Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009

Trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản) về vấn đề bôxít Tây Nguyên

Xin giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của một tờ báo Nhật về vấn đề bauxite ở Tây Nguyên của gs Nguyễn Huệ Chi. Xin nói thêm rằng Gs Nguyễn Huệ Chi là một trong 3 người thảo lá thư kiến nghị về vấn đề bauxite Tây Nguyên mà tôi đã kí. Gs Chi còn là con trai của học giả Nguyễn Đổng Chi, mà những ai học trung học đều nhớ.

NVT

====

http://bauxitevietnam.info/ykien/090515_huechitraloiyomuri.htm

Trả lời phỏng vấn báo YOMIURI (Nhật Bản)

1. Tai sao ong phan doi du an khai thac bo-xit tai Tay Nguyen?

Không phải chỉ riêng tôi mà bất kỳ người Việt có lương tri nào cũng phản đối, vì đây là một dự án chưa thấy đem lại lợi ích gì cho đất nước mà nguy cơ tàn phá môi trường, tiêu diệt hệ sinh thái phong phú, và để lại những hậu quả nghiêm trọng về nguồn nước độc hại cho không chỉ riêng Tây Nguyên mà cả một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam Việt Nam, và không phải chỉ trong dăm mười năm mà trong ba bốn mươi năm hoặc lâu hơn thế, thì đã rành rành ra đấy. Đáng nói hơn nữa là nó đảo lộn đời sống của đồng bào người Thượng, thêm nhiều tập quán văn hóa lâu đời của nhiều tộc người Tây Nguyên rồi sẽ bị xóa bỏ. Sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu người các dân tộc ở đây không còn không gian truyền thống để sinh hoạt và không còn duy trì được bản sắc văn hóa của mình? Anh tôi, nhà dân tộc học Từ Chi trước đây gần 20 năm đã cảnh báo việc đưa người Kinh lên thâm nhập Tây Nguyên, sẽ làm biến chất cái làng cổ truyền Tây Nguyên qua việc “tập thể hóa” đất đai du canh của họ, đẩy người bản địa vào tận chân núi, lại “soán” luôn Ông “Giàng” (Yang) mà họ thờ phụng hàng bao nhiêu đời, thay vào đấy bằng một thứ chủ nghĩa vô thần cực đoan kỳ cục mà đến bây giờ người Kinh, ngay cả những vị quan chức cấp tối cao, tôi mạnh dạn mà nói thế, cũng không sao “đeo đẳng” mãi được nữa! Một tình trạng đến thế mà còn kéo dài thì nhất định trước sau sẽ xảy ra “sự cố”. Rất tiếc, điều anh tôi cảnh báo đã bị các nhà chính trị bỏ ngoài tai và như ta thấy, cách đây một số năm đã được chứng thực tại Tây Nguyên. Nay, người ta lại đang làm một chuyện tàn phá mới đối với Tây Nguyên mà vẫn tuyệt nhiên không chịu rút ra bài học không xa, có gốc gác là sự thiếu hiểu biết và thiếu thật lòng tôn trọng văn hóa Tây Nguyên. Họ chỉ biết có cái lợi thiển cận mà cái lợi ấy cũng rất mơ hồ, và nếu dùng công thức 50/50 như lời ông Đoàn Văn Kiển Tập đoàn Than khoáng sản thì còn là vô trách nhiệm! Đem đất nước và dân tộc ra mà thử nghiệm mà về kinh tế chỉ có thể trông mong hòa trong khi về tất cả các mặt khác lại không hòa mà thua trắng, chỉ có đám “đỏ đen” chứ có ai trung thực và yêu nước mà lại chịu đựng nổi lối tư duy cờ bạc đó? Cái hậu họa dứt khoát sẽ đến ngay nhãn tiền. Vì nghĩ thế, tôi và một số anh em tâm huyết đã phản đối dự án này.

