Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010

Elena Ceausescu: “đỉnh cao” của khoa học rởm

Bài sau đây tôi "lượm" từ trang blog của Gs Nguyễn Tiến Zũng (Pháp) viết về Elena Ceausescu, phu nhân của cựu chủ tịch N. Ceausescu. Cả hai vợ chồng bị tử hình sau khi XHCN sụp đổ ở Rumani. Bài viết có nhiều thông tin rất thú vị.

NVT

====

http://zung.zetamu.com/?p=1470

Elena Ceausescu: “đỉnh cao” của khoa học rởm

(tham khảo từ nhiều tài liệu khác nhau)

Trên thế giới, có rất nhiều nhà khoa học chân chính, và bên cạnh đó cũng có những “nhà khoa học” rởm, mua danh bán tước. Hiện tượng này không chỉ có ở Việt Nam, mà cũng xuất hiện lẻ tẻ ở các nước khác. Nhưng các nhà khoa học rởm đương thời chắc sẽ phải ghen tị với những kỳ tích của “kĩ sư tiến sĩ viện sĩ” Elena Ceausescu.

Mẹ dân tộc

Elena Ceausescu sinh năm 1916 trong một gia đình nông dân mang tên Petruscu ở Rumani (Romania). Bà ta bỏ học năm lớp 4 vì không theo nổi, lên thủ đô Bucharest, làm phụ tá trong một xưởng dược phẩm nhỏ, rồi làm công nhân xưởng dệt. Năm 1939, bà ta gặp Nicolae Ceausescu trong phong trào hoạt đông chính trị, và đến năm 1947 thì họ cưới nhau. Khi cưới, bà ta sửa năm sinh của mình thành 1919 để cho trẻ hơn chồng (sinh năm 1918), do vậy một số tài liệu ghi năm sinh bà ta là 1919. Cùng với sự thăng quan nhanh chóng của Nicolae Ceausescu (ông ta làm Tổng bí thư Đảng của Rumani từ năm 1965, Chủ tịch nước từ năm 1967 cho đến lúc bị tử hình năm 1989), Elena Ceausescu cũng dần chiếm lấy vị trí quan trọng trong chính phủ. Sau chuyến thăm Trung Quốc năm 1971, khi thấy Giang Thanh nắm nhiều quyền hành, Elena Ceausescu càng thấy việc mình nắm quyền là hết sức tự nhiên. Từ năm 1973, bà ta trở thành ủy viên Bộ Chính Trị của Rumani, và từ năm 1980 nắm chức Phó thủ tướng thứ nhất, chỉ đứng sau chồng mình trong nội các. Có những biển quảng cáo tuyên truyền của Rumani thập kỷ 1980 vẽ hình hai vợ chồng nguyên thủ quốc gia cùng chỉ đường dẫn lối cho dân chúng.

Bộ máy tuyên truyền của Rumani thời đó còn gọi Elena Ceausescu là “mẹ dân tộc”. Tuy nhiên, các ý tưởng của “mẹ dân tộc” lại có thể là thảm họa cho nhân dân. Một trong các ý tưởng đó là phát triển kinh tế bằng cách đẻ thật nhiều để “tạo sức lao động”. Từ năm 1966, luật của Rumani cấm các biện pháp tránh thai và nạo thai. Thay vào đó, mỗi phụ nữ được yêu cầu phải đẻ ít nhất 4-5 con. Dân số bùng nổ và quản lý kinh tế yếu kém đẩy Rumani vào tình trạng nghèo đói đến mức nhiều gia đình Rumani không có khả năng nuôi con, phải gửi con vào trại trẻ mồ côi. Do điều kiện chắm sóc quá tồi và thiếu ăn, nên phần lớn các trẻ em trong các trại mồ côi đó bị ốm yếu bệnh tật cả về thể xác lẫn tinh thần. Trong những năm 1980, hàng nghìn trẻ em trong các trại này bị nhiễm bệnh SIDA do truyền máu, nhưng hội đồng y tế quốc gia do Elena Ceausescu cầm đầu thì khẳng định là “không thể có bệnh SIDA ở Rumani”.

“Mẹ dân tộc” sẽ không tha thứ cho kẻ nào dám vượt trội mình. Một lần, trong một chuyến đi thăm Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), có bộ trưởng ngoại giao Rumani và vợ của ông ta đi theo, ông thủ tướng Turkey tưởng nhầm vợ của ông bộ trưởng ngoại giao là bà Ceausescu vì trông bà ta sáng sủa nhất, tuy rằng bà Ceausescu đứng ngay cạnh đấy và ăn vận bộ đồ vô cùng đắt tiền. Hai hôm sau, ông bộ trưởng này liền bị cách chức.

Viện sĩ trình độ lớp 4

Để khẳng định vị trí “mẹ dân tộc” của mình, Elena Ceausescu đã lựa chọn “con đường khoa học”. Bà ta ghi tên làm tiến sĩ về hóa học ở Bucharest theo hệ học từ xa buổi tối . Với tấm bằng tiến sĩ, bà Ceausescu nhanh chóng trở thành “nhà khoa học lỗi lạc”, viện trưởng Viện hóa học vào năm 1965 (?), rồi chủ tịch hội đồng quốc gia về khoa học và công nghệ vào năm 1970, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Rumani vào năm 1974, chủ tịch hội đồng quốc gia về văn hóa và giáo dục vào năm 1975. Hàng loạt bài báo khoa học, đặc biệt là về các vật liệu polymer, được ký tên Ceausescu. Người ta gọi bà một cách kính cẩn là “kỹ sư tiến sĩ viện sĩ Elena Ceausescu”. Bà ta còn ứng cử vào chức Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học, tuy không được bầu.

