câu “phía sau lưng bác sĩ là một bãi tha ma”, và câu này cũng đúng với anh bác sĩ này. Báo chí cho biết trước khi ra tòa vì tội hình sự thì anh ta đã để lại một đống ca bệnh với “tai nạn” nghiêm trọng. Một trong những bệnh nhân của anh ta là bà Satwant Vohra, 55 tuổi, chết sau một ca mổ anh làm tổn thương đến động mạch. Qua điều tra, hội đồng y khoa còn phát hiện 4 bệnh nhân khác cũng suýt chết dưới bàn tay giải phẫu của anh bác sĩ này. Hội đồng y khoa cũng tự hỏi không hiểu tại sao trước những sự cố nghiêm trọng như thế mà bệnh viện vẫn để cho anh ta hành nghề. Cố nhiên, nay thì Bs Chinh Nguyen không được hành nghề nữa và phải ngồi tù.

Đó là chuyện bên Anh, còn bên ta thì không biết có bao nhiêu bác sĩ với những tai nạn như Bs Chinh Nguyen. Chắc chắn là có, nhưng có lẽ do người Việt chúng ta không muốn làm lớn chuyện và tâm lí biết ơn nên im lặng sống chung với tật nguyền. Hôm nọ thấy trên Tuổi Trẻ có bài viết về phẫu thuật điều trị chứng “rối loạn tâm thần hoang tưởng” có gây ra vài tai nạn:

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=335591&ChannelID=12

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=341218&ChannelID=12

Bộ Y tế “đã có yêu cầu thành lập hội đồng khoa học, xem xét phương pháp phẫu thuật điều trị tâm thần hoang tưởng tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Dự kiến quyết định thành lập hội đồng sẽ được ký trong tuần này, gồm những chuyên gia về ngoại khoa và thần kinh của các bệnh viện Việt Đức và 108, do ông Đỗ Kim Sơn - chủ tịch Hội Ngoại khoa VN - làm chủ tịch.”

Theo tôi thì cách làm này chưa đúng với qui trình y khoa mà ở ngoài này tôi biết. Không nên để cho một người cùng nghề làm chủ tịch hội đồng điều tra, mà phải để cho một người ngoài ngành thì mới khách quan. Ngoài ra, cần phải có cố vấn của các chuyên gia quốc tế thì mới đầy đủ.

Nhưng khách quan mà nói, bất cứ phẫu thuật nào cũng có vài tác hại bên cạnh những lợi ích. Nói theo ngôn ngữ y khoa là có “harm” (hay risk) mà cũng có “benefit”. Nếu chỉ căn cứ vào vài ca tai nạn do báo chí phản ảnh thì cũng khó mà nói rằng đó là phẫu thuật sai. Ngược lại, nếu chỉ dựa vào vài ca thành công mà nói phẫu thuật có hiệu quả cũng không được. Vấn đề là cần phải có nghiên cứu lâm sàng đàng hoàng để đánh giá hiệu quả của một phẫu thuật. Nếu chỉ dựa vào ý kiến của các chuyên gia hay giáo sư thì tôi e rằng không khoa học chút nào, bởi vì đơn giản là các chuyên gia thường sai!

NVT

http://www.thisislondon.co.uk/health/article-23758591-this-criminal-doctor-and-his-botched-back-surgery-has-left-me-in-agony.do
This criminal doctor and his botched back surgery has left me in agony
David Cohen
20.10.09

When a London surgeon promised Vivienne Edwards a cure for chronic back pain she couldn't know the danger she was putting herself in...
The day that Vivienne Edwards checked into the Whittington Hospital for an operation to relieve her severe backache was meant to be the start of “a glorious pain-free existence”. Chinh Nguyen, the consultant orthopaedic surgeon at the Whittington, had assured Vivienne, a former army nurse, that the operation to scrape away some bone to reduce the compression on her spinal cord was routine, she recalls.

...

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2009

Nhật kí Nagoya 2. Tham quan và ẩm thực

Có người nói rằng một trong những “đặc lợi” của giới khoa học là được đi du lịch miễn phí. Tôi nghĩ câu này chỉ đúng một phần thôi, bởi vì đi phó hội không có nghĩa là đi du lịch, và đi du lịch cũng không bao giờ miễn phí cả. Tuy nhiên, ý nghĩa chung thì vẫn đúng: đi phó hội cũng là một dịp đi tham quan, tìm hiểu về văn hóa của một địa phương. Do đó, tôi cũng phải nhân cơ hội mà tìm hiểu nước Nhật trong chuyến đi này. Cái khổ của tôi là với tư cách “invited speaker” (khách mời) tôi không thể bỏ hội nghị đi chơi được, vì người ta bỏ nhiều tiền đem mình sang đây, mình phải “biết điều” đáp lễ chứ. Nói thì nói thế thôi, chứ ban tổ chức cũng là giới làm khoa học, nên họ rất “biết điệu”, họ cứ thúc tôi đi chơi cho biết. Họ nói rằng vì có vài phiên họp chỉ nói tiếng Nhật, tôi nên nhân cơ hội để đi tham quan chung quanh thành phố.