2. Mot so nguoi cho rang su hien dien cua TQ tai Tay Nguyen chinh la nguyen nhan de ho phan doi du an nay. Theo y kien ca nhan ong, tai sao ho lai coi do la mot su de doa?

Câu hỏi này không rõ. “Họ” mà quý báo nói đây là ai? Nếu là đại đa số nhân dân Việt Nam thì xin quý báo điều tra thêm trong thực tiễn. Còn nếu là những người trí thức và công dân ký tên trong “Kiến nghị” thì nội dung “Kiến nghị” đã nói cụ thể; chúng tôi lo ngại ở 4 điểm:

1. Việc lập dự án khai thác bauxite mới được công khai hóa từ cuối năm 2008 nhưng trên thực tế lại đã được ký tắt với Trung Quốc từ khá lâu trước đó mà chưa đưa ra Quốc hội phê chuẩn. Nghĩa là đối với chúng tôi, việc ký với ai cũng là quan trọng nhưng còn không kém quan trọng là nó có được tiến hành hợp pháp hay không. Tại sao lại có chuyện như vậy ở một đất nước từ lâu đã có Hiến pháp và gần đây còn ban hành hàng loạt bộ luật được Quốc hội thông qua? Đó là điều không thể lý giải. Một việc làm không hợp pháp được nhắm mắt làm ngơ thì bao nhiêu việc nữa sẽ khiến cho việc điều hành đất nước này trở nên lộn xộn, không minh bạch, xa lạ với quỹ đạo phát triển như mọi nước đã và đang đi [1] (Mới đây, ngày 4-5-2009, trả lời đông đảo cử tri Hà Nội yêu cầu đưa vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên ra Quốc hội phê chuẩn và giám sát “như ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia”, đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng có nói: “Không phải bất kỳ vấn đề nào cũng đưa ra lấy ý kiến của Quốc hội mà còn tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ của các dự án. Trong khi đó, quy mô mỗi dự án bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ mới chỉ là hơn 600 triệu đôla”. Ông còn nói thêm: “Dự án chỉ mới đang thí điểm, chưa đâu vào đâu”. Trong khi đó thì mạng truyền thông Trung Quốc lại xác nhận các công ty của họ đã đổ vào Tây Nguyên những khoản tiền hết sức lớn, và họ đã bắt đầu thi công từng phần của dự án chứ không phải là “chưa ra đâu vào đâu” như ông Trọng nói.

Mặt khác, tuy chia ra từng dự án thì quy mô ở Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ thật nhưng xét tổng thể cả quy hoạch bauxite Tây Nguyên hẳn phải nói là rất lớn! Báo “Du lịch” ngày 13-4-2009 đăng bài của một phóng viên lên điều tra tận nơi cho biết: “Dự án Tân Rai chính thức làm lễ khởi công tổ hợp nhà máy sản xuất Alumin vào ngày 18/11/2008. Thời gian khai thác của dự án này dự tính kéo dài trong 98 năm, trữ lượng bauxite ở Tân Rai có thể trên 700 triệu tấn. Nếu khai thác 600.000 tấn/năm thì thời gian khai thác của riêng vùng Tân Rai sẽ kéo dài 45 năm, và nếu mở rộng vùng mỏ bauxite ra Bảo Lộc, lên Di Linh thì thời hạn khai thác có thể lên tới 150 năm”. Cớ sao ta không trình Quốc hội trên Dự án tổng thể khai thác bauxite ở toàn vùng Tây Nguyên mà lại chia nhỏ ra từng dự án con để phán xét quy mô của mỗi cái là nhỏ? Hơn nữa, trong 5 tiêu chí của một dự án “cần phải đưa trình Quốc hội xét duyệt” theo Nghị quyết số 66/QH 11 ngày 29-6-2006 thì có tiêu chí thứ 4 ghi rõ “Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh”; Tây Nguyên ai cũng đều biết là “mái nhà Đông Dương” mà không đáng xếp vào tiêu chí thứ 4 sao?

