Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

Chặt cầu tiến lên ?

Hôm qua thấy bài “Việt Nam: chặt cầu để tiến lên” của Vũ Minh Khương định tải về đọc nhưng bận chuyện quá nên quên. Ngày hôm sau thì bài biến mất trên tuanvietnam! May quá, nhiều người vẫn lưu giữ bài đó. Tôi copy về đây những đoạn mà tôi rất tâm đắc. Đoạn này quan trọng nhất:

“Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào các làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.”

Thử đối chiếu với tình hình hiện nay, không ai có chút quan tâm đến đất nước mà không lo ngại.
Tuần vừa qua, tôi ngồi nói chuyện business khoa học khoa hiếc với một người bạn trẻ và có một câu làm tôi nhớ hoài. Bạn ấy nói với tôi rằng: nếu thầy nhìn đất nước bằng lăng kính vĩ mô thầy sẽ thất vọng và không làm được gì cả; thầy phải nhìn bằng lăng kính vi mô (micropicture) thì thầy mới làm điều có ích cho đất nước. Chính xác! Tôi cố không nhìn macropicture như Vũ Minh Khương, nhưng những câu chữ cảnh báo của anh ta làm tôi đau đáu mở mắt …

NVT

===

Việt Nam: Chặt cầu để tiến lên?

TS Vũ Minh Khương

I. Định lượng nỗi đau dân tộc

Mỗi con người khi thấy dân tộc mình ở vào vị thế thấp kém so với tiềm năng đều mang trong mình một nỗi đau. Nỗi đau này dù không ai giống ai hoàn toàn và không thể đo đếm chính xác. Thế nhưng, nó cũng có thể ước định được ở một chừng mực nhất định. Dưới đây là một phương cách đơn giản.

Mỗi người hãy tự trả lời bốn câu hỏi sau:

1. Chúng ta có thấy xót xa hổ thẹn về vị thế hiện nay của dân tộc mình không?
2. Chúng ta có thấy lo lắng cho tương lai của đất nước mình không?
3. Nếu có cơ hội, thế hệ chúng ta có đủ sức đưa dân tộc mình đến một vị thế vẻ vang (hơn mức hiện nay rất nhiều) không?
4. Cơ chế hiện thời có cho bạn làm được điều mà bạn hết lòng khao khát làm cho đất nước mình không?

Với mỗi câu hỏi, câu trả lời “có” được điểm 1 và câu trả lời “không” được điểm 0. Theo cách này, nỗi đau dân tộc của mỗi con người được đo bằng tổng số điểm của ba câu hỏi đầu trừ đi điểm của câu hỏi 4. Ví dụ, người mà câu trả lời là “có” cho cả ba câu hỏi đầu và “không” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng 3 (1+1+1-0=3); đó là nỗi đau ở mức tột cùng. Trái lại, người mà câu trả lời là “không” cho cả ba câu hỏi đầu và “có” cho câu hỏi 4 sẽ có mức đau bằng -1 (0+0+0-1= -1); trong trường hợp này, người trả lời không có nỗi đau gì và thấy rất hài lòng với hiện tại.

Trong tập thể hàng triệu người, mức đau này có thể khác nhau, nhưng có lẽ, nhiều người cùng chia sẻ một cảm nhận là mức đau trung bình của hàng triệu người Việt chúng ta cũng không thấp hơn quá xa so với mức tột cùng nói trên. Người viết bài này mong rằng quốc hội và ban chấp hành trung ương Đảng khi có dip hội họp có tổng hợp và báo cáo với quốc dân đồng bào nỗi đau này của mình. Nếu mọi người thấy không đau mà lại từ hào vì thấy dân mình được “xếp hạng hạnh phúc hàng đầu thế giới”[1] thì cũng là điều đáng suy nghĩ lắm.

II. Định lượng nguy cơ mất nước

Một thước đo khác có tính cấp bách hơn là về nguy cơ mất nước. Người xưa gợi ý ba thước đo về nguy cơ mất nước của một quốc gia:

1. Thứ nhất, người trên sai mà quan chức dưới đều nín lặng.

2. Thứ hai, người được giao trọng trách không thấy việc mình đảm nhận là thiêng liêng và gian khó mà lại coi đó là đặc quyền đặc lợi để vinh thân, phì gia, và kết bè kéo cánh hưởng lộc.

3. Thứ ba, người người đua chen, từ quan đến dân, lao vào các làm ăn chụp giật và vụ lợi cá nhân trong sự xem thường đạo lý và sự tê liệt lòng tin vào công lý.

Theo người xưa, nếu điều 1 là đúng thì nước này đang ở vào thế suy vi; nếu điều 2 là đúng thì nước này sẽ khốn khó trong sự chia rẽ lục đục; nếu điều 3 là đúng thì nước này sắp loạn. Nếu cả ba điều trên đều đúng thì nước mất đến nơi rồi.

III. Tính thế nước ta và đôi điều trăn trở

Ai đã sống ở nước Nhật chắc đều ấn tượng về sự sâu sắc và cẩn trọng trong hành xử của dân tộc này. Họ đã làm nên những điều kỹ vĩ trong cải cách Minh Trị trong nửa cuối thể kỷ 19 và sự vươn lên kỳ diệu từ đống tro tàn sau thế chiến thứ Hai.

Điều đặc biệt đáng nói là Nhật bản đã đang là quốc gia có sự đồng cảm và giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc phát triển vừa qua. Thế nhưng, dường như sự kỳ vọng cao của họ về một dân tộc Việt Nam có thể so sánh được với Hàn quốc hay Nhật bản có lẽ đang tắt dần. Quan sát động thái hợp tác của Nhật bản với nước ta có thể giúp chúng ta thấy phần nào cảm nhận của bè bạn thế giới về tương lai của nước Việt chúng ta.

Năm 2006, tại Tokyo, Nhật bản và Việt Nam có tuyên bố chung rất long trọng và ấn tượng khẳng định hai bên cam kết xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược[2]. Viện trợ của Nhật bản cũng từ đó tăng lên. Thế nhưng, Việt nam, khác với những quốc gia và vùng lãnh thổ có công cuộc phát triển kỳ vĩ (như Hàn quốc hay Đài loan), viện trợ nhiều lên không làm chất lượng thể chế tốt của chúng ta tôt lên, mà trái lại sa sút trong sự so sánh với thế giới (hình 1). Đáng buồn hơn nữa, tháng 12 năm 2008, Nhật bản thông báo tạm ngừng viện trợ cho Việt Nam vì vấn đề tham nhũng và tin này công bố rộng rãi khắp thế giới.[3]

Ví dụ trên cho thấy sự sa sút của chúng ta không phải do ai chống phá mà ở chính do sự yếu kém và vô cảm của hệ thống của chúng ta trước công cuộc phát triển của dân tộc.

Trong thực tế hiện nay, chúng ta không thể trách cứ điều này cho cá nhân cụ thể nào mà phải thấy đây là “lỗi hệ thống” như nhiều người đã từng nêu ra. Bản chất của lỗi hệ thống là sự khủng hoảng về hệ thức tư duy[4]. Nguyên nhân gốc rễ của sự khủng hoảng này là do những định đề và thiết kế tổ chức kiểu cũ đã trở thành lực cản cho quá trình nhận thức của tư duy và cải biến của xã hội sang khung thức vận hành mới.

Nếu hệ thống quản trị xã hội không chủ động tạo sự chuyển dịch có tính hồi sinh sang khung thức phát triển mới thì xã hội chắc chắn sẽ trải qua giai đoạn khủng hoảng trong sự suy tàn của hệ thống cai trị hiện thời. Trái lại, nếu hệ thống biết chủ động nắm bắt qui luật, mạnh dạn bước vào công cuộc hồi sinh thì nó có thể bước vào trạng thái khởi phát (xem Bảng 1 dưới đây).