Một giáo sư người gốc Rumani hiện làm việc ở Paris kể câu chuyện sau: Khi làm Viện trưởng Viện hóa học, bà Ceausescu đưa ra 3 cải cách mà các nhà khoa học Rumani sẽ còn nhớ lâu. Đó là:
- Những người làm việc trong viện phải mặc đồng phục, mỗi tầng mặc một màu khác nhau (như vậy sẽ dễ nhận biết ai có lảng vảng ở tầng không thuộc phận sự của mình).
- Ai đi vào nhà vệ sinh, thì phải ghi giờ đi vào và đi ra khỏi nhà vệ sinh.
- Đóng cửa thư viện. (Kẻ nào mà cần tra cứu sách thư viện, tức là kẻ đó chưa đủ kiến thức trong đầu, không xứng đáng được làm ở viện!)

Đằng sau lưng, người ta gán cho bà Ceausescu biệt danh “codoi”, vì bà ta thậm chí không biết đọc đúng ký hiệu CO2 và đọc nó thành “codoi”, nhưng tiếng Rumani “codoi” có nghĩa là cái đuôi. Sự vô học của bà ta là một “điều bí mật mà ai cũng biết”. Sau năm 1989, các nhà khoa học Rumani khẳng định là các “công trình khoa học” của Elena đều do nhữngngười khác viết, do đồng lõa hoặc bị ép buộc. Nhưng dưới thời Ceausescu, ai dám mở miệng nói ra những điều như vậy sẽ bị trừng trị thích đáng. Nhà hóa học Rumani nổi tiếng thế giới, ông Cristofor Simionescu, bị cách chức hiệu trưởng Bách Khoa Iasi năm 1976 sau khi nói với Đại sứ Liên Bang Đức là bà Ceaucescu là “kẻ mù chữ” (trong một cuộc nói chuyện riêng, nhưng bị cơ quan an ninh của Rumani ghi âm). Một số nhà khoa học bị đuổi việc, hoặc thậm chí bị đi tù, vì dám gọi chệch một quyển sách về polymere ký tên bà ta thành polypere (tiếng Rumani: mere là quả táo, pere là quả lê). Ngược lại, những nhân vật khoa học chấp nhận “ăn theo” Ceausescu sẽ được thăng quan tiến chức. Trong đó có một người nổi bật tên là Ion Ursu, chuyên “viết thuê” cho bà ta.

Hơn 100 văn bằng danh dự

Năm 1978, hai vợ chồng Ceausescu được nữ hoàng Anh mời thăm chính thức (thường mỗi năm nữ hoàng Anh chỉ mời 2 nguyên thủ quốc gia). Tất nhiên, có sự vụ lợi của Anh trong việc mời mọc này. Về mặt kinh tế, họ đang chào bán cho Rumani một loạt 80 máy bay dân sự (nhãn hiệu BAC 1-11, với động cơ Rolls-Royce), và hợp đồng mua bán này sẽ được ký trong chuyến đi thăm London của Ceausescu. Về phía Ceausescu, đây cũng là dịp để họ khẳng định vị trí chính trị của mình. Elena Ceausescu đòi hỏi Viện hàm lâm hoàng gia Anh (Royal Society) và Đại học Oxford phong danh hiệu viện sĩ và tiến sĩ danh dự. Tuy nhiên cả hai nơi đều từ chối. Giới khoa học Anh thừa biết “tiểu sử khoa học” rởm của bà ta. Cuối cùng, các nhà ngoại giao móc nối được hai nơi khác, là Royal Institute of Chemistry đồng ý phong danh hiệu thành viên danh dự (honorary fellow) cho bà ta, và Polytechnic of Central London đồng ý phong danh hiệu giáo sư danh dự. Trong các buổi lễ phong danh hiệu danh dự đó, Elena Ceausescu đã được mấy nhân vật có quyền lực trong giới khoa học của Anh đọc diễn văn tâng bốc lên thành “nhà hóa học lỗi lạc, với những công trình ảnh hưởng lớn đến nhân loại”.

Elena Ceausescu nhận được các danh hiệu viện sĩ, tiến sĩ hay giáo sư danh dự không chỉ ở Anh, mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới, trong đó có cả Mỹ, Pháp, Mexico, Hy lạp, v.v. Cứ nơi đâu mà vợ chồng Ceausescu đặt chân tới theo danh nghĩa nguyên thủ quốc gia, thì các nhà ngoại giao và các nhà khoa học của Rumani được giao chỉ thị phải mặc cả cho được danh hiệu danh dự của một vài tổ chức khoa học uy tín tại nơi đó. Tất nhiên, đối với dân chúng, lần nào cũng sẽ là viện hay trường nước ngoài “rất kính trọng và đánh giá cao các công trình khoa học vĩ đại của bà, và vì nể họ nên bà nhận bằng danh dự mà họ muốn được trao tặng bà”. Tổng cộng, Elena Ceausescu thu thập được hơn 100 danh hiệu danh dự như vậy.

Kết thúc bi kịch

Cuối năm 1989, xảy ra đảo chính ở Rumani lật đổ chế độ độc tài Ceausescu. Hai vợ chồng Ceausescu bỏ trốn bằng máy bay trực thăng ra khỏi Bucharest, nhưng sau đó bị cảnh sát bắt giữ. Họ bị lôi ra xử và kết án tử hình trong một phiên tòa cấp tốc chỉ kéo dài chưa đầy 2 tiếng đồng hồ vào ngày 25/12/1989. Trong phiên tòa, Elena Ceausescu vẫn kiêu ngạo tự nhận mình là nhà khoa học lớn. Hai vợ chồng Ceausescu bị đem ra xử bắn ngay trong ngày hôm đó. Kết thúc bi kịch của Ceausescu mở ra một trang sử mới cho Rumani.

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010

Cảm nhận về 2 chuyến ghé thăm Đại học Quốc gia

Trong chuyến công tác ngắn ngũi ở Việt Nam, tôi có cơ duyên ghé thăm 2 trường Đại học Quốc gia: một ở Hà Nội và một ở TPHCM. Tất cả cũng chỉ tình cờ, chứ chẳng nằm trong chương trình làm việc của tôi. Nhưng những cuộc gặp gỡ tình cờ thường để lại nhiều ấn tượng và kỉ niệm lâu dài. Xin ghi lại đây vài cảm nhận cá nhân qua 2 lần ghé thăm 2 trung tâm giáo dục lớn nhất nước ...