Lâu đài Nagoya và điện Atsuta

OK. Họ biết điệu như vậy thì mình cũng cần biết điều. Ngay ngày thứ hai, khi xong symposium và đến phiên họp tiếng Nhật, tôi “bay” về khách sạn, thay đồ sport hơn, dò hỏi một lúc thì biết nơi nổi tiếng nhất mà tôi cần/nên phải ghé thăm là lâu đài Nagoya (hay Nagoya Castle) và điện Atsuta (Atsuta Shrine). Tôi ra ga xe điện mua vé (230Y) đi lâu đài Nagoya trước. Chỉ có 7 trạm xe điện và không đầy 20 phút tôi đã có mặt ở ga City Hall. Lội bộ khoảng 5 phút, và hỏi người đi đường bằng ngôn ngữ múa tay múa chân, tôi cũng đến nơi. Lâu đài Nagoya được xây từ năm 1612, những bị tàn phá nhiều trong thế chiến thứ 2. Lâu đài hiện nay chỉ được khôi phục lại từ năm 1959, nên mới có những tiện nghi như thang máy.


Nagoya Castle

Lâu đài không lớn như ở các nước bên Âu châu. Bề ngang chỉ khoảng 20 mét và dài cũng chỉ cỡ đó. Nhưng chiều cao đứng thì cũng cả chục mét. Họ xây theo kiểu giống như cung thành Huế, tức là bờ tường cao, có “giao thông hào” để ngăn chận những khách không mời mà muốn đến gần. Chu vi cung điện rất rộng, được trồng cây xanh rất đẹp. Kiến trúc đặc thù của cung điện có lẽ là mái cong được mô hình đuôi cá sư tử (lion fish). Phía trong cung điện chẳng có gì đáng chú ý. Tuy nhiên, họ có hẳn một rạp chiếu phim 3D (ba chiều) để cho khách tham quan biết huyền thoại và lịch sử xây dựng cung điện như thế nào. Chỉ có điều phim nói tiếng Nhật và phụ đề tiếng Anh nên rất khó theo dõi.

Điện Atsuta (Atsuta Shrine)

Đi vòng vòng một lúc tôi chụp được vài tấm hình, rồi tiếp tục đi Atsuta. Điện Atsuta là nơi được xem là nơi tôn kính vào hàng thứ 2 ở Nhật (chỉ sau điện Ise). Người ta tin rằng điện Atsuta là nơi cất giữ thanh kiếm Kusanagi, một trong 3 biểu tượng của hoàng đế Nhật. Tôi cũng chỉ ghé qua và đi một vòng cho biết. So với lâu đài Nagoya, tôi nghĩd9ie65n Atsuta rộng lớn hơn (sau này xem tài liệu du lịch mới biết là chu vi lên đến 200 ngàn mét vuông!) Ở đây, ngoài những di vật (không thấy được) tôi cũng không có ấn tượng gì đặc biệt.

Nhưng cũng là một dịp để biết đền đài ngày xưa ở Nhật như thế nào và cách thức họ tổ chức du lịch ra sao. Cái hay của người Nhật (và người Thái Lan nữa) là họ có thể biến những di tích, đền đài khá tầm thường thành những địa danh nổi tiếng mà bất cứ du khách nào đến cũng đòi phải ghé thăm. Phương tiện biến hóa của họ cũng đơn giản: họ trang trọng với từng trang sử, họ tỏ ra nghiêm nghị với những huyền thoại, và bày vẽ hình thức để du khách phải kính trọng nơi họ ghé thăm. Chẳng hạn như chỉ việc đơn giản như du khách phải bỏ giày dép ở ngoài trước khi bước vào cung điện cũng là một cách tăng tính tôn nghiêm cho địa danh. Còn ở nước ta, tôi thấy du khách ăn mặc hớ hênh, ba lô dơ dấy, ngang nhiên bước vào những nơi trang nghiêm của nước ta! Vấn đề là tại chúng ta không tỏ lòng tôn trọng di tích cha ông thì làm sao người khác tôn trọng được.

Chùa Vàng

Chùa vàng (Golden Temple hay còn gọi là Rokuon-ji Temple) là một trong những địa điểm du lịch mà bất cứ du khách nào đến Nhật cũng phải ghé qua. Tôi cũng không phải là một ngoại lệ. Lần trước khi đến Osaka tôi đã có ý định đi, nhưng vì bận quá nên đành bỏ ý định. Lần này, tôi có nguyên một ngày nghỉ (thứ Bảy) nên nhất định phải ghé thăm Chùa vàng cho biết.

