Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

Nhật kí Saudi Arabia 3. Đại học King Abdulaziz

Tiến sĩ AA đón chúng tôi ngay tại đại sảnh khách sạn đúng 8:30 am. Anh ta chỉ trạc tuổi 40, mặc áo thụng màu trắng như phần lớn đàn ông người Saudis khác. Tuy ăn mặc theo mốt truyền thống như thế, nhưng AA là người rất Tây phương. Nói chuyện một lúc, tôi mới biết AA từng học ở Úc 2 năm và sau đó tốt nghiệp tiến sĩ ở Đại học Boston. Bây giờ anh ta là Vụ trưởng Vụ nghiên cứu khoa học thuộc Bộ Giáo dục, và có trách nhiệm cùng với chúng tôi đi thanh tra 12 trung tâm xuất sắc mà Bộ đã lập ra. Thấy anh ta vui vẻ và thân thiện, tôi hỏi rằng nghe nói ở Saudi Arabia vẫn còn “chế độ đa thê”. Anh ta nói đúng thế, Saudi Arabia là một trong những nước thiểu số còn duy trì luật cho phép đàn ông có nhiều vợ, nhưng những người “modern” (chữ anh ta dùng) như anh ta thì chỉ có một vợ mà thôi, bởi lí do đơn giản là không có khả năng tài chính lo cho nhiều vợ! Anh ta hỏi chúng tôi có thèm bia rượu thì nên nhịn, vì không thế tìm mấy thứ đó ở thành phố này, nhưng ở chỗ khác (cách Jeddah 150 km) thì may ra mới có, và chỉ có dưới hình thức lậu.

Chúng tôi lên xe đi trung tâm CEOR, nằm trung [Đại học] King Abdulaziz University (KAU). Trên đường đến KAU tôi thấy người Saudi cũng lái xe rất ẩu và có thể nói là giống giống Việt Nam. Tuyệt đối không có phụ nữ lái xe vì đó là luật pháp của nước này! Nhiều đường lộ không có vẽ lằn xe, nên mạnh ai nấy chạy, gây ra cảnh hỗn độn trông rất quen mắt, nhất là đối với người Việt chúng ta. Có khi hai xe chạy song song rất gần nhau, hay xe từ trong một đường nhỏ đâm thẳng ra xe đang chạy làm tôi thấy thót ruột bao phen. Kẹt xe là chuyện thường ngày ở đây, vì một phần là người Saudi cũng khá vô kỉ luật, và một phần là quá nhiều xe ôtô (ở đây tôi không thấy xe gắn máy như ở nước ta hay Á châu).

KAU là một trường lớn của Saudi Arabia. Theo Ali, KAU tọa lạc trong một khu đất khoảng 150 hecta, nếu xây hết thì đây là một đô thị nhỏ. Trường KAU chỉ mới ra đời 30 năm, nhưng đến nay đã có hơn 45.000 sinh viên theo học. Trường được tổ chức theo mô hình phương Tây, tức là “tổng hợp” (nói theo ngôn ngữ Việt Nam sau 1975), với 7 colleges, bao gồm y khoa, kĩ thuật và công nghệ, và khoa học tự nhiên. Các college (hay khoa) này cách nhau nhiều con đường. Có thể nói mỗi college chiếm một khu phố. mà Muốn di chuyển từ college này sang college khác có khi phải lái xe, một phần vì xa, một phần vì khó có ai có thể cuốc bộ trong cái nắng khắc nghiệt này. Trong khuôn viên trường có 2 bệnh viện lớn trực thuộc khoa y, dược và nha. Bệnh viện lớn đến nổi phải có một building riêng chỉ để … chạy máy lạnh. Hiện nay, trường vẫn chưa chiếm hết 150 hecta đất, nhưng trong tương lai các building sẽ mọc lên theo đà phát triển của trường.

Cách tổ chức của trường cũng rất giống với các đại học Âu Mĩ. Chủ tịch (president, hay hiệu trưởng) của trường mang danh xưng “His Excellency”, tức là tương đương với chức bộ trưởng trong chính phủ. Dưới chủ tịch là 6 phó chủ tịch (vice-president), phụ trách những khâu như nghiên cứu khoa học, giáo vụ, ngoại giao quốc tế, v.v… Riêng nhóm của tôi thì làm việc trực tiếp với ông giáo sư phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu khoa học của trường. Ngoài ra, trường còn có một hội đồng quản trị và hàng tá ủy ban, hội đồng khoa bảng khác. Có thể nói rằng những ai từng quen với cơ cấu tổ chức đại học ở phương Tây sẽ rất cảm thấy quen thuộc với hệ thống quản lí ở đây.

Sáng hôm đó, theo chương trình, trước khi bắt đầu cuộc thanh tra, chúng tôi đến chào giáo sư phó chủ tịch. Điều đầu tiên gây ấn tượng cho tôi là văn phòng của phó chủ tịch còn lớn cả văn phòng thủ tướng Úc! Phía ngoài văn phòng là một sảnh đường rộng được trang trí theo kiểu Hồi giáo, với 3 nhân viên (toàn là nam), trong đó hình như một người là thư kí riêng cho ngài phó chủ tịch. Cánh cửa văn phòng của ông (đóng kín mít) trông vừa rất to, vừa rất nặng nề (có lẽ được làm bằng gỗ quí). Khi cánh cửa mở ra, một người đàn ông mặc đồ thụng màu trắng, bụng to (chắc chắn là béo phì) lê tấm thân một cách cực nhọc đi về phía chúng tôi. Đó là ngài phó hiệu trưởng. Ông đến bắt tay từng người trong đoàn với sự kính cẩn giới thiệu của Tiến sĩ AA (Vụ trưởng của Bộ Giáo dục). Ông mời chúng tôi vào văn phòng làm việc của cá nhân ông. Tôi nhìn quanh văn phòng của ông và thấy diện tích cũng phải 20 mét bề dài và 15 mét bề ngang. Bàn làm việc của ông cũng rất rộng: cỡ 4 x 5 mét. Mới ngồi xuống chưa kịp nói rằng gì thì đã có hai người đến phục vụ trà, cà phê, và thức ăn. Chúng tôi vừa ăn uống vừa nói chuyện xã giao. Ông giáo sư phó chủ tịch là một cựu du học sinh ở Cambridge và lấy bằng tiến sĩ hóa học bên Mĩ nên nói tiếng Anh rất thạo, và cách hành xử cũng rất Tây. Thú thật, mới nói qua vài câu, tôi đã thấy ngay rằng ông này đúng có cùng “băng tần” với mình. Trước khi chia tay để làm việc, ông ta cám ơn chúng tôi đã đi đường xa đến đây giúp ý kiến cho trường ông hoạt động tốt hơn. Thật ra, chúng tôi được trường “chăm sóc” rất tốt, từ khâu đi máy bay đến khách sạn và giải trí ăn uống. Tôi nhẫm tính trường chắc phải chi cho mỗi người trong chúng tôi ít nhất là 10 ngàn USD cho chuyến đi không đầy 1 tuần này! Nói chung, tôi thấy họ hành xử quá đẹp với chúng tôi, đẹp đến nổi tôi không có gì để phàn nàn cả.

Thanh tra

Sau buổi chào ông phó hiệu trưởng, chúng tôi quay về trung tâm CEOR để làm việc. Theo chương trình, hôm nay là ngày của phía CEOR. Đầu tiên, giáo sư giám đốc CEOR trình bày về sứ mệnh, mục tiêu, và tổ chức của trung tâm, kế đến là phần của những người đứng đầu từng chương trình nghiên cứu nói về chương trình của họ đã, đang hay sẽ làm gì. Sau đó là buổi thanh tra lab và an toàn lab. Ngồi suốt một ngày nghe những người này nói chuyện không phải là điều thoải mái chút nào, nếu không muốn nói là cả một cực hình. Tôi và các thành viên trong đoàn đều nhận thấy lãnh đạo của trung tâm này muốn kéo dài thì giờ, bằng cách “cà kê dê ngỗng” những điều mà đáng lẽ họ có thể nói tóm tắt cho chúng tôi nghe. Mỗi chương trình đưa ra cả chục mục tiêu, mà theo tôi thì có thể gói gọn trong vòng 3 mục tiêu. Có người nêu lên vài chục “achievements” (thành quả) mà theo tôi là không có thành quả nào cả. Họ trình bày bằng powerpoint, nhưng phạm phải những sai lầm cơ bản : đó là màu mè, hoạt hình quá nhiều, slides thì chi chít những chữ (không có biểu đồ). Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là ai cũng lải nhải đọc mấy slides! Điều này chứng tỏ rằng dù mấy người này mang danh xưng giáo sư này nọ, nhưng thật ra họ thiếu những kĩ năng mềm mà đáng lẽ họ phải có ngay từ những năm theo học đại học. Giáo sư ME ngồi bên cạnh tôi thở dài liên tục và tỏ ý không hài lòng, vì ông ta cho rằng mấy người này cố tình kéo dài thì giờ! Tôi cũng đồng ý với ME.

Đến phần chúng tôi đặt câu hỏi và trao đổi có lẽ là phần sống động nhất. Phải nói ngay rằng họ cũng rất thành thật về những gì họ chưa làm được và cũng thẳng thắn trả lời những câu hỏi mang tính xâm phạm của chúng tôi. Tôi để ý họ có phần cảm tính. Chẳng hạn như khi tôi đặt câu hỏi tại sao họ theo đuổi chương trình nghiên cứu về tế bào gốc trong khi họ chưa có chuyên gia lành nghề, thì thay vì trả lời câu hỏi tôi, ông giám đốc nghẹn ngào kể lại chuyện cha ông bị gãy cổ xương đùi và chết trong sự đau đớn như thế nào. Sự nghẹn ngào của ông làm cho tôi lúng túng chẳng biết nói sao và không biết có nên tiếp tục hỏi tiếp hay không. May thay, DS – người lớn tuổi nhất và cũng là sếp trong nhóm – lên tiếng an ủi và lái câu hỏi sang một chiều hướng khoa học hơn.

Buổi làm việc thay vì kết thúc lúc 5 giờ chiều lại kéo dài đến 7 giờ tối. Ai cũng mệt nhừ, nhất là tôi đã kinh qua một chuyến bay cả 20 giờ đồng hồ! Tuy nhiên, việc cần làm vẫn phải làm. Về khách sạn, chúng tôi ngồi bên cạnh bàn ăn để tóm lược những điểm chính trong ngày, và lên chương trình cho ngày làm việc hôm sau.