IV. Làm gì để vượt lên

Không ít bè bạn đã có thời tin rằng, Việt Nam là một dân tộc có tinh thần quật khởi và là một ứng viên làm nên những kỳ tích phát triển ở nửa đầu thế kỷ 21. Trong thế kỷ 21 này, động lực cho sự phát triển thần kỳ chỉ có thể có được nếu ba điều kiện sau hội đủ:

1- Toàn dân tộc đồng tâm trong khát vọng vươn lên sánh vai các dân tộc vẻ vang của thời đại.

2- Hiểm họa an ninh quốc gia ngày càng gay gắt.

3- Hệ thống chính trị nhận thức được lòng dân là ánh sáng mặt trời và văn minh nhân loại là qui luật của trời đất. Trong nhận thức đó, lãnh đạo phải là người có thể ngẩn cao đầu đón ánh mặt trời của lòng dân và lái con thuyền dân tộc vượt qua biển cả trong sự thuận hòa của qui luật trời đất.

Kinh nghiệm của Indonesia với thắng lợi vang dội của tổng thống Yudhoyono trong cuộc bầu cử toàn dân đầu tháng 7 vừa rồi là điều đáng suy nghĩ. Ông được đánh giá là đã làm xuất sắc cương vị tổng thống trong năm qua (2002-2009) với nỗ lực ấn tượng trong củng cố nền móng phát triển của Indonesia và chương trình chống tham nhũng với lời nói và hành động nhất quán và mạnh mẽ. Cũng nhờ vậy mà trong mấy năm qua, Indonesia đã vượt lên từ sự sa sút sau sụp đổ của chính quyền độc tài Suharto và trở thành quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong các nước Đông Nam Á trong những tháng đầu năm 2009. Cũng trong bối cảnh dân chủ sống động, ở Malaysia, Thủ tưởng mới Najib nhận được sự đồng thuận cao của người dân (65% tín nhiệm) sau 100 ngày cầm quyền nhờ những cải cách đặc biệt ấn tượng.

Trong nỗ lực cải cách hệ thống ở Việt Nam, với xu thế tất yếu hướng tới một nền dân chủ do dân và vì dân, chúng ta trước hết cần đặ biệt chú ý áp dụng một số cải tiến kỹ thuật, tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa cực kỳ then chốt. Dưới đây là hai ví dụ nhỏ.

1- Lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử

Trong bối cảnh không dễ dàng đổi thay một cơ chế hay một hệ tư duy, việc lưu trữ và minh bạch thông tin lịch sử có tác dụng quan trọng.

Bài học này có từ kinh nghiệm của tổng thống Abraham Lincoln khi ông còn là một luật sư. Khi đó nước Mỹ có luật là người lớn không thể đòi khoản nợ mà người vị thành niên vay mình. Điều luật này lập tức bị nhiều nhiều thiếu niên lạm dụng: họ vay tiền rồi từ chối trả nợ. Nhiều chủ nợ cay đắng chấp nhận vì luật pháp không ủng hộ họ.

Trong tình thế này, luật sư Linhcon cũng không có cách nào khác để giúp thân chủ của mình đòi nợ ngoài việc đề nghị tòa án lưu giữ hồ sơ là cậu thiếu niên này đã quịt nợ và ghi rõ cậu đó sẽ không bao giờ được coi là người lớn nếu không trả món nợ này. Lo sợ về đề xuất này được thực hiện, cậu thiếu niên này và gia đình đã vội vã xin trả món nợ và tình trạng quịt nợ kiểu này từ đó không còn nữa.

Bài học này cho thấy, con người ta sẽ thường chỉ có hành vi lạm dụng khi trốn lủi được sự phán xét. Do đó, chúng ta đề nghị có đạo luật để Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ phải lưu trữ thật tốt mọi luận bàn và quyết định quan trọng về chính sách phát triển và bổ nhiệm nhân sự để toàn xã hội được biết trong một thời hạn sớm nhất có thể. Khi đó, ai đề xuất hay quyết định những việc gì, dù tốt đẹp cho dân cho nước hay làm hại dân hại nước; dù đề bạt người hiền tài hay nâng đỡ kể tham nhũng sẽ đều được sự phán xét nghiêm minh của lịch sử.

2- Lựa chọn và đánh giá lãnh đạo dựa trên phân loại khoa học

Việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo và chủ chốt có ý nghĩa sống còn với công cuộc phát triển. Công việc hệ trọng này nên dựa trên một sự phân loại khoa học, có hệ thống. Tối thiểu cần dựa trên hai tiêu chí: Phẩm chất hiến dâng và Tư duy cải cách. Trên mỗi tiêu chí, cho điểm từ 1 đến 5 (1=rất thấp so với mức trung bình; 2=thấp hơn mức trung bình; 3=mức trung bình; 4=cao hơn mức trung bình; 5=vượt xa mức trung bình).

Để lựa chọn người cho một bầu cử chính thức, một tổ chức (dù là Đảng, Quốc hội, hay Chính phủ) nên có phân loại khoa học theo hai tiêu chí trên. Ví dụ: (i) Ban Chấp Hành Trung ương đánh giá về các ủy viên Bộ Chính trị hiện tại hoặc các ủy viên dự kiến cho khóa tới; (ii) Quốc hội đánh giá các bộ trưởng và các vị giữ trọng trách cao hơn.

Tổng hợp đánh giá của cả tập thể về một cán bộ chủ chốt sẽ cho phép phân loại cán bộ theo hình vẽ 2 nêu trên.

Theo đó, chỉ người có mức điểm trung bình cao (nghĩa là trên 3,0) trên cả hai tiêu chí: “Phẩm chất hiến dâng” và “Tư duy cải cách” (ô I) mới được lựa chọn vào bầu cử cho các cương vị cao như ủy viên bộ chính trị hay hay bộ trưởng và các vị trí cao hơn. Đảng và Quốc hội nếu muốn có lòng tin của dân cần công khai các chỉ số này cho cán bộ chủ chốt ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đánh giá của nhiều người, có nhiều cán bộ chủ chốt của ta ở ô III (có năng lực nhưng cơ hội, tham nhũng) và ở ô IV (vụ lợi cá nhân, bảo thủ). Điều đặc biệt đáng nói là cách đánh giá này không chỉ xác đáng còn tạo động lực để mỗi cán bộ đều tự rèn luyện và tốt hơn lên. Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là, tất cả những ai được đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, thậm chí chỉ là cán bộ trong bộ máy nhà nước, đều phải ở ô I với độ tin cậy cao của toàn dân về phẩm chất hiến dâng và tư duy cải cách.

V. Thay lời kết

Khó khăn trong quyết định của mỗi người chúng ta hôm nay không phải là làm cách gì để đất nước tiến lên mà là ở làm gì để chúng ta không lùi tiếp nữa bởi đường lùi của chúng ta còn rộng rãi thênh thang lắm.

Ông cha chúng ta để lại cho chúng ta đất đai ở vị thế đẹp và nhiều tài nguyên quí giá. Thế giới lại thương cảm chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Thế hệ chúng ta chỉ cần cho nhượng thuê đất trong các dự án đầu tư dễ dãi, bán tài nguyên, và vay nợ quốc tế cũng đủ sống xêng xang được 20-30 năm nữa. Ta nhượng đất của ông cha làm sân gôn và dân ta sẽ không thể đói nhờ nghề nhặt bóng và đánh giày. Mỗi chúng ta, dù sao hãy cùng trả lời một câu hỏi day dứt: Dân tộc Việt Nam ta hôm nay có đủ lòng quả cảm “Chặt cầu để tiến lên” không?