Từ Nagoya đến Kyoto bằng xe điện tốc hành (bullet train, hay còn gọi là shinkansen) chỉ 35 phút. Đây là loại xe tốc hành đúng nghĩa (chứ không phải loại tốc hành dỏm của Úc), vì tốc độ dao động từ 250 đến 300 km/giờ. Sẵn đây, tôi phải kinh ngạc tính chính xác của xe điện ở Nhật. Tôi đi cũng trên 10 chuyến xe điện địa phương và xe shinkansen, nhưng chưa lần nào họ trễ hay sớm cả. Chuyến nào cũng đúng giờ, chính xác đến từng giây! Hiroshi mua vé hạng nhất cho tôi đi vì anh ấy nói “đi cho biết”. Tôi không biết sự khác biệt giữa vé hạng nhất và hạng bình dân (economy) là gì, nhưng chỉ biết giá vé hạng nhất thì đắt gần gấp 2 lần vé bình dân. Ghế hạng nhất rộng rãi, rộng hơn ghế hạng bình dân của máy bay B747. Thật ra, trên xe lửa, họ phục vụ y chang như trên máy bay! Tôi đã có một chuyến đi xe điện shinkansen hết sức thú vị, và phải nói là kinh nghiệm nhớ đời. Tôi ước gì nước Úc có một xe như thế này để đi lại giữa các bang dễ dàng hơn. Cái gọi là xe tốc hành của Úc, nếu so với Nhật hay Pháp, tôi thấy sao mà tội nghiệp cho 2 chữ “tốc hành” quá!

Rokuon-ji Temple khởi đầu là một villa của dòng họ Ashikaga Yoshimitsu (một dòng họ shogun) được xây vào năm 1397. Sau khi Yoshimitsu qua đời, căn villa này được biến thành chùa. Năm 1950, một ông sư tên là Hayashi Yoken muốn tự tử và đốt cháy ngôi chùa (nhưng ông không chết mà bị bắt bỏ tù!) Chùa hiện nay được trùng tu lại từ năm 1955. Năm 1987, chùa được đại trùng tu và duy trì cho đến ngày nay. Chùa nổi tiếng vì được bao bọc bằng vàng ròng, và hình ảnh của chùa tỏa chiếu dưới ao Kyokochi.

Chùa Vàng (Golden Temple), Kyoto
Du khách không vào được chùa, mà chỉ đứng ngoài … chụp hình và đọc lịch sử. Theo sử sách thì Rokuon-ji Temple là một tòa nhà 3 tầng. Hai tầng trên được bao phủ bởi vàng lá. Tầng trên cùng được xây theo kiểu Tàu, tầng hai thì xây theo kiểu quí tộc, còn tầng trệt thì xây theo kiến trúc cung đình. Chùa có lều nổi tiếng shariden là nơi chưa tro của Phật. Chùa không cao lắm, và cũng chẳng đồ sộ, nhưng chính vì di vật của Phật và kiến trúc vàng mà chùa rất nổi tiếng trên thế giới. Du khách có thể đi dạo một vòng không đầy 10 phút là xong một tour tham quan.
Vườn Đá (Rock Garden)
Kyoto còn có một điểm du lịch nổi tiếng khác là Vườn đá, còn có tên là Ryoan-ji Temple. Nói cách khác, vườn đá (hay nói cho Hán hơn là Thạch Uyển!) nằm trong khuôn viên của chùa Ryoan-ji (có nghĩa là Chùa của Rồng Hòa Bình). Năm 1994, chùa được UNESCO xếp vào danh sách di sản thế giới.

Vườn xây từ thế kỉ 15, theo hình chữ Nhật, với 25 mét chiều ngang và 10 mét chiều dài. Vườn chỉ có sỏi trắng và đúng 15 hòn đá. Không có cây. Không ai biết ý nghĩa của cách bố trí này là gì. Du khách muốn hiểu thế nào là tùy vào cảm nhận của du khách. Du khách đến thăm vườn chỉ việc thả chân lơ lửng ở bậc thềm, nhắm mắt lại và thả hồn theo những viên sỏi và 15 hòn đá.

Vườn Đá (Kyoto)
Đại học Nagoya

Tôi có dịp ghé thăm một đồng nghiệp ở Đại học Nagoya, và cảm thấy rất ấn tượng với đại học này. Đại học Nagoya là đại học lón vào hàng thứ 4 của Nhật, với khoảng 15.000 sinh viên toàn thời gian (trong số này 40% là sinh viên sau bậc cử nhân). Theo “chính sử” thì trường được xây dựng thế kỉ 19 (1871), nhưng nhìn từ ngoài, tôi chẳng thấy những building sandstone vốn tiêu biểu cho thời thế kỉ 19, mà toàn là những tòa nhà hiện đại theo kiến trúc của thế kỉ 20.

Tuy còn trẻ, nhưng trường này có nhiều thành tựu đáng nể. Anh bạn tôi cho biết trong thời gian 10 năm qua trường có đến 4 giáo sư từng đoạt giải Nobel về hóa học và vật lí. Tôi hỏi về con số bài báo khoa học thì anh ta nói không biết, nhưng chắc chắn là cao, bởi vì mỗi giáo sư ở đây phải làm nghiên cứu khoa học và phải công bố quốc tế thì mới duy trì được chức vụ của mình. Trường có đến 1706 giảng viên và giáo sư; trong số này có 649 giáo sư, 507 phó giáo sư, 118 lecturer, và 432 assistant professor. Hệ thống khoa bảng ở đây xếp lecturer cao hơn assistant professor. Một điều đáng chú ý khác là con số giáo sư cao hơn số phó giáo sư (ở các nước Âu Mĩ thì xu hướng ngược lại: phó giáo sư nhiều hơn giáo sư). Điều này cũng dễ hiểu ở Nagoya, vì trường có mục tiêu là một đại học mạnh về nghiên cứu khoa học, nên họ có nhiều giáo sư.