Hãy nghe Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nói: “Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxit ở Cao nguyên Trung phần thì sẽ có năm, bảy ngàn hoặc hơn một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển Trung Quốc có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (Cao nguyên) Trung Quốc có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!” (trích “Thư gửi BCT ĐCSVN và TT CPVN”). Cũng chính Kết luận số 245-TB/TW của Bộ Chính trị ĐCSVN do Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang thông báo ngày 24-4-2009 có nói rõ: “Tây Nguyên là khu vực nhạy cảm, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh, quốc phòng cho cả trước mắt và lâu dài, đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa”. Kết luận ấy chứng tỏ Bộ Chính trị biết vị thế Tây Nguyên trọng yếu như thế nào.

Tôi không phải là người có thói quen thích theo dõi nhân sự của một đảng cầm quyền, cũng không thích nghe lời bàn tán xầm xì của dư luận, chỉ biết làm chuyên môn và tôn trọng những ai là đại diện cho quyền lực của đất nước, nhưng trước việc này cũng không khỏi băn khoăn: hình như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chính là một Ủy viên trong Bộ Chính trị Đảng CS thì phải. Sao ông lại trả lời cử tri của mình lạ vậy? Người ta có cảm tưởng như đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đang… cãi lại Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng, hay cũng có thể luận giải theo một hướng khác, rằng Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng muốn “giải thích lại” thực chất ý nghĩ của Ủy viên BCT Nguyễn Phú Trọng. Mong sao đó đều là những cảm giác nhầm lẫn (Được biết thêm chiều hôm qua, 14-4-2009, trong lời kết luận phiên họp của UBTVQH, ông Nguyễn Phú Trọng đã đề nghị Chính phủ “chuẩn bị một báo cáo chuyên đề riêng về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên để cung cấp đầy đủ thông tin tới các đại biểu Quốc hội”. Có thế chứ. Xin ghi nhận chuyển biến đó và hãy cứ chờ đợi, lắng nghe ý kiến của các vị. Tuy nhiên, nếu Quốc hội chỉ nghe mà không thảo luận và biểu quyết thì thưa ông Trọng, đó chẳng phải là điều người dân mong đợi).

Còn ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì phải nói là càng lạ nữa. Trong buổi sáng 7-5-2009 đến thăm sức khỏe Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân ngày kỷ niệm 55 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trước lời khuyên thẳng thắn của Đại tướng về việc nên dừng dự án bauxite, ông nói gọn ghẽ: “Chính phủ xin tiếp thu và nghiên cứu ý kiến của Đại tướng”, các báo mừng rỡ loan tin, vậy mà cách một hôm sau, tiếp xúc với cử tri Hải Phòng, ông lại đã dõng dạc tuyên bố: Nhà nước sẽ đưa việc khai thác bauxite thành một ngành công nghiệp lớn!? Ô hay, chỉ mới qua một ngày một đêm thôi, mà cả một Chính phủ chứ có phải cá nhân ông đâu, đã “tiếp thu và nghiên cứu” xong ý kiến của vị Đại tướng nhanh thế a? Thế thì con ông và cháu ông sẽ hiểu vấn đề đạo lý và lễ nghĩa trong xã hội Việt Nam là gì? Chuyện giáo dục bằng “gương người lớn” mà không quan trọng ư? Ông có nhớ câu chuyện cổ tích về một người bố cho ông nội ăn cơm trong gáo dừa thay bát cho khỏi vỡ, vì ông nội tay đã run, và đứa con nhìn thấy liền học theo, cũng chuẩn bị sẵn hai cái gáo dừa mẻ để dành về sau cho bố mẹ, hay không? Đó là chưa nói ông đang là “tấm gương” cho cả nước nhìn vào kia mà!