TS. Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore)

Chú thích:

[1] Tổ chức New Economic Foundation vừa đưa ra xếp hạng chỉ số hạnh phúc năm 2009, trong đó Việt Nam xếp hạng 5. Điểm tốt của cách xếp hạng này là khuyến khích các nước tiêu dùng ít vật chất hơn. Điểm hạn chế là phương pháp dễ gây ngộ nhận cho các nươc nghèo. Thứ nhất, họ dùng khảo sát mức độ hài lòng với cuộc sống thực hiện năm 2005 (nghĩa là 5 năm trước đây) và khảo sát này chủ yếu dựa vào một nhóm nhỏ người sống ở thành phố. Thứ hai, họ chia chỉ số hài lòng cho lượng vật chất tiêu dùng; nói một cách nôm na, chỉ số hài lòng của người Mỹ là 8 nhưng vì họ đi ô tô nên chỉ số hạnh phúc của họ thấp hơn Việt Nam với chỉ số hài lòng là 6,5 nhưng đi xe máy.

[2] “Japan-Vietnam Joint Statement: Toward a Strategic Partnership for Peace and Prosperity in Asia”; October 19, 2006; Ministry of Foreign Affair, Japan; URL: http://www.mofa.go.jp/region/asia-paci/vietnam/joint0610.html, xem ngày 11/07/2009.

[3] “Japan Suspends Aid to Vietnam, Citing Corruption”; URL: http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=aTIhAZGLZ2Ko&refer=asia, xem ngày 11/07/2009

[4] Xem thêm Elgin, D. (1977), "Limits to the management of large complex systems", Assessment Of Future National and International Problem Areas, Stanford Research International, Palo Alto, CA.

"Tàu lạ" và những kẻ sát nhân không tên

Hôm nay đọc một bản tin mà thấy … buồn cười. Bản tin trên VnExpress có tiêu đề “Tàu lạ tấn công ngư dân Việt Nam, 7 người bị thương”. Hai chữ “tàu lạ” đã du nhập vào ngữ vựng tiếng Việt chỉ vài tháng nay thôi, khi tàu Trung Quốc tấn công và giết hại ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Báo chí Việt Nam, vì lí do nào đó, không dám gọi là “tàu Trung Quốc” (mà dân chúng ai cũng biết) nhưng gọi là “tàu lạ”! Tại sao chúng ta tỏ ra bạc nhược như vậy trong khi chúng nó (Trung Quốc) nêu thẳng tên Việt Nam, chúng nó công bố những thước phim giết hại người Việt Nam, chúng nó thậm chí công bố trên báo chí đã giết bao nhiêu người, chúng nó làm nhục ngư dân ta (bắt ngư dân ta phải lạy chúng nó). Chúng nó là một lũ xâm lăng, tại sao chúng ta không gọi đích danh chúng như Phi Luật đã và đang gọi: lũ xâm lăng. Đối với ngư dân Việt Nam, chúng còn có một cái tên khác: lũ sát nhân.

Theo như bản tin dưới đây (do Trang Hạ dịch) thì bọn Trung Quốc đã giết chết 6 lính hải quân Việt Nam. Một sự kiện lớn và một sự mất mát đến 6 mạng người lính như thế mà báo chí Việt Nam không hề đưa tin! Không dám gọi đích danh lũ xâm lăng và sát nhân, thì chỉ biểu hiện sự thấp hèn và bạc nhược của chúng ta mà thôi.

Có một mâu thuẫn là trong khi không dám nêu đích danh kẻ thù, báo chí ta lại rất hăng hái đưa tin bắt bớ những người Việt (có thể nói là) bất đồng chính kiến ở trong nước! Dù bất đồng ý kiến, những người này là dân nước Việt Nam sẵn sàng góp sức mình để bảo vệ nước và chống trả kẻ thù. Báo chí ta có vẻ khúm núm và sợ hãi người ngoài, nhưng lại dùng rất nhiều lời lẽ nặng nề với người trong nhà. Tục ngữ Việt Nam có một câu để nói về thái độ này mà tôi nghĩ không viết ra thì ai cũng biết.

NVT

===

http://www.thanhnd.com/blog/hai-quan-trung-quoc-ra-tay-tren-bien-nam-hai-giet-chet-6-linh-hai-quan-viet-nam/

Hải quân Trung Quốc đã ra tay trên biển Nam Hải! giết chết 6 lính hải quân Việt Nam?

Theo tin tức loan tải rộng rãi trên các diễn đàn Trung Quốc từ ngày 7/7/2009 có liên quan tới vụ đụng độ giữa tàu hải quân Trung Quốc và Việt Nam, xin dịch lại như sau:

Hải quân Trung Quốc đã ra tay trên biển Nam Hải! giết chết 6 lính hải quân Việt Nam?
7/7/2009 Nguồn: diễn đàn Cường quốc, Mạng Trung Hoa

Sáng sớm nay, khi chiến hạm Trung Quốc tuần tra trên biển Nam Hải đã bị tàu của Việt Nam cản trở và phát tín hiệu cảnh cáo. Tiếp đó đã bị chặn mặt cách 2 hải lý.

Chiến hạm Trung Quốc đâm trực diện, khi tàu tuần tra Việt Nam quay đầu né tránh đã bị chiến hạm Trung Quốc đâm ngang thân, tàu Việt Nam bị đâm hư hại. Bước đầu nhận định có 6 người chết, 7 người được cứu sống, một số người mất tích. Phía Trung Quốc không có thương vong, chiến hạm không bị hư hại. Được biết, tàu hải quân Trung Quốc là Tuần dương hạm có trọng tải hơn 3000 tấn được sản xuất vào thập niên 90, phía Việt Nam là tàu tuần tra có trọng tải hơn 1000 tấn sản xuất vào những năm 70 thời kỳ Xô Viết.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lập tức triệu kiến Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam để phản đối, phía Trung Quốc cho biết Việt Nam đã xâm nhập vào lãnh hải của Trung Quốc. Những lính hải quân Việt Nam được cứu sống đang được điều trị trên chiến hạm của Trung Quốc. Phía Việt Nam cho rằng đã bị giam giữ, yêu cầu lập tức thả người.

Hết.

Chú thích:

1. Nam Hải là biển Đông theo cách gọi của Trung Quốc.

2. Rất nhiều trang mạng của TQ đã đăng lại tin này, chỉ cần vào google gõ chữ 中国海军在南海出手了!打死6名越南海 军? Là tìm thấy kết quả để kiểm chứng.

3. Rất nhiều cư dân mạng của TQ đã cảm thấy vô cùng hả hê với tin này và cho rằng điều đó là nên làm.

4. Link nguồn: http://www.chnqiang.com/article/2009…le_90909.shtml
Bình luận: Đây là tin chưa được kiểm chứng. Tuy vậy, cư dân mạng của TQ đã đưa tin rộng rãi và bàn tán sôi nổi. Thiết nghĩ phía chính quyền cũng nên lên tiếng để khẳng định có hay không điều này, và áp dụng các biện pháp cần thiết để khẳng định sự đúng sai, tránh việc TQ lợi dụng để tuyên truyền gây rối dư luận.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2009

Sàng lọc trẻ sơ sinh ?

Ở xa nhà nên không xem được truyền hình VN, nhưng qua trang blog của drnikonian tôi mới biết là VTV2 có phóng sự “Chương trình sàng lọc trẻ sơ sinh”! Hình như ở nước ta người ta làm những chuyện mà thế giới suy nghĩ rất lâu chưa dám làm (như sàng lọc trẻ sơ sinh, như điều trị bằng tế bào gốc, v.v…); nhưng ngược lại có những chuyện thế giới làm lâu rồi thì nước mình vẫn chưa làm (như vụ Huỳnh Ngọc Sĩ chẳng hạn).