(Còn tiếp)

NVT

Tiếng Anh bài 8. Sử dụng từ ngữ đơn giản

Một trong những “bệnh” của người mới học viết tiếng Anh là hay … khoe chữ. Họ cố tình sử dụng những từ khó hiểu, thường có nguồn gốc Latin hay Hi Lạp, như ngầm nói với người đọc rằng vốn liếng ngữ vựng của họ rất giàu. Nhưng trong khoa học, vì nhu cầu trong sáng và chính xác, chúng ta nên sử dụng những từ đơn giản, dễ hiểu, và cần phải tránh xa những từ ngữ phức tạp và “kiêu kì”. Sau đây là danh sách (chưa đầy đủ) một số từ cần được “đơn giản hóa”:

1. Sử dụng từ ngữ “kinh tế” một chút (trong ngoặc kép)

o because thay vì of based on the fact that;

o for hay to thay vì for the purpose of.

o there were several patients who completed … nên thay thế bằng several patients completed ...;

o it is suggested that a relationship may exist (a relationship may exist);

o both alike (alike); one and the same (the same);

o a total of 10 subjects (10 subjects);

o four different groups (four groups);

o absolutely essential (essential);

o found previously (found);

o small in size (small);

o in close proximity (in proximity);

o very close to zero (close to zero);

o much better (better);

o period of time (time);

o summarize briefly (summarize);

o the reason is because (the reason is);

o also included (included);

o except for (except).

2. Chính xác

o patient hay participant thay vì subject;

o concentration hay frequency thay vì level.

• Không nên khái quát hóa một cách không cần thiết. Chẳng hạn như, không nên viết some khi chúng ta biết rằng chỉ có 1 trường hợp duy nhất. Viết some khi chỉ có 1 là … nói dóc.

• This thường không rõ ràng. Nên viết this test hay this problem để câu văn rõ ràng hơn.

• Tránh những từ thậm xưng (hyperbole) như very hay extremely (văn phong khoa học thường trầm tĩnh, lạnh lùng).

• Không sử dụng however hai lần trong một đoạn văn, bởi vì thay đổi chiều hướng lí giải 2 lần trong một đoạn văn sẽ làm cho người đọc bực mình.

• Không sử dụng however hơn 1 lần trong 10 đoạn văn; nên tìm từ khác như although, nevertheless, despite, v.v…

• Tránh sử dụng chủ đề thiếu nhân tính (non-human agent). Chẳng hạn như viết the authors concluded that… thay vì the study concluded that….

• Tránh thành ngữ thông tục (colloquialism), như steer clear of.

• Tránh as such, như trong câu văn sau đây: The SCAT is a reliable test of state anxiety. As such, it is suitable for experimental studies. Có thể sửa lại: The SCAT is a reliable test of state anxiety; it is therefore suitable for experimental studies.

• Tránh her, his và các từ ngữ hàm ý kì thị giới.

3. Tránh những từ ngữ có thể làm cho người đọc mất chú ý:

At the present time (không cần thiết)

It is believed (dẹp, khoa học không có niềm tin)

Approximately (about)

Is required (nên thay thế bằng is needed)

commences (begins, starts)

vast majority (Most)

Literature shows (literature nào? Cần tài liệu tham khảo)

Elevated (raised)

In excess of (Above)

Female subjects (Women)

Of the same opinion (Agreed)

Be of assistance (Help)

It seemed to the present researchers (we thought)

v.v...

NVT

Những bạo hành ở Tu viện Bát Nhã : xin giải thích giùm tôi

Vụ bạo hành ở Tu viện Bát Nhã càng ngày càng nghiêm trọng. Các tu sĩ học viên của Tu viện đã bị khủng bố và đánh bật ra khỏi nơi họ tu hành. Các tu sĩ đến tị nạn ở chùa Phước Huệ mà cũng chưa yên thân. Trong khi đó thì sách vở kinh kệ của Tu viện bị đốt. Hình ảnh đốt sách này gợi lại thời "Cách mạng văn hóa" bên Trung Quốc. Thật khó tưởng tượng nổi một đất nước có kỉ cương và luật pháp mà những hành động hành hung dã man, những hành động khủng bố bẩn thỉu nhất, kinh tởm nhất lại xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật. Càng khó tưởng tượng hơn những hành động này xảy ra cho một nhóm người hiền từ nhất xã hội: tu sĩ Phật giáo. Đúng như Ban thường trực Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng nhận xét: "Đây là nỗi đau xót, nhục nhã hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam".

Đại đa số báo chí trong nước tránh đề cập đến sự việc. Trong khi đó giới thức trong và ngoài nước lên tiếng khẩn cầu chính quyền giải quyết. Thầy Nhất Hạnh viết thư thỉnh cầu giải quyết trong tình thần anh em trong nhà. Tất cả đều rơi vào một khoảng không im lặng đáng sợ. Không một lãnh đạo chính quyền trả lời lá thư của Thầy Nhất Hạnh, và thái độ thụ động (hay xem thường) này của chính quyền rất khác với những lần tiếp xúc nồng nhiệt mà Chủ tịch nước dành cho Thầy Nhất Hạnh khi ông về nước hoằng pháp.

Bài viết sau đây của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, cũng là một Phật tử từng đấu tranh chống chính sách đàn áp và kì thị tôn giáo của chế độ NĐD. Bài viết tường thuật chi tiết về những gì anh trực tiếp thấy và nghe. Câu cuối của anh Xuân nói lên tất cả sự thất vọng của anh đối với chính quyền mà anh là một cán bộ:

"Để tôi có thể tiếp tục tự hào về cuộc đời mình đã góp phần xây dựng nên một xã hội 'công bằng, dân chủ, văn minh', để khi cầm bút tôi không bị vướng bận gì, kính mong các cơ quan chức năng ở Trung ương, Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam giải thích giùm tôi những câu hỏi trên. Nếu không được quý vị quan tâm thì niềm tin về Đảng, về GHPG VN ở cuối đời của tôi sẽ giã từ tôi."

Thật vậy, nếu không quan tâm giải quyết, thì "niềm tin về Đảng" (và Nhà nước nữa) "giả từ" không chỉ một Nguyễn Đắc Xuân, mà còn giả từ hàng chục triệu Phật tử và công dân Việt Nam.

NVT

===

Những bạo hành ở Tu viện Bát Nhã: xin giải thích giùm tôi

Nguyễn Đắc Xuân


Từ tháng 6 đến tháng 9-2009 vừa qua, trên các trang web chính thức và không chính thức đăng nhiều tin tức kèm theo phim và ảnh viết rằng thầy trò Thượng tọa Đức Nghi – Viện chủ tu viện Bát Nhã – được chính quyền, công an địa phương ủng hộ, đã cùng thanh niên xã hội đen sử dụng nhiều biện pháp bạo ngược chưa từng có trong đời sống xã hội VN từ xưa đến nay đối với gần 400 tăng ni sinh Phật giáo tu theo pháp môn Làng Mai như cắt điện, cắt nước, đánh đập, chọi đá, ném phân lên người chư Tôn đức giáo phẩm Giáo hội PG tỉnh Lâm Đồng, bắt loa chửi bới suốt ngày những Thiền sinh tu theo pháp môn Làng Mai, v.v. Với nghiệp vụ báo chí mà tôi đã học và thực hành, tôi không thể bác bỏ những thông tin ấy được. Tuy nhiên tôi không thể tin những bạo hành ấy lại có thể diễn ra ở VN hiện nay – một quốc gia đã vào WTO, đang làm Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ, đã có mạng lưới truyền thông toàn cầu, đã và đang hỗ trợ xây dựng nhiều chùa Phật lớn nhất trong lịch sử Phật giáo VN, đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản của Liên hiệp quốc (Vesak) 2008, đang chuẩn bị tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới (2010), đang phấn đấu có một nền pháp trị, dân chủ, v.v.! Những sự việc đi ngược lại truyền thống đạo lý của dân tộc ấy nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi cho nên suốt ba tháng qua, tôi chưa dám có một nhận định gì.

Cho đến sáng 27-9-2009, trên đường từ TP HCM lên Đà Lạt thăm mộ mẹ tôi ở Nghĩa trang Du Sinh, tôi ghé lại Bảo Lộc và vào thăm Tu viện Bát Nhã – nơi cách đây mấy năm tôi đã đến và đã hân hạnh được gặp Thượng tọa Thích Đức Nghi. Và, thật bất ngờ, dù trời mưa rất to, tôi đã chứng kiến được những phút giây bình yên cuối cùng mang tính lịch sử của gần 400 tăng ni sinh Phật giáo tu theo pháp môn Làng Mai ở Tu viện Bát Nhã.

Làm một “khách du lịch bụi”, trước tiên tôi vào Nhà trẻ Hiểu và Thương của TV Bát Nhã. Nhà Trẻ đóng cửa, tôi đi dần xuống dốc, vào một tòa lầu hai tầng mang tên xóm Mây Đầu Núi.

Được biết xóm Mây Đầu Núi do ông Đa-vít (Hoa Kỳ) tài trợ, Thượng tọa Đức Nghi đứng tên xây dựng để dành cho ngành tu Tiếp Hiện của pháp môn Làng Mai ở Bát Nhã. Nhưng Tiếp Hiện chưa dùng, TT Đức Nghi tạm dành cho một bộ phận ni của xóm Bếp Lửa Hồng. Một ni cô trẻ tiếp tôi và cho biết các cô ở xóm Mây Đầu Núi đang đi Thiền hành. Tôi được hướng dẫn ra phía sau, men theo con đường dốc lên Thiền đường Cánh Đại Bàng – nơi lần trước tôi đã chứng kiến cảnh đúc những hàng cột đầu tiên. Thiền đường mênh mông yên tĩnh. Nhiều bảng Nội quy và cửa kính bị đập vỡ. Thông tin đầu tiên mà tôi đã nghe lâu nay được xác nhận.

Nhìn ra đài Bông hồng cài áo phía bên phải thấy có bức tượng một phụ nữ vươn cao, dưới chân phụ nữ là hai bức tượng trẻ con bị đập gãy hết chân tay dợm lao đầu xuống đất. Con đường nối Thiền đường với khu dựng tượng bị cành thông lấp kín, tôi vội băng trên cây cỏ chạy ra xem. Nhìn hai pho tượng trẻ con giống như mấy đứa cháu ngoại của tôi ở TP HCM, chân tay bị đập vỡ tôi rất xúc động. Tôi chụp được mấy kiểu ảnh thì trời mưa xối xả.

Tôi quay lại đúng vào lúc hàng trăm Thiền sinh chống dù đi Thiền hành thảnh thơi an lạc xếp dù bước vào hành lang Thiền đường. Các Thiền sinh chưa hề biết tôi, tất cả đều cúi đầu chào tôi bằng một nụ cười rất hiền hòa thân ái. Trước sự thảnh thơi an lạc ấy, những xúc động trong tôi dịu lại. Tôi chào hết mọi người và nhờ chụp một kiểu ảnh để ghi lại trong nhật ký.