Tôi không có duyên với Hà Nội. Lần nào đi Hà Nội cũng có những kỉ niệm buồn, và lần này không phải là một ngoại lệ (tôi sẽ thuật lại chuyện tôi bị “ăn cướp” ngay tại thủ đô trong một bài sau). Lần nào ở Hà Nội thời khóa biểu làm việc đều kín mít, mà toàn là những việc bên lề, chẳng liên quan gì đến chương trình của chuyến đi. Những chuyện nói là “bên lề” nhưng lại là chuyện – nói theo người Tây phương – là gần với trái tim tôi (close to my heart): đó là chuyện giáo dục đại học và chất lượng nghiên cứu khoa học. Tôi viết rất nhiều (có lẽ hàng trăm) bài viết về 2 chủ đề này, và phần lớn đều được Tạp chí Tia Sáng đăng tải, còn lại thì Tạp chí (hay bản tin) Đại học Quốc Gia Hà Nội và tờ báo mạng Tuần Việt Nam đăng tải. Do đó, tôi có cơ duyên quen biết các bạn biên tập trong 3 tờ báo này. Có người tôi chưa gặp mặt ngoài đời, nhưng các anh bạn trong Tia Sáng thì gặp 2 hay 3 lần rồi. Do đó, chuyến đi Hà Nội nào tôi cũng tranh thủ thời gian gặp bạn bè đã quen và chưa gặp để nói chuyện.

Buổi sáng ngày 15/1, trước khi bay vào Sài Gòn, tôi hẹn gặp các bạn trong Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là lần đầu tiên tôi đến Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), nên cái gì cũng mới đối với tôi. Từ khách sạn Fortuna (nơi tôi lưu trú lần này) đến ĐHQGHN ở Cầu Giấy chỉ 5 km gì đó, nhưng taxi chạy loanh quanh cũng mất cả 10 phút! Mới bước vào khuôn viên đại học, tôi thấy trường cũng rộng rãi, chắc chắn là rộng hơn và sạch sẽ hơn so với Đại học Khoa học Tự nhiên ở Sài Gòn. Hình như trường đại học nào ở Hà Nội (ngoại trừ trường nông lâm) cũng đều rộng và sạch hơn đại học trong Sài Gòn. Nói ra nhận xét này chắc các bạn trong Nam sẽ không hài lòng, nhưng đó là cảm nhận cá nhân tôi có được sau khi đi qua và so sánh.

Nơi tôi đến gặp là Trung tâm Truyền thông và Quan hệ Công chúng (tiếng Anh là Center for Mass Communication and Public Relations). Ở đây tôi quen biết 2 người bạn trẻ: tôi từng biết P từ những ngày anh còn cộng tác bên Tia Sáng, và sau này là H trong một chuyến về Hà Nội và đàm đạo bên quán cà phê sinh viên gần khách sạn Melia (lúc đó tôi ở khách sạn này). Chúng tôi có vẻ hợp ý nhau lắm, và cùng có một mối quan tâm về các vấn đề quản lí chất lượng nghiên cứu khoa học, nên câu chuyện của chúng tôi hầu như không bao giờ có hồi kết! Nhưng hôm nay tôi gặp anh Q, là giám đốc trung tâm và cũng là tổng biên tập của tạp chí Đại học Quốc gia HN. Chúng tôi đã có một giờ bàn luận thú vị về các vấn đề chung quanh những bài viết của tôi. Tôi cũng có dịp giải thích những quan điểm và cái nhìn của tôi về tình hình khoa học ở trong nước. Tôi quen tính người miền Nam, “nghĩ sao nói vậy người ơi”, nên chẳng biết có làm phiền các anh không. Tôi nghĩ là không, vì nhìn qua cách nói và với một phong cách thoáng của anh Q tôi nghĩ chúng tôi nói chuyện cùng “băng tần”.

Tôi nói sơ qua về các chỉ số đánh giá một nhà khoa học, và nhắc lại rằng có lẽ tôi là người đầu tiên giới thiệu chỉ số H ở Việt Nam. Tôi cũng nhắc lại những vấn đề liên quan đến quan niệm, qui trình và tiêu chuẩn phong chức danh giáo sư ở Việt Nam. Tôi nói rằng quan niệm về chức danh giáo sư ở nước ta lạ lùng quá, vì nó như là một phẩm hàm, một phần thưởng chứ không phải là một chức danh khoa học. Có lẽ chính vì quan niệm lệch với thế giới nên chúng ta có quá nhiều giáo sư không giảng dạy đại học hay làm nghiên cứu, mà làm trong các cơ quan hành chính và quản lí. Về qui trình và tiêu chuẩn cũng có nhiều vấn đề cần bàn và xem xét lại. Một trong những tiêu chuẩn phong hàm giáo sư là số lượng và chất lượng bài báo khoa học, nhưng rất tiếc là cách hiểu về “bài báo khoa học” của hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước theo tôi là không đúng. Không thể nào xem những abstract trong các hội nghị khoa học là “paper” (bài báo khoa học) được. Cũng không nên đánh đồng các bài báo khoa học đăng trên các tập san quốc tế, vì các tập san này rất khác nhau về chất lượng; cần phải dựa vào một số chỉ số để đánh giá chất lượng tập san. Các chỉ số này có lẽ không hoàn hảo, nhưng nó vẫn tốt hơn là không dựa vào cảm tính hay ý kiến của những vị “giáo sư đầu ngành”. Theo tôi, ý kiến của giáo sư, cho dù là giáo sư đầu ngành, có giá trị thấp nhất nếu không kèm theo những dữ liệu cụ thể.