Đọc qua bản tin này, tôi thấy rất quan ngại cho chương trình "sàng lọc" này. Dị tật bẩm sinh thường khá phổ biến ở trẻ sơ sinh, và nhiều dị tật không phải do các yếu tố di truyền gây nên. Có hàng trăm dạng dị tật bẩm sinh, và một số dị tật nói thật chẳng có ảnh hưởng gì đến sự trưởng thành về thể lực hay tâm trí của trẻ em.

Hai chữ "sàng lọc" làm cho người ta nhớ đến chương trình "eugenics" (ưu sinh) hay "genetic selection" (tức sàng lọc chủng tộc bằng di truyền) và những hệ quả khôn lường của nó dưới thời của Hitlet ở bên Đức. Hitler sử dụng chiến lược loại bỏ các "gen xấu" bằng cách tiêu diệt những người mang gen đó. Chắc chắn các nhà chức trách y tế sẽ không sử dụng chiến lược này khi họ nói đến hai chữ "sàng lọc", nhưng làm cách gì để xã hội có thể an tâm rằng hệ quả của chương trình sàng lọc như thế sẽ không xảy ra?

Bất cứ phương pháp xét nghiệm nào cũng mang tính bất định, hay có sai sót. Vậy khi phát biểu rằng "Ước tính, thực hiện sàng lọc trẻ sơ sinh có thể cho kết quả chính xác tới 99%" chính xác có nghĩa gì? Có phải nó có nghĩa là cứ 100 trường hợp thật sự bị dị tật thì xét nghiệm tiên đoán được 99 em? Hay nó có nghĩa là cứ 100 trường hợp thật sự KHÔNG bị dị tật thì xét nghiệm tiên đoán được 99 em? Hay nó có nghĩa là 99% các trường hợp có kết quả xét nghiệm sẽ bị dị tật? Tóm lại, chúng ta không biết câu nói đó có nghĩa gì. Người viết bình luận này chưa thấy phương pháp xét nghiệm nào trong y khoa mà chính xác tuyệt vời như thế.

Đây là vấn đề có ảnh hưởng đến một dân số, dân tộc, không thể nào chấp nhận cách phát biểu "khơi khơi" như thế được.

Thông thường, một chương trình "sàng lọc" mang tính qui mô và tế nhị như thế này phải được đưa ra để công chúng và giới chuyên môn thảo luận kĩ càng trước khi triển khai. Rất nhiều vấn đề chưa được giải tỏa: xét nghiệm bằng phương pháp gì, độ chính xác ra sao, đã nghiên cứu ở đâu, số liệu ở đâu, v.v... Nếu kết quả dương tính thì sẽ làm gì? Chắc đâu phải chỉ đơn giản hủy thai. Chúng ta đang nói chuyện con người, không phải chuột.

Tất cả những khía cạnh "kĩ thuật" trên phải được công bố và để các chuyên gia bình duyệt, cũng như để công chúng có dịp đánh giá và quyết định.

Không nên hấp tấp triển khai khi chưa có nghiên cứu chứng minh hiệu quả cũng như hệ quả của chương trình "sàng lọc" này. Thật tình, tôi không thích chút nào hai chữ "sàng lọc".

NVT

Vài ghi chép ngắn

Thấm thoát mà đã 1 năm từ ngày Má tôi mất! Tuần vừa qua tôi có dịp về quê làm đám xả tang cho Má. Tôi bận bịu kinh khủng, không có thì giờ cập nhật hóa blog hay thậm chí xem thư. Hai đêm liền tôi đều thức đến nửa đêm, và phải cùng với anh chị em con cháu đọc kinh 4 lần một ngày. Không đọc kinh thì tiếp khách. Ở trong quê thì đám tiệc nào cũng đông người, và lần này cũng không ngoại lệ, hàng trăm bà con hàng xóm đến dự và chia buồn. Tiếp khách thì cười nói, nhưng sự thật là trong lòng tôi thì buồn vô hạn, bởi vì nghĩ rằng từ hôm đó Má đã thật sự rời tôi vĩnh viễn. Tôi cố nhìn sự kiện đó như là một niềm an ủi rằng Má tôi đã về miền cực lạc, không còn vướn bận trần đời, nhưng vẫn không thể nào xua đuổi được nỗi buồn. Có đêm về phòng ngủ, nửa đêm thức dậy mà khóc một mình.

Rồi ngày xả tang cũng qua, và tôi lại quay về với những việc thường ngày. Bận túi bụi. Về đến Sài Gòn ngày 9/7 thì ngay chiều hôm đó đã phải tiếp vài khách để chuẩn bị cho hội nghị loãng xương ở Phú Quốc vào tháng 8/2009.

Ngày thứ Bảy (10/7) tôi được hân hạnh nói về đề tài vitamin D trong một hội thảo của Roche Diagnostics. Ngày hôm đó thật là đông vui và có nhiều bài nói chuyện thú vị từ những người bên ngành tim mạch và nghiên cứu cơ bản. Tôi cũng tham gia tích cực đặt câu hỏi và trả lời đồng nghiệp. Có một điều khích lệ là một diễn giả người Thụy Sĩ đến tôi hỏi “Xin lỗi, ông là giáo sư Tuấn ở Garvan?” Tôi nói “Phải”, anh ta bèn chìa ra bài báo về các markers xương mà tôi công bố trên Clinical Chemistry vào đầu năm 2009. Anh ta nói đã nghiền ngẫm bài này 5 ngày nay và nay mới gặp tác giả. Nghe anh ta nói “nghiền ngẫm” làm tôi hơi ngán, nên hỏi lại: Sao, ông thấy có gì sai không? Anh ta cười ha hả rồi nói: không, không, tôi chỉ muốn học cách làm của ông thôi. Mô Phật!

Sau buổi hội thảo là buổi dạ tiệc (gala dinner) được Roche tổ chức rất hoành tráng. Buổi dạ tiệc rất đặc biệt vì có sự tham gia biểu diễn văn nghệ của các thành viên trong Nhà May Mắn. Roche Diagnostics làm một việc rất có ý nghĩa: đó là bảo trợ cho Nhà May Mắn. Trong buổi dạ tiệc, tôi còn gặp và nói chuyện với cô Tim Aline Rebeaud (người sáng lập Nhà May Mắn) mà tôi đã có dịp viết trong entry “Nàng tiên của thế kỉ 21” trước đây. Tim xuất hiện ngoài đời y chang như trong các clip video: xinh đẹp, giản dị, nhanh nhẹn, hoạt bát, và nói tiếng Việt rất hay. Hôm đó cô mặc áo dài, và còn hóm hỉnh đưa ra một nhận xét có lẽ làm cho nhiều người phải suy nghĩ; cô nói: tôi nhìn quanh ở đây thì thấy chỉ có tôi mặc áo dài! Tôi phục cô sát đất! Tôi hỏi về tai nạn xe máy vừa qua của cô ra sao làm cô xúc động cầm tay tôi cảm ơn rối rít. Đáng lẽ tôi còn giúp đỡ nhiều hơn cho cô, nhưng đành chỉ giúp bằng một số tiền ít ỏi mà thôi. Tôi nghĩ nếu ai đó có dịp về Việt Nam nên ghé qua Nhà May Mắn để giúp cho Tim một tay thì hay quá.