Chia tay các Thiền sinh, tôi rảo bước đến cuối Thiền đường đi về hướng xóm Rừng Phương Bối dành cho các tăng sinh. Khu vực này nằm ngay phía sau khu vực Chánh điện và các cơ sở chính của TV Bát Nhã của TT Đức Nghi. Chỉ cách nhau một cái sân hẹp. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy trên tường TV Bát Nhã nhìn về phía dãy lầu xóm Rừng Phương Bối, TT Đức Nghi cho treo những băng-đờ-rôn viết những khẩu hiệu bằng một thứ ngôn ngữ chợ búa đe dọa, xua đuổi, xuyên tạc việc tu tập của gần 400 Thiền sinh tu theo Pháp môn Làng Mai. Tôi đưa máy ảnh chụp để về nhà đọc cho biết, nhưng các sư ùa đến ngăn tôi, bảo tôi phải cất máy ảnh và ra khỏi nơi này ngay. Nếu không đám xã hội đen đang có mặt trong TV Bát Nhã sẽ xông qua giật máy ảnh và bắt tôi. Phút bình yên trong tôi tan biến. Tôi vội ra phía sau đi qua cái cốc mà trước đây tôi đã đến chào TT Đức Nghi, rồi xuống nữa ngang qua cái cốc dành cho Sư ông Nhất Hạnh mỗi lần Sư ông về trú tại Bát Nhã. Tiếp đến là khu vực Bếp Lửa Hồng có hai tòa nhà cao rộng, chia nhiều gian dành cho giới ni.

Lần trước đến đây ăn cơm chùa, tôi đã gặp nhà văn Tô Nhuận Vỹ lên thăm hai cháu Diệu Lan (phiên dịch tiếng Anh ở Bộ Ngoại giao) và Diệu Liên tập tu ở đây. Bây giờ Bếp Lửa Hồng khang trang hơn trước nhiều. Các ni lặng lẽ làm những việc cần phải làm trước khi bắt đầu buổi học sáng. Tôi không nhận thấy có điều gì lo lắng, sợ hãi ở đây cả. Sự an lạc thảnh thơi của các thiền sinh tu theo môn phái Làng Mai giúp tôi vững bước leo lên cái dốc hướng đến lầu chuông ở phía trái Chánh điện TV Bát Nhã. Giấu máy ảnh trong áo mưa, tôi đi men theo con đường sát với khu nhà bếp đối diện với xóm Rừng Phương Bối. Nhìn qua hàng rào tôi thấy bên trong hàng trăm người đàn ông, đàn bà, con trai con gái, áo nâu, áo lam nhếch nhác, nhiều người ăn mặc như cán bộ, một số cầm máy ảnh, máy quay phim, đùi, gậy, dao rựa đi đi lại lại, ăn nói, cười cợt lao xao. Tôi liên tưởng đến những côn đồ, xã hội đen, giả Phật tử đã từng tung hoành ở Bát Nhã được lưu trong các trang web phapnanbatnha, phusa, langmai lâu nay. Tôi sợ phải đối đầu với những đồng chí của mình nên muốn nhanh chân ra khỏi nơi này. Nhưng con đường tráng xi-măng quá trơn nên tôi phải lần từng bước một. Tôi vừa ra đến bên hông Chánh điện thì phía sau lưng tôi vang lên tiếng la ó, chửi bới và đám đông ùa qua Rừng Phương Bối đánh đuổi các Thiền sinh. Không hiểu sao, tôi quay lại thấy tất cả các Thiền sinh đều ngồi trong tư thế kiết già, bất động, chắp tay niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm để mặc cho người của TT Đức Nghi hành động đánh đập, lôi kéo, phá tán. Các Thiền sinh khoát tay khẩn khoản bảo tôi lui ra. Như cái máy, tôi lui ra. Quay nhìn xuống dưới vườn chè lại thấy một nhóm người khác của TT Đức Nghi ùa xuống xóm Bếp Lửa Hồng. Và cảnh bạo hành như ở Rừng Phương Bối diễn ra và các ni cũng ngồi kiết già niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Tôi cảm thấy kinh hoàng giống như sáng ngày 21-8-1963 khi Cảnh sát Dã chiến thực hiện kế hoạch Nước lũ của ông Ngô Đình Nhu tấn công vào chùa Diệu Đế mà tôi đã từng viết trên báo Giác Ngộ. Và hơn thế nữa, hồi 1963, thấy Cảnh sát Dã chiến tôi có thể nhận ra họ để tìm cách đối phó, còn ở Bát Nhã hôm đó Cảnh sát đồng chí của tôi mặc thường phục, không phân biệt với dân thường, đám xã hội đen lau hau, tôi không biết họ là ai, nếu nhỡ bị họ hành hung đập máy ảnh, thu giấy tờ trong ví của tôi thì tôi không biết ai để mà thưa với chính quyền của tôi. Tôi rất bối rối. Và, càng bối rối hơn nữa, trời mưa to, nhà tôi ở Huế gọi điện thoại cầm tay vào báo Bão số 9 sắp vào Huế chưa tìm được người giúp đưa sách và tài liệu nghiên cứu của tôi lên gác. Đây cũng là một cái tin dữ. Có lẽ nào tôi đang phải gánh chịu hai trận bão một lần sao? Bão người và bão trời!

Không hiểu sao, tôi không chạy ra tỉnh lộ trước TV Bát Nhã, phản xạ tự vệ xui tôi băng qua rừng thông trở lại Thiền đường Cánh Đại Bàng, xuống dốc chạy ngược về xóm Mây Đầu Núi – nơi tôi vừa ghé lúc sáng và nghĩ rằng ở đây tách biệt với TV Bát Nhã nên hy vọng còn bình yên. Nhưng không ngờ, mới đến Mây Đầu Núi thì gặp một sư cô nói giọng Huế tên là Trang Nghiêm đang thư thả đi đi lại lại trên hiên lầu. Cô khuyên tôi ra khỏi nơi đây ngay, người ta sắp tấn công Mây Đầy Núi. Sắp bị tấn công mà cô bình thản như đang chờ khách đến thăm. Có lẽ cô cùng lứa tuổi với con gái tôi, cô tu được bao lâu rồi, cô an trú được điều ấy lâu chưa? Tôi quy y Phật với Hòa thượng Thích Đôn Hậu từ năm 1956, lúc ấy cô chưa ra đời nhưng lòng tôi giờ này vẫn đang vọng động. Vì kính phục đạo hạnh của sư cô, tôi xuống cầu thang đi ra ngỏ. Cửa ngõ chưa kịp khép lại, tiếng niệm Phật đồng thanh vang lên sau lưng tôi. Tôi biết lực lượng trấn áp của TT Đức Nghi đã ập vào Mây Đầu Núi. Nam mô A di đà Phật ! Thôi hết rồi! Lúc này chỉ còn biết niệm Phật mà thôi.

Tôi giả làm một “khách du lịch bụi”, “bị đau bụng bất ngờ nên phải bỏ dở cuộc thăm Thác Damri”. Tôi nhờ một em bé đang mua xăng ở cái quán bên đường gọi giúp tôi một chiếc xe ôm. Em ấy thấy tôi đau, ôm bụng nhăn nhó nên nhận lời. Một lúc có một người trạc tuổi năm mươi đi xe Honda 78 đến gặp tôi. Với giọng Bắc, anh bảo:

-“Em làm vườn trong TV Bát Nhã, hôm nay họ đang cưỡng chế các Thiền sinh của Làng Mai dữ tợn quá nên em nghỉ. Nghe thằng bé nói có ông già du khách đau bụng cần về Báo Lộc gấp nên em chạy ra đây, nhưng chiếc xe cà tàng của em sợ chở bác không ra đến Bảo Lộc được mà phải nằm lại dọc đường thì lôi thôi lắm. Nghe nói Công an, cảnh sát đang chốt nhiều nơi dọc đường…”
Tôi cố giấu sự lo lắng của mình, hỏi anh chàng xe ôm:

-“Thôi được. cám ơn anh. Tôi sẽ gọi taxi. Làm vườn cho TV Bát Nhã, anh có theo Đạo Phật không?”

-“Em là dân Thái Bình – cậu xe ôm đáp – nhưng theo Đạo Phật, nhà em thì theo Thiên chúa giáo. Mấy tháng nay, em thấy Đạo Phật của chùa Bát Nhã chửi bới Đạo Phật Làng Mai chợ búa quá, em chán bỏ Đạo Phật luôn”.

-“ Họ chửi bới như thế nào?”

-“Chửi bới như đám bụi đời ngoài chợ. Trong chùa ông Đức Nghi có nuôi bà Hường làm công quả. Bà này suốt ngày mở máy chửi các sư, các cô tu theo pháp môn Làng Mai không thiếu điều gì. Bà chửi “Làng Mai đến đâu, u sầu đến đó”, nhưng dân ở đây thì lại nói: Làng Mai đến đâu dân giàu đến đó”.

-“Dân giàu như thế nào?”.

-“Nhiều thứ. Trẻ em có mẫu giáo, có nhà trẻ Hiểu và Thương để học, người nghèo được giúp đỡ, có hàng ngàn hàng vạn khách đến tu, đến tham quan, dân chúng buôn bán phục vụ rất phát tài; đất Đam-ri trước đây vài trăm ngàn một mét chả ai thèm để ý, khi có đạo Phật Làng Mai về, mét vuông cả triệu bạc. Làng Mai mà dọn đi thì cái chùa Bát Nhã này chả còn ma nào đến nữa! Dân ở đây lại khó khăn như cũ”.

-“Anh làm vườn cho Tu viện Bát Nhã của TT Đức Nghi một ngày được bao nhiêu tiền?”

- Được 5 ký gạo thơm. Em đem về nhà 2 ký, 3 ký bán uống rượu. Chán quá!”.
Xe taxi đến, tôi chia tay anh xe ôm bất đắc dĩ. Cám ơn những thông tin chân thực anh vừa kể.