Theo cách xếp hạng của tạp chí Times thì Nagoya đứng vào hàng 92 trên thế giới, trên trường Đại học Quốc gia Đài Loan (hạng 95), McMaster (Canada, 143), Texas A&M University (179), Đại học Malaya (180).
Văn hóa ẩm thực

Ẩm thực là một đặc tính văn hóa, cho nên tôi phải tận dụng thời gian ngắn ngủi ở đây để thưởng thưởng thức ẩm thực của xứ Phù tang. Phải nói là ẩm thực Nhật thật là đặc sắc, vì món ăn ở đây rất khác với các nước khác.
Sáng nào tôi cũng thức dậy sớm, mon men xuống ăn sáng ở khách sạn. Mới có 6:30 am mà đã có rất nhiều thực khách đang ăn uống. Thức ăn sáng ở đây được chia thành 2 khu chính: một khu gồm các món ăn Nhật, và một khu gọi là món ăn quốc tế hay nói chính xác hơn là món ăn sáng theo kiểu Tây. Chẳng hiểu sao món ăn sáng của Nhật mà lại có cả sushi (tôi cứ tưởng món dành cho ăn trưa chứ)! Nhưng thật ra, ngoài sushi còn có nhiều món khác ngon hơn: nattou (một loại thức ăn làm từ đậu nành lên men), như súp miso, cháo trắng, cá ướp mặn, v.v… Còn món Tây thì cũng như các khách sạn khác bên Mĩ, tức là gồm bacon, sausage, bánh mì, bơ … nói chung là rất chán. Lại còn có thịt bò chiên với khoai tây nữa! Tôi thích nhất món súp miso, ăn với mì sợi (nghe nói mì này là đặc sản của Nagoya), chẳng biết nước súp nấu bằng chất liệu gì, nhưng nó có mùi vị rất nước biển (đương nhiên không phải là nước biển) và rất đặc thù khó có thể nhầm lẫn với các món súp khác được. Trong suốt thời gian 1 tuần ở đây, sáng nào tôi cũng gọi món này, rắc thêm một ít hành lá và một lát cá khô rất rất mỏng, thêm chút ớt tươi, ngon ơi là ngon! Sau đó mới “thanh toán” các món cá mặn, củ cải muối, cháo trắng và rau xanh.

Hôm thứ Bảy, tôi và Hiroshi Suzuki đáp xe điện đi Kyoto để tham quan danh lam thắng cảnh ở thành phố nguyên là thủ đô của Nhật. Trưa hôm đó, hai chúng tôi đến một nhà hàng được bầu là nhà hàng có chất lượng thức ăn đứng vào hàng thứ 2 ở Nhật. Tôi quên tên nhà hàng, mà chỉ nhớ nó nằm bên cạnh con rạch nhỏ, gần ga xe điện, đông người qua lại. Nhà hàng có diện tích rất khiêm tốn, hai tầng, bề ngang chỉ 5 mét và dài khoảng 10 mét. Ngay trước nhà hàng có treo cái chứng chỉ do hội nhà hàng Nhật công bố vào năm 2009. Theo giới thiệu của Hiroshi thì chúng tôi sẽ ăn theo kiểu truyền thống Nhật, có nghĩa là đầu bếp trực tiếp làm đồ ăn trước mặt khách ngồi bàn. Bữa ăn kiểu này là một bữa ăn tiêu biểu của một gia đình Nhật, nhưng Hiroshi thêm rằng nói thế thôi, chứ đâu phải ngày nào một gia đình Nhật cũng ăn như thế (vì giá cả đắt lắm!)
Bữa ăn tại một nhà hàng ở Kyoto (người bên trái là Hiroshi Suzuki)
Chúng tôi mới đến cửa nhà hàng đã được chào đón nồng nhiệt. Người tiếp viên nam cuối gập người chào chúng tôi bằng những câu nói Nhật mà tôi chẳng hiểu anh ta nói gì (nhưng tôi có thể đoán được ý nghĩa). Vì có đặt trước, nên chúng tôi được xếp cho ngồi ở một ví trị tốt nhất của bàn. Tôi nhìn chung quanh có khoảng 10 thực khách, nam có nữ có, cũng ngồi ăn như chúng tôi. Phía trước tôi là 5 đầu bếp, tất cả chỉ tuổi 30-40, đang say sưa với công việc của họ. Người thì đang ngấm ngía con cá để tìm cách xẻ thịt làm sao đẹp nhất, người thì chú tâm trang trí một đĩa salad cho khách, người thì đang cuốn thịt sushi, người thì miệng nói gì liên tục còn tay thì múc súp cho khách và trang trí tô súp sao cho đẹp mắt, v.v…