Ngày hôm sau (11/7) tôi lại bận chuyện đi “field research”, tức là tham gia vào việc thu thập dữ liệu trong một dự án nghiên cứu qui mô về loãng xương của một đồng nghiệp thuộc trường PNT tiến hành. Hôm đó, cuộc thu thập dữ liệu được làm ở một nhà thờ có tên rất ngộ là “Nhà thờ Hầm” trên đường Nguyễn Thị Nhỏ. Công trình nghiên cứu được tổ chức rất tốt, một phần cũng nhờ sự hỗ trợ của nhà thờ. Tôi có dịp nói chuyện (phỏng vấn) các tình nguyện viên tham gia nghiên cứu, và cũng như mọi lần tôi lắng nghe câu chuyện của họ nhiều hơn là bình luận. Tôi vốn thích đi những chuyến thực địa như thế này vì nó cho mình cơ hội nói chuyện với người dân và lắng nghe tình trạng sức khỏe của họ. Hôm đó tôi còn có dịp nói chuyện với các em sinh viên trường PNT đang giúp việc trong nghiên cứu.

Chiều về thì lại tiếp khách, nghiên cứu sinh, gặp bạn bè mới cũ, v.v… hết cả giờ. Tối về đến khách sạn tôi mới phát hiện có phòng trà ca nhạc ATB (của ca sĩ Ánh Tuyết) ngay bên cạnh khách sạn! (Khách sạn tôi ở là Movenpick trên đường Nguyễn Văn Trỗi). Tôi bèn mon men vào định nghe hát, nhưng chương trình đã bắt đầu từ 2 giờ trước, nên đành hẹn dịp khác.

Đến ngày 12/7 tôi vẫn còn bận vì phải nói chuyện ở trường PNT. Hôm đó là ngày Chủ nhật mà các em đến dự cũng khá đông đảo và có vẻ lắng nghe rất kĩ. Đề tài là cách trình bày một báo cáo khoa học bằng powerpoint. Tôi nói một mạch 2 giờ, chia làm 2 phần. Phần đầu tôi cho các em xem các slides từ VN trong các hội nghị và chỉ ra những thiếu sót trong đó; phần hai tôi trình bày về những qui ước trong việc trình bày báo cáo khoa học và cách soạn slides cũng như nói sao cho hấp dẫn. Cố nhiên, chỉ 2 giờ thì không đầy đủ được, nhưng cũng cung cấp vào thông tin có ích cho các em. Chỉ có điều là ít câu hỏi quá, có lẽ các em ngượng hay sao ấy …

Chiều 2 pm lại nói chuyện với các em bên Bv Nhi Đồng cũng cùng đề tài. Đến 5 giờ thì có hẹn với hai đồng nghiệp và chúng tôi kéo nhau ra quán bánh xéo “Ăn là ghiền” trên đường Nguyễn Văn Trỗi (?) để bàn chuyện workshop loãng xương vào tháng 8 tới cho hội nghị nội tiết. Đến 7 pm thì tôi phải ra phi trường lên đường về Sydney. Check-in xong mà tâm trạng cứ thẩn thờ, lòng thì chùng xuống, chẳng biết sao. Đi lang thang trong mấy cửa hàng sang trọng chẳng biết mua gì, mà đầu óc thì cứ ngẫu nhiên đủ thứ kỉ niệm vui buồn trong thời gian ở quê.

Chuyến bay của hãng HKVN (Vietnam Airlines) trễ 2 giờ! Lí do trễ là do trên máy bay có một hành khách bị bệnh gì đó (họ không nói), nên sắp cất cánh thì máy bay phải quay về ga để chuyển bệnh nhân đi bệnh viện. Đến khi bay thì chuyến bay cũng chẳng có gì ấn tượng, chẳng có chương trình giải trí gì, toilet thì dơ dấy chẳng ai chăm sóc, tiếp viên lâu lâu đi phục vụ theo đúng giờ như là nhân viên hành chính. Riêng hàng ghế của tôi, có một tiếp viên nam phục vụ rất hách, nghe anh ta hỏi hành khách ăn gì hay uống gì tôi chỉ cười thầm trong bụng là chẳng hiểu sao anh này lại chọn nghề này, sao không chọn nghề công an hay sĩ quan quân đội ra lệnh thì thích hợp hơn. Đến khi anh ta hỏi tôi ăn gì, tôi nói không ăn gì cả, và yêu cầu anh đừng làm phiền (hỏi) tôi lần thứ hai nữa! Anh ta có vẻ ngạc nhiên trước yêu cầu của tôi, nhưng không hỏi thêm. Tôi được yên suốt chuyến bay, nhưng nghe những lời của anh này thốt ra (thậm chí còn tranh luận với hành khách!) tôi có lúc muốn viết vài hàng phàn nàn, nhưng lại nghĩ trong cái hãng VNA đó có ai thèm đọc đâu mà phải tốn công viết. Họ chỉ phí tiền in giấy để cho vào thùng rác, chứ họ có đọc đâu. Một người bạn vốn biết tôi thích măng cụt nên mua cho 2 kilo, và tôi thanh toán hết măng cụt trên máy bay thay cho loại thức ăn của Vietnam Airlines mà chỉ nhìn qua là bụng thấy buồn nôn.

Chuyến đi ngắn nhưng đầy ấp kỉ niệm vui buồn. Về đến Sydney thì lại bận bịu với chuyện “cơm áo gạo tiền”, và trả lời hàng trăm email. Có nhiều email về bài báo chúng tôi công bố trên American Journal of Clinical Nutrition về ăn chay và loãng xương đã được báo chí thế giới đưa tin rầm rộ. Những người viết email là dân ăn chay bên Mĩ và Âu châu, họ dùng những lời lẽ hết sức nặng nề với tôi, do hiểu lầm rằng công trình nghiên cứu đó được các công ti sữa tài trợ. Đây là chuyện tôi sẽ viết trong một entry ngày mai để giải bày tâm sự.

Nhân dịp này, xin có lời cám ơn các bạn ở Kiên Giang đã đến dự ngày xả tang cho Má tôi. Nếu trong lúc bận bịu có gì sơ suất mong các bạn thông cảm bỏ qua. Cám ơn các bạn ở Sài Gòn đã dẫn tôi đi uống cà phê mệt nghỉ trong thời gian ngắn ở đó, và cám ơn các bạn đã chịu khó lắng nghe tôi nói chuyện về một đề tài tương đối khô khan. Thank you, folks!

NVT

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2009

Bàn về chuyện người làm gây mê ở Bv Chợ Rẫy

Mấy ngày nay, báo chí có vẻ làm ầm ĩ về một người giả bằng cấp để vào làm bác sĩ gây mê hồi sức ở bệnh viện Chợ Rẫy. Không cần bàn cãi gì việc làm sai trái của anh này, và chắc anh ta cũng chấp nhận hình phạt sắp đến. Khi sự việc được phát hiện, anh ta cũng không dấu diếm việc sử dụng giấy tờ giả. Nhưng hình như qua báo chí, chưa thấy anh này gây tác hại cho ai, dù đã “đã tham gia gây mê cho rất nhiều bệnh nhân.” Nhưng báo chí nhanh nhẹn nói anh ta làm việc theo êkíp, nên chẳng gây tác hại cho ai. Hình như đây là một biện minh không mấy thuyết phục, vì nó cho thấy anh này không chừng cũng có khả năng học nghề và hành nghề ok. Không ok thì sao anh ta được vào biên chế và kí hợp đồng lao động. Nói tóm lại, dù anh ta có lỗi, nhưng hình như là cũng làm được việc.