*
* *

Đúng như anh xe ôm nói, đường ra Bảo Lộc, mặc cho trời mưa công an cảnh sát chốt nhiều nơi. Đến một ngã ba, chiếc taxi chạy chậm lại, anh tài xế nói với tổ Cảnh sát “chở người bệnh” nên họ cho đi. Ra đến Bảo Lộc, tôi biết sự có mặt của tôi ở Bảo Lộc lúc này không có ích gì nên tôi sang qua xe Bus Phương Trang lên thẳng Đà Lạt. Thoát khỏi những bức xúc ở Bát Nhã. Nhưng trong tai tôi vẫn nghe âm vang tiếng niệm Phật của tăng thân Làng Mai ở Bát Nhã. Đến Đà Lạt, tôi trú tại nhà một người quen. Mệt, buồn ngủ nhưng tôi không ngủ được. Chốc chốc các bạn tôi ở Bảo Lộc lại gọi điện thoại báo cho tôi biết tinh hình 400 tăng thân Làng Mai đã bị cưỡng chế ra khỏi Tu viện Bát Nhã. Trong lúc tôi ngồi xe lên Đà Lạt thì các nam nữ Thiền sinh bị quản thúc giữa trời mưa lạnh và một số đã ra trú tại chùa Phước Huệ của TT Thích Thái Thuận. Phần lớn Thiền sinh nữ vẫn còn trú tại xóm Mây Đầu Núi gần Bát Nhã. Tôi được người bạn dành cho một cái chăn dày, tôi quấn chăn vào người mà vẫn thấy lạnh. Mong sao trời mau sáng.

Sáng hôm 28-9-2009, lên Nghĩa trang thắp hương cho mẹ rồi tôi vào thăm ngôi chùa mà anh em tôi định ký thác linh vị của mẹ tôi ở đó. Vào chùa, vị sư trụ trì từng xuống đường đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diêm kỳ thị tôn giáo năm 1963 hỏi tôi ngay:

- “Này ông cán bộ, các ông hết chuyện nói rồi sao mà đi dựng chuyện nói thầy Thích Nhất Hạnh là người ít tắm rửa, hôi hám đến nỗi các đệ tử của ông phải khênh ông đi tắm?”

Quá bất ngờ, tôi chưng hửng không biết trả lời vị trụ trì như thế nào cho phải đạo. Tôi lặng người, ngồi vào bàn uống nước rồi lần hồi hỏi đầu đuôi câu chuyện ra sao. Thầy cho biết chiều ngày 16-9-2009, Ban Thường trực UBMTTQ TP Đà Lạt triệu tập tất cả các vị trụ trì chùa Phật trên địa bàn Thành phố đến Hội trường Khối Mặt trận và các đoàn thể (31 ĐTH, P.2) phổ biến “một số tình hình Phật giáo trên địa bàn thành phố trong thời gian qua”. Vị trụ trì nghe Ban tôn giáo Thành phố phổ biến tình hình và ông Ban tôn giáo đã nói về Thầy Nhất Hạnh như thế”.

Dù tôi đã hưu trí trên mươi năm, nhưng cảm thấy nhục trước vị sư già. Dù tôi không lạ với trình độ, kiến thức thô thiển của giới cán bộ cơ sở, nhưng nghe cán bộ nói chuyện với hơn bốn chục vị trù trì chùa Phật về Sư ông Nhất Hạnh như thế thì quả là họ quá xúc phạm Sư ông Nhất Hạnh. Không chỉ xúc phạm Sư ông Nhất Hạnh mà còn xúc phạm các vị trụ trì chùa Phật ở Đà Lạt. Tôi hỏi nhà sư trụ trì:

-“Sao thầy không hỏi theo tài liệu nào mà cán bộ nói một vị Thiền sư nổi tiếng quốc tế như Thầy Nhất Hạnh lại có thể như thế? Mà Thiền sư Nhất Hạnh cũng đã về nước nhiều lần, biết bao Phật tử, cán bộ, lãnh đạo tiếp Thiền sư nhưng có ai nói như thế đâu!”

-“Thôi ông cán bộ ơi, các ông xem thầy tu chúng tôi là bọn con nít nên mới rao giảng với chúng tôi như thế. Hơi đâu mà đi hỏi cho thêm rắc rối!”.

Nói xong vị sư đưa cho tôi hai tài liệu mà ông đã được phát trong buổi họp hôm đó và bảo tôi:

-“Cầm lấy”.

Hai tài liệu này [1] tôi đã có từ lâu, nhưng vì nể ông nên tôi “cầm lấy” và cám ơn. Bỗng có một thanh niên tăng, mặt mày ủ dột bước vào, Thầy Trụ trì hỏi vị thanh niên tăng:

-“ Sao, chính quyền với công an Phường đến nói chuyện chi rứa?”

-“Bạch ôn, họ cho biết tiểu thương các chợ ở Đà Lạt đang làm áp lực với quý thầy, yêu cầu quý thầy cầm cờ để họ đi biểu tình phản đối chính quyền đánh đuổi các Thiền sinh tu theo pháp môn Làng Mai ra khỏi TV Bát Nhã ở Bảo Lộc. Chính quyền đến khuyên các chùa, chuyện chi còn có đó, xin hãy giữ im lặng để Thành phố được bình yên!”

Vị trụ trì than:

-“Các anh làm sao để cho Phật tử nên nông nỗi này, các anh!”.

Vị thanh niên tăng quay nhìn tôi và nói tiếp:

-“Làm thầy tu lúc này nhục quá bác ơi! Suốt ngày tôi trốn trong chùa chớ không dám ra đường. Cả một Giáo hội to lớn như thế mà để cho một mình TT Đức Nghi tung hoành, phá nát uy tín của Phật giáo như thế. Chuyện xưa nay chưa từng có!”.

- “ TT Đức Nghi tung hoành như thế nào, thưa thầy?” – Tôi hỏi.

- “Mô Phật, nghe nói bác là nhà nghiên cứu gì đó nổi tiếng lắm mà giờ đây còn hỏi TT Đức Nghi tung hoành ở TV Bác Nhã như thế nào nữa sao? Bác có dùng internet không? Hãy vào gu gồ mục từ “Thượng tọa Thích Đức Nghi” bác tha hồ mà đọc. Có phim, ảnh, tài liệu đủ cả!”.

Cách xưng hô và ý tứ lồng trong cuộc trao đổi của vị tăng trẻ giống như chúng tôi những năm sáu mươi của thế kỷ trước, trái ngược với phong cách ý tứ hòa nhẫn của các Thiền sinh ở TV Bát Nhã mà tôi đã gặp sáng hôm 27-9-09. Tôi mường tượng đến sự bức xúc của giới tăng trẻ ở Lâm Đồng hiện nay. Không rõ Đảng và chính quyền có biết sự bức xúc ấy không? Tự nhiên tôi cảm thấy buồn dã dượi. Tôi đảnh lễ bái biệt vị sư trụ trì và lặng lẽ rời Đà Lạt quê ngoại thứ hai của tôi.

Khi chiếc xe khách Mai Linh chở tôi sắp vào địa phận Thị xã Bảo Lộc, tôi điện thoại nhờ một thầy giáo thi sĩ ở Bảo Lộc đón tôi và hướng dẫn cho tôi vào thăm TT Thích Thái Thuận – Phó Ban Trị sự Phật giáo Lâm Đồng, Trụ trì chùa Phước Huệ. Anh bạn thơ của tôi thảng thốt đáp qua điện thoại: “Không được đâu. Anh không biết thầy đã bị côn đồ hành hung khi ông vào thăm Bát Nhã hồi cuối tháng sáu sao? Bây giờ 400 Thiền sinh bị xúc ra khỏi TV Bát Nhã đang tạm trú ở chùa Phước Huệ, chính quyền và công an ở Bảo Lộc đang lệnh cho thầy Thái Thuận phải đuổi các Thiền sinh ra khỏi chùa cho nên họ không cho mình vô đâu. Anh không nên ghé lại Bảo Lộc lúc này. Tình hình đang rất căng thẳng. Thôi nhé!”.

Tôi tắt điện thoại và có cảm tưởng tôi như một người đào ngũ đang chạy trốn.

Về nhà tôi ghi lại những gì tôi vừa chứng kiến, vừa nghe trực tiếp để so với những gì tôi đã truy cập được từ internet và lưu lại trong PC lâu nay. Mở Hồ sơ những cuộc bạo hành ở TV Bát Nhã, tôi xếp qua một bên những tin tức, những tường thuật của người này, của đài nọ, chỉ chọn in ra giấy những văn bản chính thức của chính quyền Trung ương và địa phương, của Giáo hội Phật giáo Trung ương và tỉnh Lâm Đồng, của Tăng thân Làng Mai ở Tu viện Bát Nhã, của TT Đức Nghi, v.v.

Với thực tế tôi đã nắm bắt được, đọc lại những văn bản chính thức dẫn trên, không làm cho tôi sáng tỏ vấn đề mà ngược lại chúng còn làm cho tôi khó hiểu thêm:

1/ Tại lễ Truyền đăng (còn ghi tại địa chỉ phapnanbatnha.org), trước Phật đài và Sư ông Thích Nhất Hạnh, Thượng tọa Đức Nghi nguyện thề:

“Kính bạch Sư ông, ngọn đèn hôm nay là chúng con nhận tại thiền đường xóm Thượng này, xin nguyện với Sư ông rằng: “Thà đốt ngọn đèn le lói còn hơn ngồi nguyền rủa bóng đêm”. Sẽ trở về Việt nam những nơi nào khó khăn chúng con đều đi đến, những nơi nào còn gặp nhiều khổ đau chúng con sẽ đi đến chúng con đem tình thương của Sư ông của đại chúng để làm đẹp cho cuộc đời. Mà nếu mai này, mai này chúng con không tồn tại trên thế gian này thì những người đệ tử của chúng con vẫn tiếp tục con đường đó, không có ai có thể đi ngược lại với con đường chúng con đã vạch sẵn“

Như thế, không ai hiểu ý thức chính trị và đánh giá cao giá trị Đạo Phật Làng Mai của Sư ông Nhất Hạnh bằng TT Đức Nghi. TT Đức Nghi rước Sư ông Nhất Hạnh về Bát Nhã, trước Phật đài, Thượng tọa dâng hiến đất chùa Bát Nhã cho Sư ông, Thượng tọa qua Pháp nhận Lễ Truyền đăng và nhận làm đệ tử của Sư ông, học pháp môn Làng Mai đem về thực hiện ở Bát Nhã. Ngày nay, nếu nhà nước cho rằng việc tu theo Pháp môn Làng Mai, ý thức chính trị của Sư ông Nhất Hạnh có hại cho chế độ hiện hành thì người chịu trách nhiệm trước tiên với Nhà nước không ai khác là TT Đức Nghi – Viện chủ TV Bát Nhã. Nhưng không hiểu vì sao cho đến nay pháp luật Việt Nam chưa hề đả động gì đến Thượng tọa Đức Nghi mà chỉ quan tâm đến việc đăng ký tạm trú của 400 thanh thiếu niên Việt Nam ở TV Bát Nhã và nay ở chùa Phước Huệ Bảo Lộc mà thôi?