Đến khi vào Sài Gòn tôi lại có dịp ghé thăm Đại học Quốc gia TPHCM. Cơ duyên của tôi với ĐHQGTPHCM là qua trung gian một người quan tâm đến chất lượng giáo dục. Đại học này mới ra đời, hình như là 15 năm. Đại học này ra đời với một tổ chức hơi … phức tạp (và bây giờ tôi mới hiểu chút chút). Một cách đại khái, Đại học Quốc gia là tập hợp một số đại học thành viên. Trong trường hợp ĐHQGTPHCM, các đại học thành viên là Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (tên gì mà dài thế), Đại học Bách khoa, và Đại học Công nghệ Thông tin. Điều đáng nói là mặc dù ĐHQGTPHCM là cơ quan ngang bộ (tức báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ), nhưng các đại học thành viên thì lại trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giám đốc ĐHQG trên danh nghĩa là tương đương bộ trưởng, nhưng “quân” của ông thì báo cáo cho một bộ trưởng khác! Thật là phức tạp! Tôi không biết với cơ chế như vậy thì vận hành làm sao cho trôi chảy.

Đại học tọa lạc trên một khu đất rất rộng ở Thủ Đức. Vì ở xa như thế (thật ra thì chẳng có gì là xa nếu tính cây số) và phần lớn nhân viên đều ở trong nội thành, nên nghe nói rằng nhiều nhân viên đi làm ở đây phải đi xe bus của trường từ trung tâm Sài Gòn. Tôi phải đi taxi (do trường có nhã ý trả) từ Sài Gòn ra Thủ Đức (tốn khoảng 200 ngàn đồng). Trên đường đi, tôi thấy đoạn đường này cực kì bận rộn, với nhiều đoàn xe tải ngược xuôi vận chuyển hàng hóa có lẽ từ các trung tâm kĩ nghệ về thành phố và ngược lại. Phải đi qua con đường này mới thấy kinh tế Việt Nam sôi động cỡ nào.

Vẫn như ở ĐHQGHN, tôi cũng không có cơ duyên gặp các vị lãnh đạo trường ĐHQGTPHCM, vì ai cũng bận đi công tác hay chuẩn bị lễ kỉ niệm 15 năm thành lập trường. Nhưng tôi vẫn có dịp nói chuyện với vài đồng nghiệp quan tâm về chất lượng giáo dục đại học. Hai lần tiếp xúc với hai đại học quốc gia là hai lần tôi nghe đến chuyện đổi mới trong giáo dục đại học, chuyện nâng cao chất lượng giảng dạy và đào tạo, nhưng chưa thấy nói đến nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, những bàn luận vẫn chỉ xoay quanh những vấn đề chung, chưa đi vào chi tiết, chưa bàn đến làm gì và làm ra sao, chưa nói đến “kĩ thuật”, tức là những vấn đề phức tạp hơn là nói chung chung.

Mấy năm gần đây người ta nói đến ý định đưa đại học Việt Nam lên tầm quốc tế (world class), với những thời điểm cụ thể và con số cụ thể. Nhưng cảm nhận của tôi qua ghé thăm nhiều trường đại học (đương nhiên không phải tất cả) thì giấc mơ đẳng cấp quốc tế còn xa vời lắm. Chưa có một đại học nào có nghiên cứu nội lực thật tốt. Chưa có một đại học nào có cơ sở vật chất tốt. Chưa có một đại học nào có thư viện cho đúng nghĩa. Chưa có đại học nào mà giáo sư có thành tích nghiên cứu thuộc hàng đẳng cấp quốc tế (tức chỉ số H trên 20). Vậy thì làm sao chúng ta mơ tưởng đến chuyện trở thành đẳng cấp quốc tế trong vài năm được. Tốt hơn hết là tự mình làm cho tốt, đến khi đủ nội lực rồi sẽ nói chuyện đẳng cấp quốc tế. Làm tốt phải bắt đầu từ những chuyện xây dựng cơ sở vật chất, đặt nặng nghiên cứu khoa học, thu hút người tài và đảm bảo cuộc sống cho họ. Chỉ khi nào làm được mấy chuyện này thì chúng ta sẽ nói đến đẳng cấp quốc tế; còn bây giờ hãy nói đến chất lượng đào tạo và những thước đo chất lượng trước.

NVT

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Một buổi sáng ở Đại học Khoa học Tự nhiên

Sáng hôm 21/1 tôi có vinh hạnh ghé qua trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHKHTN), tức là trường Đại học Khoa học cũ (trước 1975). Nhờ một anh bạn giảng viên trong trường “mai mối” tôi giảng một bài ngắn (chỉ 2 tiếng) cho gần chục bạn giảng viên trẻ trong khoa sinh học. Lâu lắm rồi, tôi mới có dịp vào khuôn viên trường này, nên đi đâu cũng nhìn chằm chằm cứ như là Hai Lúa mới lên thành thị. Những cây cổ thụ vẫn còn đó, nhưng hình như số cây ít hơn so với trước đây. Tòa nhà chính vẫn còn đó, dù có vài thay đổi nhỏ và tường có vẻ rêu phong, hành lang thì hình như cũ kĩ hơn. Cũng có một vài tòa nhà được xây mới (hay tương đối mới) nhưng rất chấp vá, không hài hòa trong cái khung cảnh chung của các tòa nhà cũ. Những tòa nhà từ thời Tây còn lại đã bị xuống cấp thê thảm. Bậc thang đi lên khoa sinh học trông thật là dơ bẩn, tối tăm, chật hẹp. Đứng trên cao nhìn xuống khuôn viên trường trông rất lô nhô, lổm chổm, và nhếch nhác. Tôi cảm thấy ngậm ngùi cho cái trường một thời danh tiếng trong vùng Đông Nam Á này.