Nghề dạy nghề. Gây mê hồi sức và phẫu thuật cũng là nghề, nên anh ta dù chưa học y khoa nhưng qua tiếp cận thực tế và học người đi trước nên cũng có thể làm đúng theo qui trình. Ở bên Úc và Anh có nhiều bác sĩ nội khoa “ác miệng” thì mỉa mai cho rằng các chuyên gia phẫu thuật là “butcher”, chứ không phải bác sĩ. (Ý nói bác sĩ thì phải biết sử dụng thông tin, biết suy luận giỏi, biết vận dụng và diễn giải dữ liệu khoa học tốt, v.v…)

Tôi lan man đến chuyện lớn hơn. Câu chuyện vừa đề cập mà báo chí làm ầm ĩ chỉ là một cá biệt, rất hi hữu, và cũng chẳng gây tác hại cho ai (nếu không muốn nói là ... giúp người). Nhưng một vấn đề lớn hơn, đã và đang gây tác hại cho quốc gia không chỉ hôm nay và còn nhiều thế hệ sắp đến là câu chuyện bằng thật nhưng học giả. Có người nói đây là một vấn nạn. Chưa bao giờ trong lịch sử giáo dục nước ta có nhiều thạc sĩ, tiến sĩ, và giáo sư như hiện nay. Nhiều đến nổi người dân mỉa mai là ra đường cũng gặp tiến sĩ!

Nhưng bao nhiêu người là do thực học và bao nhiêu là do học giả là đề tài bàn tán của mọi người quan tâm đến giáo dục nước nhà. Theo Gs Hoàng Tụy thì 70% giáo sư tiến sĩ hiện nay nếu đối chiếu với tiêu chuẩn nghiêm chỉnh sẽ không xứng đáng với chức danh và bằng cấp đó. Nhưng có người nói rằng con số đó có thể lên đến 90%! Như một tác giả đã viết trên TuanVietNam rằng: “Vì chúng ta đã nói dối quá nhiều và quá lâu rồi, nên những lời nói tử tế bây giờ lại trở nên hài hước.”

Nhưng rất nhiều những người này đang cầm trịch kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn học của đất nước. Và, hệ quả của chuyện bằng thật học giả này đang càng ngày càng rõ hơn. Cầu cống mới xây rất hoành tráng, khánh thành xong là có vấn đề. Đường lộ mới xây xong là hư. Đường hầm hiện đại mới khánh thành vài giờ đã ngập nước. Đó là những cái chúng ta có thể thấy được nhờ báo chí phản ảnh, chứ còn biết bao công trình khác mà chúng ta chưa thấy hay chưa biết được trên khắp nước. Nhìn chung, tính đầu người và ngay cả tính bằng con số tuyệt đối, nước ta có nhiều giáo sư tiến sĩ hơn Thái Lan, nhưng năng suất khoa học của ta chỉ bằng 1/5 của Thái Lan.

Báo Lao Động chạy cái tít “Bệnh viện Chợ Rẫy có bác sĩ dỏm” thì đúng, nhưng cả nước có hàng ngàn tiến sĩ giáo sư dỏm thì sao? Trong bối cảnh “nói dối quá lâu” và “bằng thật học giả” tràn lan thì đừng ngạc nhiên tại sao có một sự cố như ở Chợ Rẫy.

Tôi nghĩ phải nhìn như thế để thấy rằng trường hợp “bằng giả làm thật” mà báo chí đang quan tâm chẳng nhằm nhò gì so với cái quốc nạn “bằng thật học giả” đang tràn lan hiện nay ở nước ta mà vài thế hệ sắp tới sẽ trả giá.

NVT

===

http://www.giaothongvantai.com.vn/Desktop.aspx/News/van-hoa-the-thao/Giao_su_dom_tien_si_nhai/

Giáo sư dởm, tiến sĩ nhái...

- Này bác ơi, cái cạc vi zít của bác vừa đưa cho tôi ghi danh bác là GS-TS. Xin lỗi bác nhé, tôi hỏi khí không phải: Bác là GS-TS thật hay là GS-TS dỏm đấy.

- Ô hay, cái nhà ông này. Hỏi chi mà lỗ mãng, xấc xược thế. Tôi là GS-TS có bằng cấp hẳn hoi. Dỏm thế nào được.

- Có bằng cấp đóng dấu đỏ chói hẳn hoi thế mà vẫn dỏm đấy bác ạ.

- Ông có nói láo không đấy. Hoang tin hả?

- Nói có sách, mách có chứng đây. Ông L.Q.D Viện trưởng đương chức của một Viện KHKT - bảo vệ thành công tiến sĩ năm 2001. Theo quy chế của Nhà nước thì ông L.Q.D phải có ít nhất một bài báo phù hợp với hướng nghiên cứu công bố trên tạp chí khoa học từ cấp Ngành trở lên.

Phải học và thi khoảng 20 môn chuyên ngành trước khi bảo vệ tiến sĩ. Âý vậy mà ông L.Q.D không thèm học và thi một môn nào cả thế mà vẫn đàng hoàng ra trước hội đồng bảo vệ tiến sĩ và thế là úm ba la... hấp: tiến sĩ L.Q.D.

- Trời đất! Làm khoa học mà lại gian lận quá mấy mụ buôn dưa lê ở ngoài chợ trời cơ à?

- Đấy là tôi mới chỉ ra một trường hợp cụ thể. ở cái viện KHKT này còn độ chục ông GS-TS nữa. Toàn là đồ dỏm nhưng được dán bằng dấu đỏ chói hẳn hoi.

- Cũng giống như rượu dỏm nhưng được dán mác kiểm duyệt chứng nhận thương hiệu chất lượng bên trên nút chai ông nhỉ.

- Y chang! Nghĩ mà khôi hài quá bác ơi!

- Họ chạy chọt, kiếm cái mác học hàm học vị dỏm như thế để làm gì?

- Để có đủ tiêu chuẩn leo lên ghế này ghế nọ chứ.

- Họ không sợ có ngày bị lột mặt nạ, bêu ra trước công luận à?

- Sợ thì cũng có sợ. Nhưng mà cái lòng tham leo trèo chức vụ, quyền lực đã đè "bẹp dúm" cái sợ của họ rồi.

- Đúng rồi. Vì tham tiền khi có tới 300% lợi nhuận thì có bị treo cổ họ vẫn dấn tới, làm tới. ấy vậy mà lòng tham tiền còn kém xa lòng tham chức vụ quyền lực.

- Vì chức vụ quyền lực đẻ ra tiền bạc cơ mà.


Lao Động, Thứ Hai, 09/02/2004

Đào tạo nhân tài hay đào tạo chức, danh?

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Tuy nhiên, tại Việt Nam, bằng tiến sĩ “hấp dẫn” chủ yếu đang chỉ bởi tư cách là “giấy thông hành” bắt buộc cho sự thăng tiến. Số người dự định theo học sau đại học với toan tính có bằng cấp cao để dễ bề tiến thân mà không phải vì thực sự đam mê nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều. GSTS Trịnh Văn Minh - nguyên giảng viên cao cấp Trường Đại học Y Hà Nội - đã gửi bài viết này, bàn về rất nhiều vấn đề cần quan tâm để đào tạo nhân tài cho đất nước.

"Bôi thành luận án"...

Trong tình hình hiện nay của ta, về quy mô đào tạo, tôi cho là vừa quá nhiều, lại vừa chưa đủ; "tràn lan nhưng chưa chất lượng!". Tràn lan vì: Ở đâu, chỗ nào cũng có tiến sĩ (TS), thạc sĩ. Còn chưa đủ vì: Chỗ cần thì không có, chỗ có thì không cần; cái thực thì thiếu, cái yếu thì thừa.