2/ Bản tường trình và báo cáo khẩn cấp vụ việc hành hung phái đoàn Ban Trị sự GHPG Lâm Đồng xảy ra ngày 29/06/2009, tại tu viện Bát Nhã, thị xã Bảo Lộc, Tỉnh Lâm Đồng (số: 68 /BC/BTS), viết rằng:

“1. Phái đoàn Ban Trị sự đến thăm tu viện Bát Nhã để xem xét tình hình và nắm bắt tình hình cụ thể tại Tu viện Bát Nhã, là cơ sở trực thuộc của Giáo hội mà TT. Đức Nghi lại cho một nhóm người hung hăng dữ tợn tấn công BTS bằng gậy gộc, đá, phân hầm cầu, cố ý bức tử Ban Trị sự.

2. Việc bạo hành tàn ác này không phải là sự việc ngẫu nhiên mà là có âm mưu chuẩn bị từ trước nhằm đánh Ban Trị sự, Chư Tôn đức lãnh đạo Phật giáo Lâm Đồng. Hành vi này là coi thường kỷ cương pháp nước, xâm phạm đến nhân phẩm, sức khoẻ, xúc phạm đến Chư Tôn giáo phẩm trầm trọng. Đây là nỗi đau xót, nhục nhã hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam

3. Việc bạo hành đã và đang xảy ra tại Tu viện Bát Nhã từ trước đến nay, TT. Thích Đức Nghi, Thích Đồng Hạnh và đồng bọn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước luật pháp nhà nước và giáo luật của Giáo hội “ (NĐX nhấn mạnh)

Tội của TT Đức Nghi đã quá rõ ràng như thế, được tổ chức cao nhất của Giáo hội PG Lâm Đồng tường trình với Nhà nước, với Chính phủ, với các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương như thế mà các cơ quan chức năng của nhà nước và GHPG ở Trung ương, suốt trong hơn ba tháng qua chưa hề đả động gì đến TT Đức Nghi và đồng bọn? TT Đức Nghi là ai mà được sống ngoài pháp luật và Giáo luật như thế? Là ai mà được tự do thực hiện luật rừng đối với BTS GHPG Lâm Đồng, với 400 Thiền sinh tu theo Pháp môn Làng Mai chỉ biết tự vệ bằng niệm Phật như thế?

3/ Tất cả các cuộc bạo hành do thầy trò TT Đức Nghi tiến hành ở Tu viện Bát Nhã từ tháng 6 đến nay đều có sự chứng kiến của công an cảnh sát địa phương. Công an cảnh sát là những người có nhiệm vụ trấn áp tội phạm bảo vệ dân lành, tại sao các anh lại không ngừng phối hợp với tội phạm mang tên Thích Đức Nghi? Hay Thích Đức Nghi là người của …?

4/ Công an, cảnh sát là lực lượng thi hành pháp luật, chính đại quang minh, thế lực lượng công an cảnh sát của địa phương đi đâu mà không tham gia vào việc cưỡng chế 400 Thiền sinh ở tu viện Bát Nhã mà lại đi dùng đến những thành phần ô hợp xã hội đen? Hành xử như thế các anh có biết là tiếp tay cho bọn chống phá Việt Nam bôi nhọ chính quyền ta không?

5/ Chuyện phát biểu của Sư ông Nhất Hạnh không thuận với Nhà nước VN là chuyện của Sư ông và Nhà nước, việc tu hành của 400 thanh thiếu niên theo Môn phái Làng Mai không có biểu hiện gì liên quan đến sự không thuận ấy, không có bất cứ biểu hiện gì “nguy hại” đến an ninh, chính trị cấp thời ở địa phương cả, thế vì sao tỉnh Lâm Đồng lại tiến hành việc cưỡng chế gấp rút giữa ngày mưa gió lạnh lẽo ảnh hưởng của Bão số 9 như thế?

6/ Chính quyền Lâm Đồng, TX Bảo Lộc, công an địa phương qua các phương tiện phát thanh, qua các cuộc phổ biến thời sự ở địa phương, luôn xác định “Việc rắc rối xảy ra ở TV Làng Mai là chuyện nội bộ của Phật giáo”. 400 Thiền sinh tu theo Pháp môn Làng Mai ở TV Bát Nhã là đệ tử của TT Đức Nghi – Phó Ban Trị sự GHPG Lâm Đồng, dù TT Đức Nghi đã bỏ rơi họ, nhưng họ vẫn là một bộ phận của Phật giáo ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Tại sao chính quyền cưỡng chế 400 người xuất gia theo Phật ấy không có mặt bất cứ một đại diện BTS GHPG TX Bảo Lộc hay của tỉnh Lâm Đồng nào cả?

7/ Khoản 4, trong Bản tường trình ngày 12-8-2008 dài 18 trang, do các các vị Thích Chân Pháp Khâm, Thích Chân Trung Hải, Thích Nữ Chân Thoại Nghiêm, Thích Nữ Chân Phúc Nghiêm viết và gởi lên Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo tỉnh Lâm Đồng, Ban Đại diện Phật giáo Thị Xã Bảo Lộc, việc xây dựng cơ sở ở TV Bát Nhã và tiền mua đất và xây dựng Xóm Mây Đầu Núi bên cạnh Tu viện với tổng số tiền là: 12tỷ 509 triệu+ 2tr800 triệu+ 3tỷ 370 triệu = 18 tỷ 679 triệu (hơn 1 triệu USD). Các cơ sở xây dựng xóm Rừng Phương Bối, xóm Bếp Lửa Hồng, xóm Mây Đầu Núi, và Thiền đường Cánh Đại Bàn là tài sản của Tăng thân Làng Mai. Trước khi trục xuất 400 người chủ của các cơ sở ấy ra khỏi nhà của họ, Chính quyền địa phương và TT Đức Nghi đã có phương án xử lý số tài sản hơn 1 triệu USD ấy như thế nào chưa?

8/ Cho thực hiện việc cưỡng chế 400 Thiền sinh ra khỏi Tu viện Bát Nhã bằng biện pháp bạo hành dẫn trên, lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng hẳn đã hiểu rõ việc làm của mình. Vậy, kính mong các đồng chí giúp cho người cầm bút già này được biết (để viết lịch sử) việc bạo hành của những người thừa hành các đồng chí thực hiện ở TV Bát Nhã vừa qua có khác gì với những bạo hành mà chế độ Ngô Đình Diệm thực hiện để đàn áp Phật giáo năm 1963 như thế nào không (về hình thức lẫn nội dung)? (Nếu không khác thì giới sử học VN phải rất khó khăn khi viết Lịch sử chế độ Diệm. Kính mong các đồng chí hãy cứu giới nghiên cứu chúng tôi).

Còn nhiều điều cần phải được giải thích nữa, nhưng bài viết đã quá dài tôi không tiện nêu ra thêm. Nếu được các cấp quan tâm, tôi sẽ nêu tiếp trong những bài sau.

Về chế độ thì tôi đã hưu trí trên mười năm, nhưng với trách nhiệm của người cầm bút cách mạng thì tôi vẫn còn đứng vững trên mặt trận văn hóa tư tưởng bảo vệ đất nước và dân tộc. Để tôi có thể tiếp tục tự hào về cuộc đời mình đã góp phần xây dựng nên một xã hội “công bằng, dân chủ, văn minh”, để khi cầm bút tôi không bị vướng bận gì, kính mong các cơ quan chức năng ở Trung ương, Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam giải thích giùm tôi những câu hỏi trên. Nếu không được quý vị quan tâm thì niềm tin về Đảng, về GHPG VN ở cuối đời của tôi sẽ giã từ tôi. Rất kính mong.

Gác Thọ Lộc, tháng 10-2009.

Nguyễn Đắc Xuân [2]

Chú thích:

[1] Tài liệu 1: Ý kiến của Ban Tôn giáo Chính phủ v/v hoạt động tôn giáo của Làng Mai (nước Pháp) tại Việt Nam, số 1329/TGCP-PG, ký ngày 29-10-2008, Tài liệu 2: Thông báo Kết luận vấn đề Tu viện Bát Nhã – Thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng của Ban TT Hội đồng Trị sự GHPGVN, Văn phòng 2, số 037/CV/HĐTS, ký ngày 19-01-2009.

[2] Để những người có trách nhiệm trong việc giải quyết những bạo hành ở TV Bát Nhã và độc giả gần xa hiểu rõ hơn về nhân thân tác giả bài viết này, tôi xin tự giới thiệu vài nét sau đây: Tôi sinh năm 1937, nay gần 73 tuổi (có 15 năm thơ ấu ở Đà Lạt), xuất thân từ Phong trào đấu tranh chống Chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo (1963), có 3 năm tranh đấu ở đô thị (1963-1966), có 9 năm tham gia kháng chiến chống Mỹ (1966-1975), 36 tuổi Đảng (1973-2009), Hội viên Hội Nhà văn VN, hội viên Hội KH Lịch sử VN, trước khi hưu trí (7-1998) có 5 năm làm Trưởng Văn phòng báo Lao Động ở miền Trung và Tây nguyên (1993-1998), hiện nay là nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử, thành viên của Hội đồng khoa học Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, CTV đặc biệt của báo Hồn Việt (62 Trần Quốc Thảo, Q.3, TP HCM), chuyên gia về Nguyễn Huệ-Quang Trung ở Huế, chuyên gia nghiên cứu về Thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế, đã xuất bản gần 50 đầu sách văn hóa lịch sử Huế, đang viết lịch sử cuộc Vận động của Phật giáo chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Đình Diệm (1963), lịch sử của Phong trào đấu tranh yêu nước ở đô thị, Phong trào Văn thơ âm nhạc vận động hòa bình những năm 1964-1966 tại miền Nam VN. Thường trú ở Huế, một nửa thời gian sống ở TP HCM. Mọi liên lạc qua e-mail: gactholoc@yahoo.com. Nếu có độc giả nào muốn biết thêm về tôi, về những gì tôi đã viết xin vào các trang web sau: sachhiem.net, giaodiemonline.com, dongduongthoibao.net, nhandanvietnam.org, http:/honvietquochoc.com.vn.