Trước khi giảng bài, tôi lang thang trong thư viện nhỏ của khoa sinh và phát hiện rằng cái tủ sách nhỏ này chứa nhiều tập san rất quí trên thế giới. Tủ sách cũ kĩ được để ngoài hành lang này có những số báo của tập san Nature từ năm 1910, một số xuất bản trong thập niên từ 1950-1970. Ngoài ra, còn có một số tập san nổi tiếng khác về sinh học và môi trường học nữa. Tôi có nói với các bạn trong khoa rằng đây là những tài liệu cực kì quí hiếm mà ngay cả đại học New South Wales của tôi cũng không có. Tôi rất sợ là mấy tập san này sẽ tiêu tan nay mai, vì với thời tiết mưa nắng khắc nghiệt và tủ sách để ngoài hành lang như thế không biết mấy tài liệu này có thể “sống” bao lâu nữa. Không biết các bạn ấy có quan tâm đến sự quan tâm của tôi.

Ngày xửa ngày xưa mà ĐH Khoa học Sài Gòn đã có những tập san số 1 trên thế giới như thế. Còn ngày nay, ngay cả các đại học lớn nhất của VN vẫn không có đến một tập san khoa học hàng đầu trên thế giới. Thử vào thư viện Đại học Y Dược chúng ta sẽ thấy chẳng có tập san khoa học nào mới cả. Chẳng trách tại sao nghiên cứu sinh Việt Nam ngày nay khi viết đề cương nghiên cứu chỉ dựa vào những tài liệu khoa học thời 1970s. Còn những bài báo khoa học công bố trên các tập san ở VN thì thành thật mà nói là đại đa số chẳng có giá trị khoa học gì cả.

Ngoài ra, tôi còn có dịp đọc qua những kĩ yếu của ĐH Khoa học Sài Gòn thời thập niên 1950-1970. Ngạc nhiên thay, những kĩ yếu này được bảo quản khá tốt, trông cứ như là những tập san mới in cách đây vài năm. Mỗi kĩ yếu dày khoảng 500 trang, bìa màu xanh, với rất nhiều bài báo khoa học viết bằng tiếng Pháp, nhưng có phần abstract bằng tiếng Anh (mà không bằng tiếng Việt). Những bài báo này được viết theo cấu trúc một bài báo khoa học hiện nay, và chất lượng theo tôi là không thua gì những bài báo trên các tập san chuyên môn nước ngoài. Có những bài mà tác giả thời đó chưa có phương tiện chụp ảnh, nên phải minh họa bằng tay với những đường vẽ hết sức sắc sảo.

Đọc qua những bài báo từ thập niên 1950-1970 này tôi quả thật sự thán phục và kính trọng các bậc đàn anh, các bậc “tiền bối” đã xây dựng nên một nền khoa học nghiêm chỉnh cho miền Nam. Đối chiều những nghiên cứu trước đây với những “nghiên cứu” ngày nay, tôi thấy có một sự khác biệt một trời một vực. Ngày xưa các bậc đàn anh làm nghiên cứu cẩn thận, còn ngày nay thế hệ đàn em làm nghiên cứu kiểu bát nháo. Có lẽ chính vì thế mà anh bạn tôi cho biết khi cần những dữ liệu tham khảo về môi sinh, về thực vật, người ta vẫn dựa vào những cuốn sách và nghiên cứu của những người đi trước (như của Gs Phạm Hoàng Hộ chẳng hạn), chứ không ai dám dựa vào những nghiên cứu thời nay vì dữ liệu không đáng tin cậy.

Đọc qua những kĩ yếu của ĐH Khoa học Sài Gòn trước năm 1975, tôi càng thấm hiểu tại sao miền Nam Việt Nam thời thập niên 1960s đã có một nền giáo dục đại học tốt, hay ít ra là tốt hơn so với các nước trong vùng như Thái Lan mà ngày nay chúng ta đang lẹt đẹt chạy theo sau họ.

Vì sao chỉ có vài chục năm mà giáo dục miền Nam Việt Nam chuyển từ vị thế đáng kính trong vùng sang vị thế thấp hèn như hiện nay. Những chính sách sai lầm và duy ý chí? Những chính sách “hồng hơn chuyên”? Những thay đổi về giá trị đạo lí và đánh tráo khái niệm trung thực khoa học với mục tiêu chính trị? Có lẽ tất cả những điều trên đều có thể giải thích cho sự suy sụp của nền giáo dục trước 1975. Có lẽ các bạn cho rằng tôi “hoài cổ” nhưng nếu có dịp, các bạn thử vào thư viện ĐH Khoa học Tự nhiên để đọc lại những kĩ yếu khoa học thời trước 1975 thì các bạn sẽ thông cảm cho cái giận của tôi.

Nhưng chúng ta cần nhìn về tương lai, chứ chẳng lẽ cứ ôm “quá khứ vàng son” để than thân trách phận. Do đó, trong bài giảng, tôi trình bày tình hình nghiên cứu khoa học ở nước ta, qua những ấn phẩm khoa học được công bố trên các tập san khoa học quốc tế, so sánh giữa ta và các nước trong vùng, đặc biệt là Thái Lan để thấy chúng ta đang ở đâu trên thế giới này. Tôi nhấn mạnh đến những biện pháp nhằm nâng cao sự có mặt của khoa học VN trên trường quốc tế và có thể cạnh tranh với các nước láng giềng. Những biện pháp này tập trung vào vấn đề phương pháp nghiên cứu, kĩ năng thiết kế những nghiên cứu thực nghiệm, và giới thiệu một số phương pháp thống kê hiện đại có thể ứng dụng trong phân tích kết quả nghiên cứu ra sao. Thấy các bạn trẻ quan tâm, đặt câu hỏi thiết thực về thiết kế chương trình đào tạo làm tôi rất muốn làm cái gì đó để giúp các bạn này. Tuy nhiên, mình chỉ là một cá nhân và chuyện này cũng thuộc loại “nghề tay trái” thì làm sao giúp mọi người được, nên phải nghĩ đến chuyện đào tạo có hệ thống, hay “train the trainers” (huấn luyện người huấn luyện) thì mới mong góp phần nhỏ nào đó để nâng cao khoa học mình lên một tầm cao hơn.