Nhân đây tôi xin góp ý thêm với Bộ GD-ĐT về một số tiêu chuẩn về số lượng đề ra cho một luận án TS, đã làm nghiên cứu sinh (NCS) phải tìm cách đối phó đủ kiểu, làm giảm thêm chất lượng của luận án và làm khổ người chấm:

- Tiêu chuẩn "luận án phải dài trên 100 trang", đã làm cho NCS (nghiên cứu sinh) ra sức kéo dài bằng mọi cách, để chứng tỏ mình thừa tiêu chuẩn; trong khi có người văn Việt chưa thông, nội dung sáo rỗng, cóp nhặt, dựa dẫm, sai lạc, vô nghĩa, nhắc đi nhắc lại, nhiều chỗ không thể hiểu nổi!

Tôi đề nghị hãy thay tiêu chuẩn số lượng bằng chất lượng! Khoa học cần có nội dung sáng tạo và đóng góp mới, song cũng cần xúc tích, ngắn gọn! Cố GS Tôn Thất Tùng vẫn luôn nhắc học trò của mình: "Luận án của A.Einstein chỉ có 7 trang, mà vẫn rung chuyển thế giới!".

- Tiêu chuẩn "phải có trên 3 công trình đã công bố" là cần, nếu kể từ đầu vào. Song có người cho đến khi sắp bảo vệ luận án mới chia 3 kết quả vốn đã quá nghèo nàn của luận án thành 3 bài báo, bôi bác; chứng tỏ trước đó chưa hề nghiên cứu!

- Tiêu chuẩn "phải có 120 tài liệu tham khảo trở lên" theo tôi đã là quá nhiều, song NCS kê khai bao giờ cũng thừa. Đông tây kim cổ đủ kiểu, trong nước, ngoài nước đủ loại, mà đa số chẳng có liên quan gì đến luận án! Trong khi thực ra không đọc, hay đọc mà không hiểu được đầy đủ, dù chỉ một vài bài thật cần thiết, vì không đủ trình độ ngoại ngữ!

Vẫn toàn điểm 9 - 10

Hầu hết các NCS bảo vệ luận án TS đều thành công, trong đó tỉ lệ khá, giỏi rất cao. Thực tế ấy liệu có đúng thực chất? Chúng ta hãy xem chất lượng chấm luận án.

- Thứ nhất, tâm lý của đa số người chấm là "không muốn làm mất lòng ai".

- Thứ hai, "khen thì dễ, chê thì khó". Nên rất ít người muốn mất thì giờ đọc kỹ để chê cho đúng; mà thượng sách vẫn là chỉ đọc qua loa để có thể rút ra một vài lời "khen", vừa đỡ mất công mất sức, vừa được lòng, được việc! Khi trong hội đồng chấm luận án đã có đến 6 người cho điểm 9-10, thì người thứ 7 có cho điểm đúng thực chất cũng chỉ mang tiếng là khó, và dễ bị oán ghét, lần sau không ai muốn mời!

Hiện nay, chấm luận án TS không cho điểm, chỉ có 3 mức đánh giá: Không ai nỡ ghi là "không đạt", rồi khá hơn "đạt" thì lại không có mức khá; nên đành chỉ còn là "đạt" hay "xuất sắc". Thực giả vẫn khó phân biệt!

- Thứ ba, tôi chưa dám nói đến trình độ của người hướng dẫn và người chấm, vì không phải ai cũng có thời gian và khả năng để tìm hiểu những điều không thuộc lĩnh vực chuyên sâu của mình. Cho nên tìm người chính xác để thành lập một hội đồng chấm luận án quốc gia cũng là một khó khăn, đôi khi bất cập, của Bộ GD-ĐT.

Mặt khác, lịch sử đã tạo nên một số thầy chưa đủ trình độ phổ thông cấp II, cấp III đã được ưu tiên vào đại học, rồi ưu tiên cử đi lấy bằng "TS" ở nước ngoài, thừa tiêu chuẩn để hướng dẫn và chấm các TS trong nước. Thầy không thực chất, mong gì trò có chất lượng?

Vậy, cải thiện chất lượng sau đại học không phải chỉ là vấn đề của thầy, của trò, của Bộ GD-ĐT, mà là của cả xã hội và của các nhà lãnh đạo.

GSTS Trịnh Văn Minh

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2009

Khoe: nghiên cứu mới công bố!

Đây là một công trình hợp tác giữa nhóm của tôi và đồng nghiệp thuộc Đại học Y Phạm Ngọc Thạch (Bs Hồ Phạm Thục Lan). Công trình này mới công bố on-line hôm nay (1/7/09) trên tập san American Journal of Clinical Nutrition, tập san số 1 về dinh dưỡng lâm sàng trên thế giới. Chúng tôi hài lòng vì đã có bài báo hoàn toàn “thuần Việt Nam” trên một tập san danh tiếng này.

Vấn đề đặt ra là: ăn chay ảnh hưởng gì đến mật độ xương? Trong quá khứ có nhiều nghiên cứu từ Á châu, Âu châu và Mĩ, nhưng kết quả rất khác nhau. Trong phân tích này, chúng tôi tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu trong quá khứ, và thấy người ăn chay có mật độ xương thấp hơn người ăn mặn khoảng 5%. Nhưng khác biệt này không có ý nghĩa lâm sàng.

Tuy nhiên, nói đến ăn chay là nói đến nhiều nhóm, và hai nhóm chính là lactoovovegetarian (không ăn thịt và hải sản, nhưng dùng sữa bò) và vegan (tức không ăn bất cứ gì liên quan đến động vật như các tu sĩ Phật giáo đại thừa). Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy ảnh hưởng của ăn chay chủ yếu là ở nhóm vegan, chứ nhóm lactoovovegetarian thì không có khác biệt gì với nhóm ăn mặn. Điều này cho thấy calcium đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mật độ xương cho người ăn chay. Chúng tôi kết luận rằng ăn chay không có ảnh hưởng xấu đến xương.

Viện Garvan có lẽ “thích” công trình này, nên họ muốn quảng bá đến các cơ quan truyền thông quốc tế. Vài ngày tới, tôi và chị Thục Lan chắc sẽ rất bận trả lời phỏng vấn báo chi! Điều tôi vui là góp một phần nhỏ đưa tên tuổi một đại học mới và non trẻ ở VN vào y văn quốc tế.

NVT


http://www.garvan.org.au/news-events/news/resolving-a-fractured-debate-about-meat-fish-eggs-vegetables-and-bones.html

Summarising a fractured debate about meat, fish, eggs, vegetables and bones

Until now, medical opinion about the impact of vegetarian diets on bone health has been based on anecdotal evidence and a range of contradictory findings that sometimes rely on studies too small to be biologically relevant.

Researchers in Australia and Vietnam searched all peer-reviewed literature on the subject, selecting nine studies for analysis. The nine studies compared bone mineral density (BMD) of meat eaters and vegetarians from around the world, including 2,749 men and women.

Their results showed that people on vegetarian diets have BMD roughly 5% lower than non-vegetarians.

The study was led by Professor Tuan Nguyen from Sydney’s Garvan Institute of Medical Research and Dr Ho-Pham Thuc Lan from the Pham Ngoc Thach University of Medicine in Ho Chi Minh City, Vietnam. Their findings are published online today in the American Journal of Clinical Nutrition.

“There has been much debate surrounding this issue,” commented Nguyen. “Discrepancies in findings, inadequate clinical samples and poor comparative data have all contributed to the confusion.”

“Many studies tell us, for example, that countries with a high rate of vegetable consumption have a low risk of hip fracture. This implies that vegetable consumption is good for bone health.”

“Other studies have highlighted lower BMD measurements among vegetarians and have come to the opposite conclusion.”