2. Ai cũng biết Trung Quốc rất cần nhôm để chạy đua trong ngành tên lửa và hàng không vũ trụ, để thực hiện những tham vọng không sao dò lường hết của họ. Từ lâu họ đã ký hợp đồng khai thác thứ quặng này ở nhiều nước và xúc tiến khai thác quy mô ngay cả trên đất nước họ. Khốn nỗi công nghệ của họ chưa đạt độ an toàn môi sinh cao, lại do những nhà thầu tư nhân thậm chí là những cai đầu dài vô học di cư bất hợp pháp chạy đua khai thác, đã gây ra những tai họa khủng khiếp ở lục địa Đen khiến cả thế giới đều lo lắng, và họ cũng đã phải đóng cửa rất nhiều mỏ quặng bauxite ở ngay trên đất nước họ [2] (Theo GS Nguyễn Ngọc Trân trong bài “Khai thác bauxite Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị” công bố ngày 8-4-2009 thì “Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xit Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xit chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn”. Cũng xin xem Dương Danh Dy: “Tìm hiểu tình trạng ô nhiễm môi trường klhi khai thác bauxit tại một vài nơi ở Trung quốc”. Thế thì làm sao mà tin họ được chứ! Thế mà lại ký hiệp ước mời họ đến khai thác bauxite trên đất nước mình, có phải là đã chuyển gánh nặng ô nhiễm tại đất nước Trung Hoa mênh mông sang mảnh đất Việt Nam bé nhỏ, để 84 triệu nhân dân Việt Nam gánh chịu thay cho 1 tỷ 3 dân của họ hay không? Sao lại có chuyện lạ đời đến thế? Ai, người Trung Hoa hay người Việt, đã tính chuyện lạ đời như thế?

3. Giới chuyên môn thừa biết đặc điểm quặng bauxite ở Việt Nam đòi hỏi một kỹ thuật khai thác khác với khai thác quặng bauxite ở Trung Quốc [3] (Xem thêm bài “Vấn đề công nghệ và môi trường trong khai thác bauxite ở Tây Nguyên” của GS TS Nguyễn Thanh Sơn trên báo Tia sáng ngày 4-5-2009. Thế mà ta lại du nhập công nghệ khai thác bauxite Trung Quốc vào Việt Nam kể cả du nhập nhà máy của họ. Lấy gì bảo đảm rằng những công nghệ khai thác ấy thích hợp với yêu cầu kỹ thuật khai thác bauxite của chúng ta, bớt tốn kém và đưa lại hiệu quả? Những gì người Trung Quốc đã làm ở châu Phi, nơi mà ngay cả ở nhiều mỏ đồng họ cũng phải cuốn xéo, chẳng là bài học đáng học hay sao? Tại sao cứ phải “cố đấm ăn xôi” (mà đã chắc đâu có xôi để ăn) như vậy?

4. Việc đưa công nhân Trung Quốc vào Tây Nguyên cũng là cả một vấn nạn khiến chúng tôi lo lắng. Tuy thông báo 245-TB/TW của BCT Đảng Cộng sản vừa rồi có nói “chưa chủ trương bán cổ phần cho tổ chức và cá nhân nước ngoài”, và có chỉ thị về việc “sử dụng người lao động địa phương”, điều này có làm yên lòng chúng tôi ít nhiều, nhưng báo chí của Việt Nam trước đấy đều cho biết kể từ cuối năm 2008, các Công ty Trung Quốc đã đưa công nhân vào làm việc ở Tân Rai – và đưa vào nhiều rồi. Thế nghĩa là ông chủ có thể “chưa sẵn sàng dọn cỗ” nhưng đã có các loại “bất tốc chi khách” – khách không mời mà đến. Lạ lùng hơn nữa là những người ngoại quốc này còn làm việc một cách bất hợp pháp tại Việt Nam vì nhiều người trong số đó đến nước chúng tôi bằng visa du lịch chứ không phải visa làm việc – họ đâu được phép chuyển đổi từ “khách du lịch” sang “công nhân khai mỏ”?! Đối phó với các loại “khách” này sẽ ra sao, trong khi người Việt còn thất nghiệp và đi nhiều nước kiếm việc làm? Phải chăng là mình đã tự làm khó cho mình (nên nhớ xét về tỷ lệ, mật độ dân số ở Việt Nam hiện đã gấp đôi Trung Quốc)?