Điều làm tôi – nói theo ngôn ngữ ngày nay – “bức xúc” nhất là chúng ta đã thua Thái Lan về khoa học và công nghệ. Thua khá xa. Nhưng chúng ta vẫn có cơ hội để đuổi kịp và thậm chí qua mặt họ dễ dàng, nếu chúng ta có thể huy động tiềm năng của giới trẻ và sự hợp tác của đồng nghiệp Việt kiều. Điều này chỉ xảy ra với 2 điều kiện chính: đầu tư cho nghiên cứu khoa học và có chính sách cởi mở với Việt kiều. Không thể nào làm nghiên cứu mà không có tiền, và cũng không thể nào kêu gọi nhà khoa học làm nghiên cứu trong khi đồng lương còn chưa đủ sống hay sống chật vật. Do đó, cần phải cải cách chế độ lương bổng sao cho một giảng viên hay nhà khoa học có thể sống với đồng lương của mình mà không phải “chấm mút” ở ngoài. Phải có chế độ thưởng cho những người làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh và có kết quả, và có hình phạt những người làm khoa học dỏm hay phí tiền của Nhà nước.

Có lẽ điều quan trọng nhất là cải tiến hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu. Hiện nay, nước ta chỉ đầu tư khoảng 200 triệu USD cho khoa học, mà phần lớn chỉ là xây dựng cơ sở vật chất, chứ kinh phí thật sự cho nghiên cứu khoa học thì chẳng bao nhiêu. Ấy thế mà mỗi năm Bộ KHCN phải trả lại cho ngân sách Nhà nước đến 20-30 triệu USD. Điều này chứng tỏ rằng hệ thống phân phối tài trợ cho nghiên cứu khoa học có vấn đề. Vấn đề ở đây, theo cái nhìn của tôi, là cách chọn các công trình xứng đáng và công bằng, cách đánh giá một đề tài nghiên cứu, và cách quản lí một dự án khoa học. Tôi biết rằng Bộ KHCN cũng thấy được và đang cố gắng giải quyết các vấn đề này, nhưng cho đến nay thì hình như họ vẫn bị chi phối bởi những “cây đa cây đề” và cải cách vẫn còn đầy khó khăn.

Nhà nước thì lúc nào cũng nói đến chuyện mời các chuyên gia người Việt ở nước ngoài về Việt Nam giảng dạy và nghiên cứu, nhưng đó chỉ là lời nói cho vui thôi, chứ tôi thấy trong thực tế thì nhiêu khê hơn nhiều. Trong khi phần lớn lãnh đạo đại học rất muốn có sự hợp tác của các chuyên gia người Việt ở nước ngoài, thì vẫn có một số lãnh đạo đại học rất “sợ” Việt kiều, không dám dính dáng đến họ, không dám mời họ đến giảng dạy có lẽ vì họ nghĩ thành phần này bất lương hay đáng nghi ngờ. Nói gì thì nói, giữa lời nói và thực tế vẫn còn một khoảng cách rất xa.

Một buổi sáng ở ĐH Khoa học Tự nhiên làm tôi lan man suy nghĩ về những chuyện quá khứ và tương lai. Tôi chợt nhận ra rằng thành quả khoa học của quá khứ, hiện tại và tương lai của trường này giống như một đường cong parabol. Trường này đã từng có một quá khứ khoa học đẹp, nhưng hiện tại thì nó đang ở điểm thấp nhất của đường cong. Hi vọng rằng tương lai nó (thành quả khoa học của trường) sẽ nhanh chóng tăng lên cái đỉnh để lấy lại danh dự cho trường và cho cả nước vậy. Chỉ biết hi vọng vậy.

NVT

TB: Hôm tôi đến trường cũng là hôm Giáo sư Mai Trần Ngọc Tiếng từ trần. Giáo sư Ngọc Tiếng là Khoa trưởng Đại học Khoa học Sài Gòn trước 1975. Bà tên thật là Dương Thị Mai, sinh ngày 12-10-1917 tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Bà tốt nghiệp cử nhân khoa học tại Đại học Sorbonne ở Pháp, về nước làm việc tại ĐH Khoa học Sài Gòn, lấy bằng cao học tức thạc sĩ ngày nay năm 1957. Năm 1962 bà tốt nghiệp tiến sĩ sinh học tại ĐH Purdue (Mĩ). Gs Ngọc Tiếng là một chuyên gia về môi sinh và thực vật ở Việt Nam, và có thời gian dài làm nghiên cứu với Gs Phạm Hoàng Hộ tại ĐH Khoa học Sài Gòn.

Sau đây là bài viết về Gs Ngọc Tiếng:

Cố GS. Mai Trần Ngọc Tiếng - Sự hy sinh của chiếc lá

Thích Minh Liên

Bạn nghĩ gì về chiếc lá, một chiếc lá màu xanh dễ thương vừa mới đâm chồi hay một chiếc lá vàng úa sắp lìa cành?

Tôi muốn chia sẻ với bạn cái suy nghĩ của mình về sự sinh sôi hay sự tàn hoại. Một chiếc lá xanh dĩ nhiên là sự đóng góp màu xanh cho cuộc đời, còn một chiếc lá vàng úa? Có phải chăng là sự tạm biệt, không muốn góp mặt mình vào cộng đồng? Sự thật lại khác quá, chiếc lá vàng khô là sự hy sinh tuyệt vời đấy bạn ạ! Có lạ hay chăng?

Bạn có biết: Cây xanh đã tự tổng hợp chất để tự nuôi thân mình và cung cấp thức ăn cho mọi loài khác. Trong khi đó, con người có thể tổng hợp được chất này, chất nọ nhưng lại không tự tổng hợp chất nào để nuôi mình. Sở dĩ cây xanh có thể thực hiện điều kỳ diệu trên là vì lá cây có màu xanh khi môi trường khô hạn. Nhằm ngăn chặn sự thoát hơi nước và sự héo tàn vĩnh viễn của cây, lá vàng và tự rụng, lá trả lại cho thân cây tất cả những gì đã có. Và những chiếc lá khô ấy chỉ còn giữ lại cho mình chất khoáng mà thôi.