Một tiếp viên đến hỏi chúng tôi uống gì, tôi và Hiroshi không do dự nói: sake. Đến đây chẳng lẽ uống rượu chát coi sao được! Một bình rượu sake giống như một ống tre lập tức được đem đến cho chúng tôi. Hiroshi nhẹ nhàng rót rượu và chén và chúng tôi cụng li để tự chúc mừng. Rượu sake thường uống khi ấm, nhưng chẳng hiểu sao ở đây họ để rượu trong ống tre lạnh. Tuy nhiên, rượu sake uống cũng ngon, không quá mạnh cũng không quá yếu. Nếu so với rượu đế có chất lượng ở Việt Nam, tôi e rằng rượu sake còn thua một bậc. Sau đó, đầu bếp dọn ra từng món ăn một. Có tất cả đển 7 món, từ các món với cá sống, ba món súp, đến cơm là món sau cùng. Tôi có một bữa ăn no nê và cũng có thể nói là ngon. Vừa ăn, vừa nói chuyện, vừa ngắm đầu bếp làm đồ ăn thật là một kinh nghiệm khó quên.

Tôi nghĩ Nhật cũng là một nước văn minh nông nghiệp, cho nên nhiều món ăn ở đây được chế biến từ gạo và đậu nành. Nhưng Nhật còn là xứ sở của những người yêu biển, cho nên hầu như món ăn nào của họ cũng có vị biển trong đó. Chẳng hạn như món súp, tôi thấy súp nào của họ cũng có mùi vị biển, không mặn lắm, nhưng vừa đủ để thực khách biết đây là món có hương vị biển.

Một điểm đáng chú ý là món ăn Nhật cũng giống như món ăn Huế ở chỗ món nào cũng nho nhỏ. Có khi một vài lát cá, nhưng họ cũng biến thành một món ăn thú vị. Nhưng khẩu phần ăn thì rất đa dạng và nhiều. Một bữa ăn bình thường như tôi nói cũng lên đến 7-8 đĩa khác nhau. Bù lại khẩu phần ăn nhỏ là cung cách cầu kì trong cách trình bày món ăn. Tôi thấy hình như người Nhật rất quan trọng trình bày món ăn một cách cầu kì, hoa mĩ, với đủ thứ màu sắc. Cá thì có loại trắng, vàng, đỏ, xanh, và rong đen. Vì thế khi món ăn được bày lên mâm, trông cũng bắt mắt lắm.

Kể ra thì món ăn của người Nhật không ngon hơn và chắc chắn là không phong phú hơn món ăn của chúng ta. Món ăn của người Nhật có vị biển, còn món ăn của ta có vị sông nước và đậm đà hơn. Tuy nhiên, chúng ta chưa chú trọng đến cách trình bày món ăn cho đẹp, nên nhiều khi người nước ngoài có xu hướng xem món ăn của mình kém phần sang trọng. Chỉ là rong biển, nhưng họ ‘đánh bóng” bằng những nhành cây bên cạnh vài khía dưa leo, trông thấy đẹp và sang ngay. Tôi nghĩ đến món salad bắp chuối mà trang trí với rau răm và rau thơm, thêm chút “dressing” thì chắc chắn ngon hơn rong biển nhiều. Hay như món dưa mắm, hoặc dưa điên điển, mà chịu khó trang điểm thêm vài cọng rau xanh, để trong cái dĩa màu trắng tinh có thêm chút hoa văn nhẹ nhàng, thì trời ơi, thèm chảy nước miếng như không. Do đó, nếu tôi có lời khuyên gì cho nhà hàng Việt Nam là: trang điểm món ăn của mình!
(Còn tiếp)













































Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

Nhật kí Nagoya 1. Trở lại Nhật lần 3

- Ông đến Nhật để làm gì ?

Một nhân viên hải quan tuổi độ 30 vừa nhìn vào passport, vừa hỏi tôi một cách dò xét. Tôi vốn không ưa mấy câu hỏi loại “rất hải quan” này, nhưng cũng biết đó là loại câu hỏi chuẩn, nên cũng chịu khó trả lời cho qua:

- Tôi đi dự hội nghị.

- Hội nghị gì?

Năm nay, Hội loãng xương Nhật kết hợp với Hội loãng xương Hàn Quốc tổ chức hội nghị khoa học thường niên (lần thư 11) tại Thành phố Nagoya. Ban tổ chức có nhã ý mời tôi đi nói chuyện 2 bài cho hội nghị. Tôi đã từng đến Nhật 2 lần trước, một lần ở Tokyo và một lần ở Osaka (mà tôi có lần viết bài tường thuật). Nagoya nằm bên cạnh bờ biển Thái Bình Dương là thành phố lớn thứ 3 của Nhật, với gần 2.2 triệu dân. Hai thành phố lớn kia là Tokyo và Osaka. Nagoya thực ra là một thành phố kĩ nghệ, là thủ phủ của hãng Toyota. Cũng đã gần 10 năm nay, tôi mới có dịp quay lại Nhật và đi một thành phố mới, nên tôi nhận lời ngay.