3. Xin duoc hoi ong voi nguoi Viet thi TQ co y nghia nhu the nao (ke thu cu, ke thu tiem an, doi thu hay nguoi anh lon)?

Chúng tôi coi nhân dân Trung Quốc là bạn như mọi dân tộc khác ở gần cũng như ở xa Việt Nam. Chúng tôi nghĩ, nhân dân Việt Nam cần học hỏi mọi đức tính tốt đẹp của nhân dân Trung Quốc và củng cố mối quan hệ láng giềng giữa hai nước thật tốt. Đó là điều kiện để cả hai dân tộc cùng phát triển trong hòa bình, trong xu thế của nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa hiện nay.
Nhưng giai cấp thống trị Trung Hoa đủ các mầu sắc từ sắc vàng các triều đại xưa đến sắc đỏ triều đại nay thì luôn luôn có dã tâm bành trướng, không phải chỉ bành trướng sang Việt Nam mà còn sang nhiều nước láng giềng, chuyện này lịch sử đã và vẫn đang còn ghi chép. Chỉ hai sự kiện này là đủ để hiểu “tim đen” của các “đồng chí Trung Quốc”: năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Hoàng Sa, chính quyền miền Nam Việt Nam chưa tiếp quản kịp, Trung Quốc liền tức tốc cho quân ra chiếm; năm 1974, biết tình thế nguy cấp của chính quyền Sài Gòn, Trung Quốc cũng tức tốc thực hiện chiến thuật cũ, chiếm trọn cả quần đảo Hoàng Sa. Đó là thời của vũ lực.

Nay đã sang thời kỳ mới, xâm lăng bằng kinh tế và văn hóa, tiêu diệt bà con láng giềng bằng gây ô nhiễm… Bởi thế, trong huyết quản con người Việt Nam vẫn sẵn có ý thức cảnh giác với mọi nguy cơ và phương thức xâm lược, và luôn luôn tự củng cố nội lực bằng tinh thần đoàn kết rộng rãi, điều ấy là dễ hiểu [4] (Mới đây thôi giới blogger Việt Nam mới phát hiện một vụ việc có thể nói là tày trời: Bộ Thương mại, nay là Bộ Công thương, đã ký kết xây dựng một trang mạng chung với truyền thông Trung Quốc có cả phần tiếng Việt và tiếng Hoa để đưa tin về việc hợp tác kinh tế việt-Trung. Ngày khai trương có mặt cả 3 vị đứng đầu Đảng và Nhà nước hai bên là đồng chí Hồ, đồng chí Nông và đồng chí Nguyễn, cùng kích hoạt cho trang mạng đi vào hoạt động. Nhưng hỡi ôi, chỉ sau ít lâu thì mới biết, nhiều bài được phát trên trang tiếng Việt mang tên miền Việt Nam lại đưa những tin xuyên tạc rất thậm tệ đối với Việt Nam. Hỏi đến những người chủ trì trang mạng ở Bộ Công thương thì họ đành lắc đầu, không có cách gì để xóa, bởi một lẽ giản đơn là máy chủ do phía Trung Quốc nắm giữ. Trang mạng “Bauixite Việt Nam” đã loan báo kịp thời trong bài “Giao trứng cho ác”, có hình ảnh cả ba đồng chí lãnh đạo tươi cười đứng sát bên nhau trong ngày khởi động cái phương tiện truyền thông gây tai vạ chết người cho dân tộc chúng ta; còn “Blog Lê Tuấn Huy” thì nêu vấn đề hình như đã chạm tới bản chất: “Đồng tiền và chủ quyền”; và “Blog Osin” gọi đó là “Giao trứng cho Trung Quốc”. Thử hỏi, với những chuyện chơi khăm kiểu đó, các “đồng chí Trung Quốc” thực hiên “16 chữ vàng” với Đảng Việt Nam có thật là “lòng vàng” hay không, hay là chỉ “lòng vàng” với Đảng mà “dạ tối thui” với đất nước và nhân dân này? Ngoài ra, dù gì đi nữa, dù vô tình hay cố ý, ngây thơ hay dại dột, thì vẫn cứ nhất thiết phải truy cứu: người nào ở cấp nào đã bị kẻ khác “làm xiếc” và người nào ở cấp nào là Lê Chiêu Thống trong trường hợp giao truyền thông cho Trung Quốc “nắm gáy” nói trên?).