Tôi mới biết điều này qua tiết học Sinh Môi của Giáo sư Mai Trần Ngọc Tiếng và tôi muốn nói điều này với tất cả mọi người. Giáo sư nói đó là sự hy sinh tuyệt vời, suốt đời cô không thể sánh nổi chiếc lá bé bỏng kia. Tôi lại thầm nghĩ: Cô đã gần 90 tuổi, có thể nói, trọn đời cô đã hy sinh cho biết bao thế hệ học trò, vẫn thấy chưa đủ. Từ một chiếc lá xanh tràn trề nhựa sống, chiếc lá ấy dần dần thay màu để thực hiện sự hy sinh. Cũng như cô đã trao truyền cho học trò bao kiến thức, dáng người cô ngày càng gầy đi, học trò chúng tôi càng ngày càng được phát triển về thể chất cũng như kiến thức khoa học và đời sống.

Giờ đây, chiếc lá màu xanh hay chiếc lá màu vàng, tất cả đều là sự cống hiến, hy sinh vô bờ đối với thân cây. Lá phải úa tàn lìa cành vào mùa thu để đến mùa xuân cây mới kết nụ ra hoa. Người thầy dù còn xuân xanh hay mái đầu điểm bạc, thầy vẫn là hiện thân của tình thương và trí huệ, và hơn thế nữa là sự hy sinh.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2010

Suy nghĩ lan man chung quanh một bản án

Hai tuần qua, tôi đi công tác và cũng nhân chuyến đi về quê thăm nhà, rồi bận túi bụi hết ngày này sang ngày khác, nên không có dịp cập nhật trong blog. Xin chân thành cảm ơn các bạn xa gần, đã quen và chưa quen, đã có thư thăm hỏi tôi trong thời gian trang blog không được cập nhật. Đọc nhiều thư của các bạn làm tôi cảm động, vì thấy có nhiều người quan tâm.

Cũng nhân đây xin nói luôn với các bạn nào không tham dự được lớp học về y học thực chứng (evidence based medicine) ở Bv 115 hôm 18/1-20/1 là không phải do tôi mà là do ban tổ chức quyết định ngăn cản không cho các bạn vào tham dự vì hội trường nhỏ quá (chỉ có khả năng chứa khoảng 150 người). Ban tổ chức nói rằng họ dành ưu tiên cho người của Bv 115 hơn là cho các bác sĩ ngoài bệnh viện. Đó là một quyết định “tough” nhưng họ phải làm thôi, và tôi chẳng hay biết gì cả. Chứ riêng tôi thì có nhiều bạn tham dự là tốt vì có dịp trao đổi nhiều hơn. Tôi nghĩ lần sau chúng ta sẽ có một khóa học hoàn chỉnh hơn với nhiều thời gian hơn, và nhất định sẽ không để tình trạng “ngăn sông cấm chợ” xảy ra.

Trong thời gian ở Việt Nam, có dịp theo dõi báo chí tôi mới biết là Tòa án TPHCM đem 4 người hoạt động dân chủ ra xử vào hôm thứ Tư 20/1. Phiên tòa này thu hút dư luận công chúng. Đi taxi nào tôi cũng đều nghe giới tài xế bàn tán râm ran. Do đó tôi cũng tìm hiểu sự việc ra sao …

Đọc kĩ thì mới biết 4 người đó là Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Lê Thăng Long, và Trần Huỳnh Duy Thức. Báo chí cũng chẳng nói gì đến nhân thân của các nhân vật này. Nhưng qua tìm hiểu trên mạng thì tôi mới biết họ đều là những người trí thức thành đạt trong xã hội, những người có học hành nghiêm chỉnh và có thực tài. Hóa ra Lê Công Định chính là người luật sư thường viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Nguyễn Tiến Trung là cựu sinh viên trường Đại học Bách Khoa TPHCM và từng du học ở Pháp, Lê Thăng Long cũng là kĩ sư, còn Duy Thức cũng từng là cựu sinh viên Đại học Bách khoa TPHCM và tổng giám đốc một công ti truyền thông internet. Hóa ra, Trần Huỳnh Duy Thức chính là ông chủ của blog “Change We Need” mà tôi từng đọc nhiều bài và cũng rất ngưỡng mộ. Lúc đó, tôi chẳng biết ông chủ trang blog là ai (thế giới internet mà) nhưng qua những bài viết sâu sắc và đanh thép, tôi nghĩ tác giả phải là người có kinh nghiệm cọ xát thực tế với thương trường ở VN mới có thể hiểu và viết ra những nhũng nhiễu trong xã hội VN. Tôi nghĩ họ đều là những đứa con ưu tú của Việt Nam.

Phiên tòa được xem là quan trọng, vì nghe nói công an phải chận đường không cho xe cộ chạy ngang tòa, và những người hiếu kì hay quan tâm cũng bị cách li, chỉ có thể theo dõi phiên tòa qua màn hình. Điều đáng chú ý là hệ thống âm thanh bị rè khi luật sư của bị can lí giải, và thậm chí không nghe được khi bị can tranh luận với tòa. Theo đài BBC phỏng vấn mẹ của Nguyễn Tiến Trung thì “Có những lời phát biểu tương đối đanh thép của anh Thức và anh Thăng Long thì hầu như ở ngoài này chúng tôi không được nghe. Và cái lời bào chữa của luật sư Mạnh cho bị can Trần Huỳnh Duy Thức cũng không được nghe. Trong khi đó những lời phát biểu của tòa án thì nghe rất là trong, âm thanh rất là trong.”