- Hội nghị về loãng xương.

Anh ta tỏ vẻ thân thiện hơn với tôi, hỏi tôi đây là lần đầu đến Nagoya hay sao, và sẽ lưu lại Nagoya mấy ngày. Tôi cũng nhân dịp mà “bắt chuyện” cho vui. Anh ta không quên nói câu “Welcome to Nagoya”, rồi chúc tôi nhiều may mắn trong công việc. Đi đường mệt mà có một nhân viên hải quan thân thiện như thế này tôi cũng cảm thấy thoải mái đôi chút (chứ kiểu như hải quan Việt Nam thì càng mệt thêm J).

Lấy hành lí xong xuôi, tôi ra ngoài chờ người đối tác đến đón. Thật ra, tôi chẳng chờ gì cả, vì đã có ông Hiroshi Suzuki đang cầm bảng “Prof. Tuan V. Nguyen” để đón. Thấy tấm bảng, tôi từ xa nhìn ông ta và chỉ vào tôi như nói người ông đang tìm là tôi đây. Tay bắt mặt mừng. Chúng tôi ra bãi đậu xe, và ông lái xe đưa tôi về khách sạn. Trên đường đi, ông hỏi tôi liên miên, nào là đi đường có mệt không, chuyến bay có nhiều hành khách, ghế ngồi ông ta chọn có ok không, ăn uống ra sao … đến nỗi tôi thấy cảm động vì sự quan tâm có vẻ thật tình của người tôi mới gặp và quen lần đầu.

Phi trường Nagoya cách trung tâm thành phố cũng khoảng 40 phút lái xe. Đường đi rất tốt, không bị kẹt xe. Tuy nhiên, đường xá ở đây hẹp hơn nhiều so với Mĩ (ở điểm này thì Nhật có vẻ giống Úc). Tôi được ban tổ chức sắp xếp cho ở tại khách sạn Hotel Grand Court Nagoya (hình như là của tập đoàn ANA, hãng hàng không của Nhật). Khách sạn nằm ngay bên cạnh ga xe điện Kanayama, rất tiện cho việc đi lại trong thành phố.

Hội nghị lần thứ 11 của Hội loãng xương Nhật
(Nagoya Congress Center, 14-16/10/2009)

Đến khách sạn, Hiroshi đưa cho tôi một tờ chương trình làm việc cho tôi. Tôi ngạc nhiên khi xem qua chương trình, không phải vì nội dung, mà vì những chi tiết trong đó. Mỗi ngày, từng giờ một, tôi sẽ làm gi, ở đâu, và ai hướng dẫn. Đương nhiên, trong tiết mục “làm gì” ngoài những công việc chính thức ra, còn có cả những phần ăn uống, thăm những danh lam thắng cảnh, thăm viện bảo tàng và đi du lịch. Sau đó, anh ta nói để cho tôi yên nghỉ để chuẩn bị cho vài ngày làm việc sắp tới, anh ta xin cáo lui về phòng ở khách sạn khác. Tôi ngạc nhiên hỏi sao không ở đây cho vui, anh ta nói rằng vì khách sạn này đắt lắm (hình như là 25.000Y một ngày), nên anh ta chọn ở một khách sạn tương đối “khiêm tốn” hơn. Ui chao, nghe anh ấy nói thế tôi cũng chạnh lòng vì sự hiếu khách của ban tổ chức.

Thật ra, sau vài ngày tôi mới nhận ra đây là một phong cách làm việc của người Nhật. Tôi đi nhiều nơi ở các nước phương Tây, họ cũng có chương trình làm việc như thế này, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên tôi kinh nghiệm qua cách sắp xếp hết sức chi tiết và chính xác đến từng phút. Thật ra, anh ta nhắc đi nhắc lại cho tôi biết rằng mỗi sáng, tôi nên có mặt lúc mấy giờ và anh ta đến đón để đi phó hội. Ngay cả ăn uống, anh cũng hỏi tôi thích ăn món gì, Tây, Tàu, Ấn, Nhật, Hàn, v.v… để anh ta chuẩn bị tốt hơn. Chẳng lẽ tôi nói muốn ăn món Việt Nam, nhưng vì biết rằng ở thành phố này chẳng có bao nhiêu người Việt định cư nên một đòi hỏi như thế tôi e rằng làm phiền chủ nhà quá đáng, nên đành chọn món ăn địa phương cho “đậm đà” bản sắc dân tộc!

Symposium đột xuất
Sáng đến đăng kí và nhận tài liệu hội nghị. Nhìn qua đống tài liệu toàn là tiếng Nhật, nhưng cũng thỉnh thoảng có vài abstract tiếng Anh. Theo chương trình, tôi sẽ nói chuyện hai bài trong hội nghị: một bài về clinical trial và một bài về di truyền. Nhưng trong thực tế, vì lí do đột xuất (hay vì họ thích tôi ?) nên ban tổ chức đề nghị tôi nói thêm một bài về tiên lượng và ứng dụng mô hình tiên lượng trong việc chọn đối tượng điều trị. Đương nhiên là tôi vui vẻ nhận lời.