4. Cac ong dang kien nghi gi tu phia chinh phu?

“Kiến nghị” đề ngày 12 tháng Tư năm 2009 của chúng tôi yêu cầu Chính phủ hãy dừng toàn bộ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên, có tổ chức giám sát chặt chẽ, và đưa dự án khai thác đó ra thông qua Quốc hội để Quốc hội xem xét thấu đáo tính chất tiền khả thi của nó, sau đó phê chuẩn hoặc bác bỏ là toàn quyền của Quốc hội. Nhưng cũng trong “Kiến nghị”, chúng tôi lại cũng khẩn thiết kêu gọi Quốc hội hãy “thấu suốt được tinh thần của đại đa số dân chúng không muốn dự án này tiếp tục vì tất cả những hệ lụy nặng nề của nó” để Quốc hội có quyết định hợp lý hợp tình.

5. Cac ong keu goi moi nguoi tham gia hoat dong cua minh bang cach nao?

Thực ra chúng tôi không kêu gọi mọi người tham gia ký vào “Kiến nghị” mà lúc đầu chỉ gửi e-mail đến 15 người bạn nhờ góp ý tư vấn cho mình. Không ngờ đây vốn là một mối quan ngại đã nung nấu sẵn trong tâm can nhiều người chỉ chờ dịp là bùng phát, nên “Kiến nghị” được nhiệt liệt hưởng ứng, người này truyền cho người kia, rốt cuộc đến chiều ngày 16 (sau 4 ngày) thì đã có 133 người ghi tên vào danh sách, trong đó có rất nhiều nhà khoa học hàng đầu, văn nghệ sĩ tiêu biểu ở trong nước cũng như ngoài nước. Và cho đến nay con số đã trên 1.000 người. Tuy nhiên, quan điểm nhất quán trước sau của chúng tôi là muốn cho Nhà nước thấy sự thành tâm của mình, đây không phải là một việc gì khuất tất, nên những ai muốn ghi tên phải có đủ thông tin về nhân thân và về địa chỉ cư trú cụ thể. Vì thế, trong danh sách gửi lên cũng chỉ mới chọn lọc được 400 người và sắp tới sẽ có thêm 200 người nữa; những người còn lại phải bổ sung một số thông tin còn thiếu thì mới được gửi tiếp [5] (Hiện nay, Danh sách đợt 3 đến con số 600 đã công bố, chúng tôi sắp công bố Danh sách đợt 4 để gửi lên Nhà nước, đến hơn 1.000 người. Tiến độ có chậm trễ so với lượng người đăng ký (quá chậm trễ là khác) vì chúng tôi đều làm việc “tay trái”).

6. Theo du kien se co mot cuoc tu hop, trong hoa binh, vao ngay 23/4 de bay to su phan doi doi voi viec tien hanh du an. Xin duoc hoi ly do gi da khien cho cuoc tu hop ay khong dien ra?

Chúng tôi không biết đó là dự kiến của ai, riêng chúng tôi không hề đề xuất dự kiến này.