“The truth, of course, encompasses many dietary and lifestyle factors. While BMD is important, it is not the only thing that contributes to fracture risk.”

Given the rising number of vegetarians (roughly 5% in Western countries) and the widespread incidence of osteoporosis (2 million people in Australia alone), the issue is worth resolving.

The team adopted a rigorous approach. Of the 922 peer-reviewed journal articles produced by their literature search, 9 met the criteria considered suitable for analysis. Studies had to be original, undertaken on people over 18, with vegetarian and non-vegetarian diets as factors and BMD as outcome.

The term ‘vegetarian diet’ included 4 types of vegetarian diet: semi-vegetarian (excluding meat); lactoovovegetarian (excluding meat and seafood); lactovegetarian (excluding meat, seafood and eggs but not milk and dairy products); and vegan (excluding all foods of animal origin).

Professor Nguyen and Dr. Thuc Lan believe the study has answered some important questions. “The term ‘vegetarian’ is loosely used, so we felt it was valuable to compare the impact of different vegetarian diets,” said Professor Nguyen.

“We found there was practically no difference between meat eaters and ovolactovegetarians.”

“While there is a difference between meat eaters and vegans, that difference is small.”

“We conclude that vegetarians as a group have lower BMD than meat eaters as a group, but whether the difference translates into increased fracture risk has yet to be resolved.”

Sữa đậu nành giảm 4 lần nguy cơ tim mạch ?

Đọc bài sau đây, đáng lẽ không viết bình luận, nhưng thấy chữ “chứng minh” nên tôi phải viết vài hàng. Khoa học thực nghiệm (như y khoa) không có chứng minh cái gì cả. Không ai có thể chứng minh một giả thuyết. Điều mà chúng ta có thể làm được (hay phát biểu được) là dữ liệu có phù hợp với giả thuyết hay không mà thôi. Chẳng hạn như giả thuyết là sữa đậu nành có lợi cho tim, và nếu sau khi thực hiện nghiên cứu, chúng ta có những dữ liệu phù hợp với giả thuyết này thì ta phát biểu như thế, chứ không thể phát biểu rằng giả thuyết đó đúng hay dữ liệu đã chứng minh giả thuyết đó đúng.

Nhưng tôi thông cảm cho nhà báo, vì họ không quen với các khái niệm khoa học và triết lí khoa học. Do đó, họ có dùng sai chữ thì cũng chẳng sao, miễn là công chúng hiểu là ok rồi. Nhưng tôi e rằng công chúng cũng chẳng hiểu nổi thông tin trong bài báo này.

Tựa đề bài báo cho biết “2 ly sữa đậu nành giảm 4 lần nguy cơ tim mạch”, nhưng phía dưới thì viết “[…] các sản phẩm từ đậu nành có thể giảm nguy cơ tim mạch của phụ nữ tiền mãn kinh xuống 25%. Những phụ nữ uống sữa đậu nành hàng ngày trong vòng 1 thập niên có khả năng giảm nguy cơ tim mạch từ 3-4 lần.” Đúng là câu trước “đá” câu sau!

Hồi nào đến giờ tôi chỉ nghe người ta nói tăng bao nhiêu lần, chứ chưa nghe nói giảm bao nhiêu lần. Nhưng ngay cả so sánh thì đòi hỏi phải có hai đối tượng, chứ nếu chỉ một thì ai mà hiểu được. Nếu nói “Nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở người hút thuốc tăng gấp 2 lần” thì câu này hoàn toàn vô nghĩa, bởi vì người đọc chẳng biết 2 lần so với ai? Do đó, cái tít “2 ly sữa đậu nành giảm 4 lần nguy cơ tim mạch” lại càng vô nghĩa, từ cách so sánh đến đối tượng so sánh đều không rõ ràng.

Khi nói đến giảm, tôi chỉ nghe người ta nói giảm bao nhiêu phần trăm (chứ không phải giảm bao nhiêu lần). Nhưng câu “[…] các sản phẩm từ đậu nành có thể giảm nguy cơ tim mạch của phụ nữ tiền mãn kinh xuống 25%” cũng vô nghĩa, bởi vì giảm từ bao nhiêu xuống thành 25%? Có phải nếu không uống sữa đậu nành thì nguy cơ là 100%, và khi uống thì giảm xuống còn 25%? Vô lí. Chẳng có nguy cơ nào lên đến 100% cả. Mà, 25% ở đây có nghĩa là gì? Có phải là cứ 100 người tiền mãn kinh thì có 25 người mắc bệnh tim mạch? Vô lí. Không có nguy cơ nào mà cao như thế. Vì nếu quả cao như thế thì đàn ông Việt Nam chẳng tìm đâu ra vợ!

Nói gì thì nói, tôi rất sợ làm theo phong trào theo kiểu “24 giờ và 2 ly sữa mỗi ngày”. Bằng chứng nào cho thấy uống nhiều sữa đậu nành sẽ giảm nguy cơ tim mạch? Bằng chứng đó công bố ở đâu? Tại sao chỉ tập trung vào sữa? Bbằng chứng nào cho thấy tập trung vào sữa là có hiệu quả kinh tế? Làm theo kiểu phong trào, theo khẩu hiệu kiểu này có khi chỉ nâng cao thu nhập cho các công ti thương mại chứ chưa chắc đem lại lợi ích cho người dân.

NVT

===

http://vietnamnet.vn/khoahoc/2009/07/855787/

2 ly sữa đậu nành giảm 4 lần nguy cơ tim mạch

Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh các sản phẩm từ đậu nành có thể giảm nguy cơ tim mạch của phụ nữ tiền mãn kinh xuống 25%. Những phụ nữ uống sữa đậu nành hàng ngày trong vòng 1 thập niên có khả năng giảm nguy cơ tim mạch từ 3-4 lần.

Thông tin trên do Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Tim mạch học quốc gia công bố hôm 23/6 – khởi động đề án truyền thông cộng đồng đầu tiên về sức khỏe tim mạch cho phụ nữ sẽ kéo dài suốt 1 năm từ tháng 6/2009 - 6/2010.

Ý tưởng của chương trình xuất phát từ thực tế phụ nữ Việt Nam đang chịu quá nhiều áp lực công việc và gia đình, ít có thời gian chăm sóc bản thân.

Nghiên cứu của AC Nielsel cũng cho biết, phụ nữ Việt Nam nằm trong 3 nước trên thế giới cảm thấy không hạnh phúc với đàn ông – một trong những nguyên nhân dẫn đến stress và nguy cơ tim mạch.

Vì thế, Trung tâm Phụ nữ và Phát triển, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Tim mạch học quốc gia đã phối hợp tổ chức đề án “Sữa đậu nành bảo vệ sức khỏe tim mạch của phụ nữ Việt Nam” với mục đích khuyến cáo phụ nữ Việt Nam tìm hiểu về bệnh tim mạch, nâng cao hiểu biết và có chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Trong đó, đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành như sữa đậu nành, tào phớ, đậu phụ là những thực phẩm chức năng có tính chất bảo vệ tim mạch số một. “Thật may, sản phẩm này luôn sẵn có, rẻ tiền, phụ nữ từ thành thị đến nông thôn đều “với tới” được”, PGS. Lê Thị Mai, Viện Dinh dưỡng cho biết.

Đó cũng lý do chương trình chọn sữa đậu nành đồng hành cùng “bảo vệ sức khỏe tim mạch của phụ nữ” với slogan “24 giờ và 2 ly sữa mỗi ngày”.

Đặc biệt, các nhà tổ chức cho biết sẽ thăm khám tim miễn phí cho phụ nữ và người thân tại 18 tỉnh, thành trên cả nước suốt 1 năm diễn ra đề án.