Đi dạo một vòng hội trường Nagoya Congress Center (NCC), tôi thấy poster quảng cáo symposium về di truyền với tên tôi khắp nơi. Điều này cũng không ngạc nhiên, vì bài đầu là do ban tổ chức hội nghị mời giảng, còn bài hai là do một công ti sinh học bảo trợ. Mà, công ti thì họ có tiền nên họ làm rầm rộ hơn ban tổ chức nhiều. Đối với tôi thì ai bảo trợ không quan trọng bằng việc mình phải làm cho tốt để không phụ lòng người bảo trợ. Do đó, thấy tên mình tùm lum trong hội trường mênh mông này, tôi cảm thấy như mình có thêm … gánh nặng.

Poster quảng cáo bài nói chuyện của tôi
(vì cái poster này mà tôi phải mang thêm gánh nặng trên vai)
Hội nghị khoa học thường niên lần này là lần thứ 11. Năm nay, họ phối hợp với Hội loãng xương Hàn Quốc để tổ chức, với mục đích giao lưu khoa học, và cũng là một hình thức nâng cao con số người tham dự. Thật ra, tổng số bác sĩ tham dự lên đến >700 người, phần lớn là từ Nhật, kế đến là Hàn Quốc, phần còn lại là từ Thái Lan, Singapore, Philippines, và Mã Lai. Không có ai từ Việt Nam sang dự (và chắc cũng không cần thiết). Tuy con số chính thức là trên 700 người, nhưng tôi chưa bao giờ thấy số tham dự đầy đủ. Có lẽ con số người thật sự tham dự cao nhất là 400 người, vì hội trường lớn nhất chứa 500 người, và vẫn còn ít nhất 20% ghế còn trống. Điều này cũng bình thường, vì một số người chỉ đăng kí đóng tiền, nhưng do bận tham quan nên không tham gia thường xuyên.

Diễn giả được mời (invited speaker) của hội nghị năm nay chỉ có 4 người. Hai người từ Mĩ là Gs Steve Cummings (Đại học California, San Francisco), Gs Sarah Booth (Đại học Tuft), Gs Andre Uitterlinden (Hà Lan), và tôi từ Úc. Cả ba người kia đều là chỗ quen biết của tôi, đặc biệt là Gs Cummings và Uitterlinden, người rất thân mật với cá nhân và nhóm của tôi vì chúng tôi theo đuổi cùng một lĩnh vực nghiên cứu. Gặp nhau ở đây, trong môi trường Nhật và rất ít người nói thạo tiếng Anh, nên chúng tôi có vẻ tâm đầu ý hợp nhau. Tuy nhiên chỉ được 2 ngày đầu, vì ngày thứ 3 thì các vị kia bận đi tham quan do họ đã làm xong nhiệm vụ, còn tôi thì ngày nào cũng có việc để làm, nên chẳng đi đâu được. Thật ra, cũng không hẳn như thế, vì ngày thứ 3 là ngày tôi cũng “cúp cua” được một buổi để đi thăm lâu đài Nagoya và điện Atsuta trong thành phố.

Buổi symposium về di truyền của tôi diễn ra êm xuôi, với số người tham dự chỉ trên 100. Ngày hôm đó có đến 3 symposium, nên có lẽ các nhóm phải cạnh tranh nhau để thu hút người tham dự. Nhìn qua hội trường, tôi cũng thấy nhiều khuôn mặt quen thuộc. Điều này cũng dễ hiểu, vì chỉ có người quan tâm đến vấn đề mới vào đây nghe. Cũng không loại trừ khả năng một số người vì tò mò muốn biết cái ông Prof Nguyen này nói gì. Cũng như các symposium bên Mĩ, ở đây người ta vừa ăn vừa nghe. Tôi nói về những khám phá gien mà nhóm tôi và trên thế giới đã công bố, rồi đề nghị một vài cách ứng dụng kết quả gien để tiên lượng bệnh tốt hơn. Thật ra, đây là những gì tôi đã nói và viết trong thời gian 10 năm qua, nên nếu ai hay đọc bài của tôi thì chắc sẽ nói ... nghe quen quen! Tôi nói đúng 50 phút, để dành 10 phút trao đổi và thảo luận. Phần thảo luận chỉ có đúng 5 câu hỏi, ít hơn là tôi dự đoán. Sau này tôi mới biết là ở đây cũng có văn hóa chiếu trên chiếu dưới như ở Việt Nam ta, tức là người trẻ ít khi nào đặt câu hỏi với giáo sư, chỉ có mấy ông bà “già” mới có ý kiến và bình luận nhiều. Không biết họ vì ngoại giao hay thật tình, nhưng sau khi tôi ra ngoài thì có nhiều người đến bắt tay khen tôi nói … hay. Có vài người còn lại xin chữ kí vì họ nói nghe tên tôi đã lâu, nay mới gặp mặt và nghe tôi nói chuyện. Trời, cứ như là ca sĩ !