Vài hình ảnh:


Đốt sách. Hình ảnh gọi nhớ đến sự kiện xảy ra vào thế kỉ 15 khi tướng Tàu là Trương Phụ xâm lăng nước ta và đốt sách Phật giáo đời Lý Trần ở nước ta



Tượng Bông hồng cài áo bị phá
(Ảnh: Nguyễn Đắc Xuân)

Thượng tọa Thích Thái Thuận bị hành hung vào nhập viện
(Ảnh: Nguyễn Đắc Xuân)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2009

Nhật kí Saudi Arabia 2. Việt Nam - Hồ Chí Minh

Tôi đến phi trường Jeddah lúc 7:30 pm, và lại có thêm kinh nghiệm một phi trường Ả rập khác. Phi trường Jeddah cũng rộng mênh mông, không kém phi trường Changi (Singapore), nhưng đương nhiên là ít máy bay và ít tấp nập hơn phi trường Changi. Cũng như phi trường Abu Dhabi, phi trường Jeddah cũng mang dấu ấn của một nước nghèo: lượm thượm, nhếch nhác, và đường băng kém chất lượng. Xe cộ đậu vòng phi trường một cách chẳng có thứ tự nào cả. Phi đạo gồ ghề. Máy bay taxi một vòng mà lâu lâu thì nghe “cụp” một cái, cứ như là bị … ổ gà. Thật ra thì không phải ổ gà, mà do chất lượng xây dựng kém nên những mảnh bê tông nối nhau không tốt nên dẫn đến tình trạng ghồ ghề như thế. Phi trường không có những xe ống đón khách tận máy bay tại nhà ga. Thay vào đó, máy bay phải đổ ở ngoài phi đạo rất xa với nhà ga, và có xe bus chở hành khách vào nhà ga. Từ chỗ máy bay đáp đến nhà ga đi xe bus cũng phải tốn khoảng 10 phút (chứ không phải chỉ 1,2 phút như ở Tân Sơn Nhất). Trên đường vào nhà ga, tôi lại thấy những nhếch nhác của phía ngoài phi trường này. Những cảnh tượng ban đầu này làm tôi thấy hơi nản lòng khi đi công tác ở cái nước có tiếng là giàu có này.

Nhà ga của phi trường Jeddah cũng hỗn độn và nhếch nhác, và chắc chắn là tồi hơn Tân Sơn Nhất. Thật ra, so sánh như vậy không công bằng, vì TSN ở một đẳng cấp khác với nhà ga Jeddah. Đó là một building tương đối mới, kiến trúc đặc thù Hồi giáo, và được thiết kế theo kiểu tiết kiệm năng lượng. Phía trong nhà ga chỉ có lác đác vài hàng quán bán đồ lưu niệm, đồ gia dụng, và nước ngọt giải khát. Khó tưởng tượng nổi đây là nhà ga của phi trường thuộc một thành phố lớn của Saudi Arabia !

Nhân viên hải quan ở đây cũng lạnh lùng và không thân thiện. Trong nhà ga, nhân viên an ninh và hải quan với trang phục quân đội (có người còn đeo súng) đi vòng nhà ga, quét những tia nhìn tò mò vào hành khách như nghi ngờ có kẻ gian. Tôi đến quầy hải quan làm thủ tục thì thấy có khoảng 10 quầy nhưng chỉ có 2 người đang uể oải làm việc. Tôi đứng xếp hàng chờ đến phiên mình. Dù chỉ có 5 người phía trước tôi, nhưng phải tốn hơn 10 phút mới đến lượt tôi làm thủ tục hải quan. Trên mỗi quầy hải quan là một cái máy chụp hình digital hiệu Canon (có lẽ do low tech nên họ không có những máy hiện đại như bên Mĩ) sẵn sàng chụp hình hành khách khi cần thiết. Anh nhân viên hải quan, khoảng 30 tuổi, râu ria xồm xoàng, đón nhận passport và giấy tờ hải quan, rồi nhìn mặt tôi để so sánh với hình trong passport mà không nói gì. Anh ta chưa vội scan passport, mà bỏ ra vài chục giây để đọc passport của tôi. Có lẽ thấy tôi đề nơi sinh là Việt Nam nên anh ta hỏi bằng một giọng tiếng Anh lơ lớ nhưng nghe được: ông đến từ Việt Nam hả? Tôi nói: không, tôi đến từ Sydney, nhưng tôi sinh ra ở Việt Nam. Anh ta cười, dơ ngón tay trỏ tỏ ý nói “Number One” rồi nói: Việt Nam – Hồ Chí Minh hả ? Tôi cũng cười nói: Vâng, nhưng ông cụ ấy qua đời cả 40 năm rồi. Anh ta không nói gì tiếp, mà scan passport rồi đóng mộc cái cụp, trả lại giấy tờ cho tôi để ra ngoài nhận hành lí. Chẳng nói chẳng rằng gì cả. Thấy vậy, tôi cũng chẳng thèm chào khi từ biệt anh ta. Thủ tục hải quan tốn gần 5 phút, mà đáng lẽ chỉ nên tốn 30 giây như ở Singapore. Tôi thấy hình như ở các nước chậm tiến, những nước có nền chính trị bảo thủ, thì thủ tục hải quan chậm chạp, và con người làm việc thì lề mề, vô cảm cứ như là cái máy, rất thiếu thiện cảm.

Khu lấy hành lí là một cảnh tượng khó tin: người ta hút thuốc thoải mái. Thật vậy, khu hành lí đã hẹp, mà người thì đông đúc và chen chúc nhau, nên cảnh tượng trông rất hỗn độn. Người dân ở đây cũng chẳng có ý thức gì mấy, họ chen chân chạy đi lấy hành lí như sợ bị ai lấy trộm. Tiếng gọi ơi ới khi tìm được hành lí giống như là báo tin vui cho bè bạn hay bà con biết hành lí chưa bị thất lạc! Nhìn cảnh tượng này tôi thấy sao mà giống như cảnh ở phi trường Việt Nam quá. Chẳng lẽ dân mình lại xếp hạng ngang hàng với mấy người Ả rập này?

Lấy xong hành lí tôi nhanh nhẹn ra ngoài để về khách sạn thì mới biết tên mình đã bị đổi. Phía ngoài phòng chờ của nhà ga là hàng trăm người đang đón chờ thân nhân, phần lớn là đàn ông, chứ rất rất ít phụ nữ. Một “đội quân” khác thì trương bảng tên tìm kiếm đối tác hay người mà họ được ủy nhiệm đi tìm. Theo kế hoạch, có người đưa limousine ra đón tôi ở đây. Tôi nhìn qua những bảng tên này mà không thấy tên mình. Nhìn một lần nữa cũng không thấy. Tôi ra ngoài định đi taxi, thì hàng tá tài xế taxi, ông nào cũng mặc áo thụng màu trắng râu ria xồm xoàng, đến chào đón đi taxi của họ. Tôi rất ghét cảnh chào đón này nên cứ trả lời nhát gừng là tôi chờ người quen. Ấy thế mà họ không để tôi yên, cứ lẽo đẽo theo sau chào đón đi taxi! Trời ơi, đây là văn hóa taxi ở Saudi Arabia sao? Tôi quyết định đi một vòng để tìm tên mình một lần nữa. Lần này thi tôi thấy một người dơ cao bảng “Welcome Prof. Tuanvan NQUYEN”. Chắc chắn là tôi chứ còn ai nữa. Tôi nhủ thầm: họ chưa nấu nồi chè mà đã dám đổi tên do Ba Má tôi đặt cho! Còn cái họ nổi tiếng của Việt Nam cũng bị đổi! Mà thôi, trách gì mấy loại nhầm lẫn này. Tôi đến bên anh ta và tự giới thiệu tôi là người anh đang đi tìm. Anh ta vui mừng bắt tay, và nhất định tiếp tôi một tay đẩy hành lí ra xe.

Chúng tôi ra ngoài bãi đậu xe. Mới bước ra ngoài nhà ga, cái nóng đã hắc vào người rất khó chịu. Tôi hỏi anh tài xế hôm nay bao nhiêu độ, anh ta nói: ồ, hôm nay nhiệt độ mát mà, bây giờ chỉ có 35 độ C thôi. Trời ơi! Vậy mà anh ta dùng chữ “cool” (mát) và “only 35 degrees”.

Nói là xe limousine cho oai, chứ thật ra chỉ là chiếc Mercedes dài, chắc cũng 10 tuổi, chứ không giống như limousine thứ thiệt. Nhưng xe rất tiện nghi. Mới lên xe, anh ta đã làm thủ tục: tự giới thiệu tên anh ta, làm cho ai, rồi kéo ra cái khăn lau mặt cho tôi, cộng thêm một chai nước lọc, nói là … chào mừng. Anh này lái xe rất cẩn thận, và trên đường về khách sạn chúng tôi có một buổi trò chuyện hết sức thú vị. Anh này là người Ấn Độ, mới làm việc ở đây được 7 năm. Anh ta nói chỉ làm thêm 3 năm nữa, kiếm đủ tiền là anh ta về Ấn Độ làm business chứ không ở cái xứ này đâu. Sao vậy? Anh ta nói cái xứ này chẳng có gì hấp dẫn anh ta cả. Anh ta chê dân Saudis lười biếng và không chịu học hành. Anh ta chỉ ra rằng 75% công nhân ở đây là người ngoại quốc. Hầu hết các kĩ sư xây dựng và chuyên gia công nghệ thông tin là người Á châu. Ngay cả các giáo sư đại học cũng là người nước ngoài. Anh cho biết nếu tất cả “đội quân” nước ngoài đồng loạt rút về nước thì cái xứ Saudi Arabia này sẽ sụp trong vòng 1 ngày.

Khách sạn Intercontinental

Bộ Giáo dục sắp xếp cho tôi ở khách sạn Intercontinental. Đây là lần thứ 3 tôi tạm trú trong khách sạn thuộc tập đoàn Intercontinental. Lần thứ nhất ở bên Mĩ, lần thứ 2 ở Hà Nội (Hồ Tây), và lần này thì ở Jeddah. Mỗi nơi có kiến trúc khác nhau, nhưng tôi nghĩ Intercontinental ở Hà Nội là đẹp nhất, lịch sự nhất trong 3 nơi tôi đã ở qua.

Ở Saudi Arabia, an ninh là điều rất quan trọng, nhất là ở các khách sạn lớn. Tôi đến khách sạn Intercontinental khoảng 8 giờ tối. Tôi ngạc nhiên (nhưng anh tài xế thì chẳng ngạc nhiên) khi thấy đường vào khách sạn được thiết kế rất ngoằn ngoèo, và ngay tại cổng vào khách sạn có một cái barrier (vật cản) và cái lô cốt với 2 người lính gác trong đó, tôi nói với anh tài xế là chắc họ đang xây gì hả, mình phải tìm hướng khác đi chứ. Anh tài xế cười nói: không phải đâu, đó là barrier tự động. Anh tài xế mở cốp sau của xe, một người lính mang súng nhanh nhẹn đến khám và nhìn chúng tôi, rồi nhấn cái nút để vật cản đó xuống hầm, và xe chúng tôi tiến vào cổng chính của khách sạn. Chưa hết, vào đến khách sạn lại là một ngạc nhiên. Ngay tại đại sảnh khách sạn, họ có cái máy scan X quang (y như ở phi trường), và khách phải để hành lí của mình để máy quét nhìn xem có gi nguy hiểm hay không. Sau đó, mới đi check-in. Sự việc xảy ra cứ như là theo kịch bản của phim James Bond 007 !