Điều đáng ngạc nhiên là một phiên tòa quan trọng như vậy, nhưng báo chí chỉ đưa tin có 2 ngày. Tôi đoán nếu ở ngoài này thì chắc chắn phiên tòa cũng kéo dài lâu (có khi cả tháng trời), và giới báo chí sẽ tha hồ khai thác thông tin. Nhưng ở Việt Nam thì hầu hết các phiên tòa đều được diễn ra nhanh chóng, ngắn gọn, không có tranh luận hay biện luận gì nhiều. Chỉ sau vài giờ xử, Tòa án tuyên bố phạt tù giam đối với Lê Công Định (5 năm), Nguyễn Tiến Trung (7 năm), Lê Thăng Long (5 năm) và Trần Huỳnh Duy Thức (16 năm) với tội danh “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” (trước đây tội danh của những người này là “tuyên truyền chống phá Nhà nước”). Tội danh này cũng giống như tội danh mà Tòa án Trung Quốc phạt Lê Hiểu Ba 17 năm tù vì tội “Lật độ chính quyền nhân dân” mà báo chí Tây phương nói đến trong thời gian gần đây. Việt Nam mình làm cái gì cũng giống Trung Quốc quá! Tuy nhiên, khó mà tưởng tượng nổi những người trói gà không chặt này có khả năng lật đổ một chính quyền có hệ thống tổ chức chặt chẽ và vững như bàn thạch.

Điều tôi ngạc nhiên là sự chênh lệch của bản án. Án phạt dành cho ông Trần Huỳnh Duy Thức quá nặng, so với 3 người còn lại cũng có cùng tội danh. Chẳng hiểu dựa vào đâu mà Tòa án phạt nặng như thế. Báo chí chỉ nói Lê Công Định và Nguyễn Tiến Trung nhận tội, còn Lê Thăng Long và Trần Huỳnh Duy Thức thì không nhận tội. Theo Luật sư Nguyễn Hữu Liêm tường thuật thì “Lê Thăng Long và Trần Huỳnh Duy Thức thì tranh luận sôi nổi với Hội đồng xét xử và Viện Kiểm Sát về các chi tiết ‘yếu tố cấu thành tội phạm’ trong tội ‘lật đổ chính quyền nhân dân’.” Người Việt mình không quen tranh luận, nhất là tranh luận với các vị quan chức. Có phải vì tranh luận này mà ông Duy Thức đã lãnh một án phạt quá nặng? Mười sáu năm tù giam và 5 năm quản chế ở địa phương là 21 năm, gần nửa đời người của ông ấy rồi. Nhìn qua hình, tôi đoán ông ta cũng cỡ độ tuổi 45, vậy thì sau khi mãn hạn tù, ông cũng ở độ “tuổi xế chiều”, sẽ chẳng có cơ hội để đóng góp gì cho đất nước. Thật ra, với một bản án nặng nề như thế, ngay cả 3 người kia sau khi mãn hạn tù đã chắc gì có cơ hội đóng góp. Mấy con số 5, 7 hay 16 chỉ là những con số vô hồn, nhưng đằng sau nó là những mảnh đời rồi đây sẽ tan nát, sự nghiệp tiêu tan, và có lẽ nhiều người trong gia đình của họ chịu ảnh hưởng trong một thời gian dài, có khi rất dài. Nhìn như vậy để thấy rằng bản án dành cho những người này nặng quá.

Có thể một vài người trong nhóm của họ quá ngây thơ và mang tính bồng bột của tuổi trẻ. Có thể một vài người quá tin vào những nhóm hành nghề chống cộng ồn ào hay những thế lực ảo ở ngoài Việt Nam. Nhưng có lẽ không ai phủ nhận lòng yêu nước của họ, không ai có thể bác bỏ sự quan tâm của họ đối với đất nước. Trong cái môi trường đa số giới trẻ ham làm tiền bằng mọi giá kể cả tham nhũng và hối lộ, hay ham khoe xe cộ đắt tiền, mà chẳng màn gì đến lợi ích và tiền đồ quốc gia, họ là những người yêu nước rất hiếm hoi.

Những người trí thức mang nặng lí tưởng này đã phạm luật của Việt Nam. Điều đó chắc không ai tranh cãi. Nhưng tôi nghĩ một Việt Nam hiện đại và có đạo lí nên bao dung và rộng lượng cho những ý tưởng khác biệt. Nói như một văn hào Pháp là “tôi không đồng ý với những gì anh nói, nhưng tôi bảo vệ đến cùng quyền anh được nói”. Mong ước một ngày nào đó một Việt Nam hiện đại được xây dựng trên nền tảng đó để cho những người con ưu tú của Việt Nam không còn phải đi tù vì những khác biệt về tư tưởng.

NVT

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2010

Phong thủy trong hướng xây cất nhà



Tôi sưu tầm dược mấy bài viết hay lắm mời ba con xem:
1: http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=260334
2:http://www.phongthuydongphuong.com/


Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2010

Trẻ chân trần trong rét 5 độ C ở Hà Giang

Theo Bee.net.vn- Đợt không khí lạnh tăng cường vừa qua đã gây mưa, ảnh huởng trực tiếp các tỉnh trung du miền núi phía bắc. Chưa phải là đợt lạnh đỉnh điểm nhưng cũng đủ để trẻ em nơi đây tím tái chân tay, da thịt, đầu tóc rối bời vì gió lạnh.
Phóng viên Bee đã có mặt tại Hà Giang ngày 14/1/2010 để ghi lại những hình ảnh này:



Đôi chân trần trẻ nhỏ rón rén trong cái lạnh 5 độ C tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn Giang.




Gió lạnh làm tóc hai em nhỏ người dân tộc Mông tại huyện Mèo Vạc rối bời.

Những đôi chân trần trẻ nhỏ trong cái lạnh thấu xương

Có giầy dép...

Rét quá, hai chị em đành nghỉ trên đường đi lấy củi.

Mới 6 tuổi nhưng em bé dân tộc Nùng này đã phải đi kiếm củi về để cả nhà sưởi ấm.

Giấc ngủ của em nhỏ trên đỉnh Lũng Cú