Symposium thứ 2 của tôi là về áp dụng kết quả nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên vào thực hành lâm sàng (translating results of randomized clinical trials into clinical practice). Symposium này tổ chức ở hội trường chính (main hall), thu hút số người tham dự đông hơn (con số có lẽ lên đến 300) là symposium về di truyền. Tôi duyệt qua các kết quả của các nghiên cứu nổi tiếng trong quá khứ và đặt câu hỏi: phải sử dụng những kết quả này như thế nào cho bệnh nhân. Tôi sử dụng một số khái niệm về y học thực chứng như NTT (number needed to treat), NNH (number needed to harm) và chỉ cách ứng dụng chỉ số này để cân bằng giữa lợi và hại, để xác định ngưỡng nguy cơ cần được điều trị. Tôi cũng nói 50 phút và dành 10 phút thảo luận. Phần thảo luận này rất hào hứng, có lẽ vì đề tài dễ hiểu hơn là di truyền học. Tôi để ý đến một ông giáo sư Hàn Quốc hỏi tôi một câu hơi … buồn cười. Ông ấy (nói là “ông” chứ tuổi chỉ 50 gì đó thôi – tôi đoán thế) nói rằng đây là lần đầu tiên ông nghe đến khái niệm NTT (number needed to treat) và hỏi tôi là khái niệm này đã được chấp nhận trong y khoa hay chưa. Tôi ngạc nhiên vì ông này xem ra chẳng biết gì về EBM cả, nhưng cũng lịch sự trả lời cho ổng rõ. Tôi nhắc nhở nhẹ nhàng rằng khái niệm này đã được biết đến hơn 23 năm qua rồi, và hầu như nghiên cứu randomized clinical trial nào cũng trình bày NNT cả. Tuy nhiên, ông ta có vẻ rất thích thú với những ý tôi trình bày. Sau giờ giải lao ông ta lại hỏi tôi là “Bộ ông đến từ Việt Nam hả?” Tôi vui vẻ và còn hãnh diện nói: ừ, Việt Nam; còn mày, Nam Hàn phải không? Chúng tôi có những trao đổi chính trị Tàu – Việt Nam – Hàn Quốc hết sức thú vị, và tôi cũng chịu trận với những đòn anh ta chửi Tàu quá cỡ. :-)

Symposium 3 là một “sự cố” đột xuất. Theo chương trình, ban tổ chức dành 2 giờ để bàn về ứng dụng mô hình FRAX (do WHO phát triển) trong việc tiên lượng gãy xương cho bệnh nhân. Trong một buổi nói chuyện kiểu trà dư tửu hậu với ông chủ tịch ban tổ chức, tôi có nói sơ qua ý kiến của mình về FRAX. Tôi nói đại khái rằng mô hình FRAX chưa đạt những tiêu chuẩn khoa học để có thể áp dụng rộng rãi cho bệnh nhân. Ông này nghe qua có vẻ hấp dẫn, nên hỏi tôi có thể dành 20 phút để nói thêm chuyện này trong symposium. Đương nhiên là tôi vui vẻ nhận lời, và ông ta phải thay đổi chương trình một chút. Thế là đêm đó về khách sạn, tôi phải thức đến gần nửa đêm để chuẩn bị slides nói chuyện. Cái khó là phải nói làm sao cho thuyết phục mà không mang tiếng là phê bình nặng nề mô hình FRAX! Sáng hôm sau, ông chủ tịch tuyên bố có một thay đổi nhỏ, đó là ông ta đã mời được tôi chia sẻ kinh nghiệm và ý kiến với hội nghị. Ông ta giới thiệu tôi quá nồng nhiệt, làm tôi thấy hơi ngượng vì nghe ông ta đọc về mình cứ như là ông bầu quảng cáo ca sĩ không bằng. Tôi nói về 5 tiêu chuẩn khoa học cho một prognostic model, và chỉ ra rằng FRAX không đạt bất cứ nào một tiêu chuẩn nào. Tôi có dữ liệu lấy từ các báo cáo trong hội nghị của chính người Nhật để chứng minh những gì tôi nói là có cơ sở. Điều làm tôi tự hào là có lẽ qua bài nói chuyện này, tôi đã làm thay đổi cục diện của vấn đề. Ông chủ tịch cho biết là trước đây Hội loãng xương Nhật định dùng symposium này để kêu gọi áp dụng FRAX rộng rãi cho bệnh nhân, nhưng qua những ý kiến thành thật của tôi, Hội đã đề nghị phải nghiên cứu thêm về FRAX trước khi áp dụng. Nếu cho đó làm một đóng góp, tôi nghĩ mình cũng đã đóng góp cho họ, xứng đáng với đồng tiền bát gạo họ bỏ ra để mời tôi sang đây. Đêm đó về khách sạn, tôi có một giấc ngủ ngon.

(Còn tiếp)

Thành phố thiếu cây xanh:
Nagoya, nhìn từ tầng 25, khách sạn ANA Grand Court Hotel Nagoya.