Mới nhận phòng xong và đang loay hoay bày biện quần áo cho buổi làm việc ngày mai thì đã có người gõ cửa phòng. Tôi ngạc nhiên mở cửa thì thấy người tiếp viên đưa cái cặp táp màu đen và nói “This is for you” (cái này dành cho ông)! Tôi càng ngạc nhiên hơn và thấy hơi nghi ngờ, chưa dám đưa tay nhận, và nói: không phải, tôi không có cái này và cũng không biết ai đưa tôi cái này, coi chừng họ bom thì sao :-). Nhưng người tiếp viên quả quyết nói: không, đây là quà dành cho ông từ Bộ Giáo dục. À, thì ra là thế. Tôi nhận cái cặp táp và tò mò mở ra xem cái gì trong đó thì thấy một đống tài liệu cho buổi làm việc ngày mai, cộng với cái plaque của Bộ Giáo dục đề tặng tôi. Tôi hơn ngạc nhiên là mình chưa làm gì cả, mà sao họ lại tặng tấm plaque này? Ôi biết nói với ai bây giờ, của thiên hạ đưa thì cứ nhận trước rồi sẽ tìm câu trả lời sau.

Không đầy 30 phút sau, Tiến sĩ DS gọi điện hẹn tôi đi ăn tối và cùng bàn phương án cho buổi làm việc ngày mai. Nhóm của chúng tôi gồm có 5 người: DS là trưởng đoàn (và cũng là người đứng ra nhận trách nhiệm tổ chức chuyến đi này); Tiến sĩ DF là người Úc, một chuyên gia về tổ chức khoa học và quản lí dự án; Giáo sư ME, người Mĩ, chuyên gia về loãng xương và di truyền (cùng chuyên môn với tôi); Giáo sư RF, người Anh, chuyên gia về bệnh xương khớp; và tôi người Úc gốc Mít.

DS đã chọn sẵn một nhà hàng gần khách sạn, nên chúng tôi cũng chẳng đi đâu xa. Nhà hàng thuộc loại bậc trung, không phải loại “bình dân” nhưng cũng không hẳn là “up market”, trang trí xem tàm tạm được nhưng không có gì gây ấn tượng. Đến phần thức ăn là một cực hình cho tôi, bởi vì tôi biết thức ăn Ả Rập rất ngọt và mùi vị tôi không thể nào thích hợp được. Thật vậy, khi menu đem ra và nhìn qua các món thì đúng như tôi dự đoán, toàn những món tôi không thích. Lòng dạ thì héo hon, dù ngoài mặt vẫn cười nói vui vẻ. Tôi không biết kêu món nào, đành phải chọn món cá nướng với salad. Hóa ra món này cũng không đến nổi tệ, nhưng nếu cho điểm thì chắc tôi sẽ cho 2/10. Một lần nữa, tôi thấy thèm món ăn Việt Nam làm sao, vừa ăn mà vừa tưởng tượng như mình đang ăn trong một nhà hàng ở Sài Gòn! Phải tưởng tượng như thế để … thưởng thức, chứ không thì mệt lắm. Ở Saudi Arabia không có bán bia rượu hay bất cứ thức uống nào có alcohol. Các đồng nghiệp tôi gọi một loại “bia” (tên gì tôi quên rồi) không có alcohol nhưng màu thì giống như bia. Tôi cũng bắt chước gọi một lon, và không cách nào uống hết một li! Loại nước gì rất lạ lùng, bia không ra bia (đương nhiên) mà nước cũng chẳng ra nước. Vì thế, ăn nhà hàng này thật là chán. Chẳng phải riêng gì tôi, những đồng nghiệp Tây phương cũng nói y chang như thế. Riêng DS thì đã quá quen với xứ sở này nên ông ta chỉ nhìn chúng tôi mỉm cười thông cảm.

Vừa ăn uống, chúng tôi vừa bàn phương án đi duyệt (hay nói chính xác hơn là thanh tra) ngày mai. Theo chương trình do DS đề nghị thì ngày thứ nhất là ngày của phía trung tâm CEOR, và ngày thứ hai là ngày của chúng tôi. Ngày thứ nhất, ban giám đốc của CEOR và các trưởng bộ môn sẽ báo cáo cho chúng tôi biết họ đã làm được gì, khó khăn ra sao, và định hướng trong tương lai là gì. Trong ngày thứ hai, chúng tôi sẽ dựa vào báo cáo của họ cộng với thanh tra cơ sở lâm sàng và phòng thí nghiệm (lab) để đưa ra những nhận xét và đề nghị. (Tôi sẽ nói qua trung tâm và nhận xét của tôi trong một phần sau). Theo kinh nghiệm của DS thì đoàn cần có 1 người trưởng nhóm và một phát ngôn viên (spokesperson). Ông ta nói vì ông ta là người được Bộ Giáo dục Saudi Arabia giao nhiệm vụ làm trưởng đoàn thanh tra nên ông ta đương nhiên là … sếp. Còn người phát ngôn ? Sau một hồi bàn qua tán lại, họ đồng ý giao cho tôi đóng vai trò đó, vì họ nói tôi có vẻ ngoại giao hơn họ. Nhiệm vụ của người phát ngôn là tổng kết các ý kiến của thành viên trong đoàn và trình bày lại cho ban giám đốc trung tâm CEOR và đại diện của Bộ Giáo dục.

Cái khổ của đi công tác xa là sự khác biệt giờ giấc. Thật vậy, vì giớ giấc đảo lộn giữa Sydney, Singapore rồi Jeddah, nên đêm đó tôi chỉ chợp mắt được vài giờ và phải thức suốt. Tôi tranh thủ đọc tài liệu để nắm vấn đề kĩ hơn. Chờ đến sáng để đi tắm ở hồ bơi, và đi ăn sáng. Mới 6 giờ mà nhiệt độ đã hừng hực (tôi đoán phải trên 30 độ), nên xuống hồ tắm rất thú vị. Càng thú vị hơn khi cả hồ tắm mênh mông chỉ có vài người, toàn là người Tây!

Đi nhiều nơi và ở nhiều khách sạn, nhưng buổi ăn sáng tại khách sạn này có lẽ tôi sẽ khó quên trong đời. Phòng ăn sáng cũng như bao nhiêu khách sạn upmarket khác, tức cũng lịch sự và bố trí khá hoa hòe, nhưng món ăn thì rất khác. Đi dạo một vòng tôi thấy họ có 2 khu thức ăn sáng: một khu dành cho người Ả Rập, và một khu dành cho người phương Tây hay ngoại quốc. Người theo đạo Hồi không ăn thịt heo, nên hai khu đều không có món thịt heo. Tuy nhiên, tôi để ý món “Beef Bacon” trong khu dành cho khách Tây. Từ hồi nào đến giờ, tôi chỉ biết món “bacon” (tức là món thịt ba rọi nướng khói) nhưng lần này thì có món thịt bò … ba rọi ! Tôi cũng thử cho biết, nhưng không thích chút nào cả. Chẳng có món nào là ngon cả. Tôi đành chỉ ăn trái cây và uống cà phê, chứ không thể nào chịu nổi mấy món của người Ả Râp.

(Còn tiếp)

Tiếng Anh bài 7. Đại danh từ

1. Sử dụng đại danh từ cho chủ thể con người và vật thể

The qui ước tiếng Anh, it và its là đại danh từ (pronoun) được sử dụng trước một chủ thể là vật (không phải con người). Tuy nhiên, một số động vật mà giới tính đóng vai trò quan trọng hay động vậy quen thuộc với con người (như chó, mèo) thì có thể gọi là he hay she.

Những đại danh từ tương đối (relative pronoun) như who, whom, that đề cập đến những chủ thể con người hay động vật quen thuộc với con người; còn which và that thì sử dụng cho các chủ thế không phải là con người.

Ví dụ: He is once of those who know all too well that the memories that move us fade all too fast. (Those là chủ thể con người của who; memories là chủ thể không phải con người của that).

That có thể sử dụng cho cả con người và không phải con người. Nhiều người viết giỏi thường sử dụng that để thay thế cho who, which. Tuy nhiên, một qui ước chung là that nên sử dụng trong mệnh đề xác lập “căn cước” của chủ thể, còn who và which thì sử dụng cho những chủ thể mà chúng ta đã biết.

Ví dụ: A man that drinks and drives a car that has faulty brakes does not think much of his wife, who must sit at home listening to the sounds of night traffic. (Man và car là chủ thể cần được nhận dạng; còn wife là chủ thể đã được nhận dạng bằng who.)

2. Sử dụng đại danh từ như là một mệnh đề tham khảo

Khi chủ thể của một đại danh từ bị loại bỏ, câu văn có thể rất khó hiểu và không rõ ràng. Ví dụ:

Instead of setting a total fee, the doctor charged $20 a month until the work was completed, which the medical profession considers unethical.

Trong câu này, rất khỏ biết đại danh từ which đề cập đến cái gì. Do đó, câu văn có thể viết lại rõ ràng hơn bằng cách thêm vào một chủ thể cụ thể như sau:

Instead of setting a total fee, the doctor charged $20 a month until the work was completed, an arrangement that the medical profession considers unethical.

Hay như trong câu văn sau đây mang tính “ngụ ý”:

My father wants me to be a doctor, but this is a profession that does not appeal to me.

Vì không biết this đề cập đến chủ thể gì. Có thể sửa lại như sau:

My father wants me to be a doctor, but medicine is a profession that does not appeal to me.

Một ví dụ khác về sử dụng đại danh từ không rõ ràng:

I have visited Benson College, but I do not want to go there because they are snobs

They là ai? Có lẽ người viết muốn nói đến sinh viên của trường:

On my visit to Benson College, I soon found out that the students are snobs. That’s why I do not want to go there.

3. Sử dụng đại danh từ cho nhiều chủ thể

Khi một đại danh từ đề cập đến nhiều chủ thể, câu văn có thể khỏ hiểu. Một cách làm cho câu văn dễ hiểu hơn là đặt đại danh từ gần chủ thể mà người viết muốn đề cập đến.

Không rõ ràng: Everybody could see that she was a beautiful little girl who looked closely. Trong câu này chúng ta không biết who đề cập đến everybody hay là girl).

Có thể sửa lại rõ ràng hơn: Everybody who looked closely could see that she was a beautiful little girl.

Nếu là người giàu ngữ vựng câu văn trên còn có thể sửa lại “văn hoa” hơn:

An observant person could see that she was a beautiful little girl.

Một ví dụ khác về sử dụng đại danh từ cho nhiều chủ thể:

Mù mờ: The doctor told him that he ought to take a vacation. (Him đề cập đến ai? Bệnh nhân hay là doctor?)

Câu văn có thể sửa lại tốt hơn:

The doctor said to him, “You I really ought to take a vacation.”

Hay, tốt hơn nữa:

The doctor advised the patient to take a vacation.

NVT

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2009

Đại học tư thục và những sự áp đặt

Hôm trước tôi thấy bài này do một phóng viên ghi chép lại những phản ảnh của anh Huỳnh Hữu Tuệ (Đại học tư thục và những sự áp đặt). Những phản ảnh và nhận xét hết sức … sống động. Xin trích vài câu:

“Thứ nhất, về chuyện áp đặt chương trình khung. Thử đặt vấn đề Bộ có đủ chuyên viên để viết hết các chương trình không, hay giao cho một chuyên viên viết? Mặt khác, một chuyên viên có viết nổi một chương trình đào tạo ĐH không?”

Đúng quá. Đọc đoạn này tôi mới biết là Bộ GDĐT ôm đồm đến nổi đòi soạn chương trình cho giáo dục đại học. Trời ạ! Có lẽ các quan chức không có chuyện gì làm nên mới tiêu thì giờ làm cái “chuyện không thể” như thế?

“Để “phản biện” chương trình của chúng tôi, phải là những người có chuyên môn cao mới đủ sức thẩm định. Đằng này, ban kiểm soát xuống nhìn, nói chương trình thiếu cái này cái nọ, thêm cái này cái kia. Làm việc như thế, về mặt khoa học rất lệch lạc. Nếu thẩm định về vốn đầu tư, về lực lượng cán bộ, là một nhẽ; nhưng thẩm định về giá trị của một chương trình, thì cần phải nghiêm túc hơn rất nhiều.”

Chính xác như thế. Tôi muốn thêm là cần phân biệt giữa góp ý và phản biện. Ai cũng có thể góp ý, nhưng không phải ai cũng có khả năng phản biện. Chỉ có người trong ngành nghề mới có khả năng và kiến thức để đánh giá và phản biện một chương trình đào tạo.

“Thứ hai, về cơ cấu tổ chức, cũng có sự can thiệp khá sâu. Cái này tôi hoàn toàn không hiểu. Đã cho trường tư thục hoạt động, lại hoạt động như một công ty kinh doanh, tại sao Hiệu trưởng của một trường đại học tư thục phải được Bộ công nhận?”

Thói bao cấp! Trời ơi, đọc đến đây sao tôi thấy nản quá. Chẳng có gì gọi là “đổi mới” cả. Hay là họ đòi phải có đảng viên? Nhưng là đại học tư thì chắc tiêu chuẩn này đâu cần thiết. “Công nhận” có nghĩa là gì? Nhưng dù là gì đi nữa, thì việc dành quyền “công nhận” là Bộ quá xem thường hội đồng quản trị của trường.

“Trong quá trình cải cách hành chính, tôi nghĩ Bộ nên giải phóng nhiều hơn nữa những cơ chế mà chuyên viên của Bộ đã đặt ra. Đã là một tổ chức tư nhân, thì mọi quyết định về tổ chức, về nhân sự phải do chính Hội đồng quản trị của tổ chức đó chịu trách nhiệm.”

Đồng ý 100%. Xu hướng của thời đại hiện nay là tự chủ, tự quản. Ngay cả những nước có truyền thống quản lí tập trung như Singapore, Nam Phi mà họ cũng phải công nhận cơ chế tự quản có hiệu quả hơn nhiều cơ chế của Việt Nam hiện nay. Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về vấn đề này, chẳng cần nhắc lại làm gì. Điều này một lần nữa cho thấy Bộ GDĐT có vẻ lạc hậu so với lề lối quản lí đại học trên thế giới.

“Trong xã hội mình, bất cứ tình huống nào cũng tìm được cái sai. Với “cái sai” đó, người ta có thể trừng phạt mình bất cứ khi nào.

Sai ở chỗ nào ư? Ở nước này, làm gì cũng có thể sai.

Đằng này, luật mới ra chưa chắc đã triệt tiêu luật cũ. Người nào muốn sử dụng luật cũ để phê phán tình hình mới vẫn có quyền. Không cách gì gỡ nổi.

Vì cơ chế nhập nhằng, nên người ta đấu tranh nhau về quyền lực và tiền bạc. Nhìn mặt nào, người ta cũng có cái lý riêng. Mà như thế thì cuối cùng ai có ưu thế về vị thế chính trị thì sẽ thắng.”

Sợ nhất là sự tùy tiện này. Muốn nói sao thì nói! Muốn biến đúng thành sai, hay ngược lại, người ta có thể phù phép luật cũ, luật mới, luật … cá nhân để đạt mục tiêu. Có lẽ chính vì điều này mà bao nhiêu người có lòng về VN một thời gian đụng cái cơ chế này đều bỏ chạy lấy người. Anh Tuệ đã “trụ” được đến bây giờ làm cho bao nhiêu đồng nghiệp ngoài này phải thán phục.

“Bây giờ mình cần trí thức, cần suy nghĩ và phản biện về những vấn đề mà nhà nước đang đối mặt. Đặt giả thiết, nếu mọi chuyện là để phục vụ chính trị thì chúng ta có thể ngừng ở đây, không cần tiếp tục thảo luận nữa. Còn nếu tất cả mọi hoạt động là nhằm phục vụ quá trình tiến lên của xã hội, thì chúng ta mới tiếp tục nói chuyện được. Đây không phải là vấn đề chính trị hay phản biện gì cả, đây là nói chuyện thuần tuý về trách nhiệm của trí thức.”

Hoan hô anh Tuệ!

NVT

Nhật kí Saudi Arabia 1. Hai Lúa và dầu hỏa

Tuần qua, tôi bận đi công tác bên Saudi Arabia, nên không có thì giờ cập nhật hóa trang blog. Chuyến công tác ngắn ngủi nhưng tôi có nhiều chuyện để suy nghiệm. Tôi sẽ dần dần ghi lại những chuyện tôi nghe và thấy trong chuyến đi như là “mua vui cũng được một vài trống canh”. Hôm nay bắt đầu bằng vài ghi chép linh tinh trước.

Không nên làm Hai Lúa với xứ dầu hỏa !

Chuyến đi Saudi Arabia của tôi không nằm trong chương trình làm việc năm 2009, nhưng hóa ra là một chuyến công tác thú vị, để lại nhiều kỉ niệm khó quên. Tất cả sự việc bắt đầu từ một email của ông Chủ tịch Royal Society của New Zealand (ở Úc, Anh và New Zealand Royal Society giống như viện hàn lâm khoa học) vào đầu tháng 7. Trong email, ông Chủ tịch Royal Society nói rằng ông được mời thành lập một nhóm chuyên gia gồm 5 người (gọi là Review Panel) để thanh tra và đánh giá hoạt động của một trung tâm xuất sắc chuyên nghiên cứu loãng xương ở Saudi Arabia. Tên chính thức của trung tâm này là Centre of Excellence for Osteoporosis Research (CEOR). Ông ta phải nhờ đến các hiệp hội chuyên môn về xương, và họ đề cử được 5 người, trong đó có tôi. Thật ra, sau này tôi biết được là danh sách 5 người này cũng là sáng kiến của CEOR. Do đó, ông viết thư mời tôi tham gia vào Review Panel. Thấy công việc cũng thú vị và chưa từng đi Saudi Arabia lần nào, nên tôi chấp nhận lời mời. Thế là tôi trở thành một thành viên trong nhóm “ngũ nhân bang” thực hiện một việc làm rất đơn giản nhưng căng thẳng.

Dù được bổ nhiệm làm thành viên Review Panel nhưng tôi vẫn phải qua hai khâu hành chính khác. Đầu tiên là Bộ Giáo dục của Saudi Arabia phải phê chuẩn tư cách khoa học của tôi. Sau khi phê chuẩn, Bộ gửi tôi một mã số để làm thủ tục xin visa từ tòa đại sứ Saudi Arabia ở Úc. Một điều đáng nói là đại sứ quán không làm việc trực tiếp với người xin visa, mà chỉ làm việc qua trung gian (hay nói theo ngôn ngữ thời nay ở nước ta là qua “cò”). Những tay cò này là đại lí các hãng du lịch lữ hành. Chính vì thế mà chi phí cấp visa của Saudi Arabia đắt đỏ kinh khủng: 220 AUD! Tôi chưa bao giờ thấy một nước nào mà lấy chi phí cao như thế. Nhưng trong trường hợp của tôi thì mọi chi phí này đều do phía Bộ Giáo dục của Saudi Arabia “chăm sóc” chu đáo.

Có visa rồi đến vé máy bay, và cũng là một kinh nghiệm cần chia sẻ. Từ Úc đi thành phố Jaddah chỉ có thể đi bằng 4 hãng hàng không như Malaysian Airlines, Singapore Airlines, Cathay Pacific, và Emerates. Tôi quen tính tiết kiệm cho các cơ quan bảo trợ, dù là tư nhân hay chính phủ, nên tôi thường hay tìm hiểu giá cả của các hãng tôi thường bay. Lần này, giá cả chênh lệch giữa hãng đắt nhất và rẻ nhất gần 3000 AUD, một sự khác biệt mà tôi cho là quá đáng. Không nói ra chắc ai cũng biết hãng đắt nhất là Singapore Airlines và hãng rẻ nhất là Malaysian Airlines. Nếu đi với Malaysian Airlines, tôi phải chuyển đến 3 chuyến bay, còn với các hãng khác thì chỉ 2 chuyến bay. Dù đi với hãng nào, tôi vẫn phải mất từ 8 giờ đến 13 giờ chờ đợi giữa hai chuyến bay nối. Tôi báo cho Bộ Giáo dục của Saudi Arabia biết về sự khác biệt giá cả, và tỏ ý chọn hãng nào vừa phải (không quá đắt mà cũng không phải rẻ nhất, vì tôi nghĩ hãng rẻ nhất chắc phục vụ không mấy tốt). Ngạc nhiên thay, phía Saudi Arabia lịch sự trả lời tôi rằng vấn đề không phải là tiền bạc, và khuyên tôi nên chọn hãng nào mà tôi thấy tiện lợi nhất. Ngụ ý trong lời khuyên này là tôi chọn Singapore Airlines. Đương nhiên, tôi đâu phụ lời khuyên của “ông bạn” Bộ Giáo dục của Saudi Arabia. Tôi chọn hãng đắt nhất. Sau này khi kể chuyện đó cho đồng nghiệp trong Review Panel bên Mĩ nghe, anh ta vỗ vai tôi và nói đại khái: Ồ, mày “ngây thơ” quá! Saudi Arabia là xứ dầu hỏa, tiền không phải là vấn đề đối với họ; việc của mày và tao làm sẽ tiết kiệm cho họ hàng triệu đôla; không nên đánh giá thấp việc mình làm, nghe chưa! Yes Sir, nghe. Tôi thấy mình quả là Hai Lúa.

(Còn tiếp)