8. Xin cho biet ke hoach trong tuong lai cua cac ong la gi?

Việc lưu truyền bản “Kiến nghị” trên các trang mạng kể từ ngày 12-4-2009 làm cho ba người soạn thảo chúng tôi liên tiếp nhận được một số lượng e-mail hưởng ứng không sao trả lời xuể. Vì thế, đến ngày 22-4-2009 thì chúng tôi đành phải lập một Blog “Bauxite Việt Nam” để tiếp nhận thông tin từ khắp bốn phương. Nhưng rồi số lượng người truy cập cũng nhiều đến mức quá tải, đến ngày 28-4-2009 đã có hơn 41 vạn lượt người vào xem. Thế là đến ngày 27 tháng Tư năm 2009 chúng tôi lại phải chuyển đổi từ blog sang Website “Bauxite Việt Nam” do một số anh em tâm huyết đứng ra điều hành.

Đến nay mới chỉ qua một ngày mà đã có hơn 36.000 lượt người truy cập [6] (Tính đến chiều 14-5-2009 đã có trên 40 vạn lượt người vào xem trang mạng của chúng tôi. Sở dĩ nói một cách phỏng đoán thế thôi vì tự nhiên trang mạng bauxitevietnam.info đang yên lành bỗng gặp “trục trặc”, vào mạng vẫn được, song upload thì không được nữa, và số lượng người truy cập hiển thị trên trang web cũng bị xóa. Ai mà lo ngại ảnh hưởng của trang mạng vốn tuân thủ nghiêm chỉnh phép nước của chúng tôi thế nhỉ? Chắc đây phải là “kẻ địch”, “mưu toan phá hoại đất nước”, nói như Thông cáo báo chí ngày 28-4-2009 của Bộ Công thương).

9. Cung co cac quoc gia khac nhu My dang can nhac khai thac khoang san tai VN. Cac ong co phan doi nguoi My toi VN ko? Neu khong, tai sao ong lai Kien nghi nhu vay?

Chúng tôi không hề phản đối người Mỹ tới Việt Nam đặt quan hệ bình thường về nhiều mặt. Trái lại, việc củng cố mối quan hệ Việt-Mỹ giúp cho Việt Nam phát triển là một yêu cầu tối cần thiết. Nhưng nếu người Mỹ đến chỉ để khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì mọi vấn đề đang đặt ra về môi sinh, về văn hóa, về lợi nhuận… vẫn như thế, có khác gì đâu. Chúng tôi không kỳ thị các công ty Trung Quốc, mặc dù công nghệ Trung Quốc chắc chắn là kém xa Mỹ – và đã từng để lại nhiều hệ lụy nặng nề cho đất nước chúng tôi như các nhà máy mía đường Trung Quốc mà Nhà nước chúng tôi từng nhập về cách đây hàng chục năm làm cho ngành mía đường Việt Nam thua lỗ chỏng gọng vì dây chuyền công nghệ cũ mèm. Người nhập kiếm được một món béo bở, tất nhiên, còn dân chúng phải è cổ ra gánh chịu mọi hậu quả, ai mà chả thấy [7] (Ngay chính một trang mạng của Trung Quốc 中军网 www.milchina.com 日期:2009-5-6 10:14:12 来源: 编辑:中军编辑 3984582, trong bài “Cuộc cạnh tranh bô-xít Tây Nguyên giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ” cũng thừa nhận chính sách đưa các dây chuyền công nghệ đã bỏ đi cũng như các công nghệ lạc hậu của Trung Quốc vào đầu tư tại Nam Trung Bộ Việt Nam từ lâu đã gây ra ô nhiễm tệ hại và làm cho người Việt Nam thêm nghi ngại Trung Quốc, “Nếu không phân tích vấn đề sâu sắc và có thái độ tự mình phản tỉnh, từ góc độ bản thân tiến hành kiểm thảo tìm ra mấu chốt… chúng ta sẽ ngã lộn nhào xuống hố”). Vấn đề mà chúng tôi quan tâm là phải bảo vệ sự an bình của Tây Nguyên bằng mọi giá, hơn nữa cũng phải bớt dần đi cái lối làm kinh tế theo kiểu cứ moi khoáng sản lên để bán. Cái đó là một biện pháp “bóc ngắn cắn dài” chỉ làm cho kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với nền kinh tế các nước hiện đại.

10. Theo ong thi cac cty VN ky hdong voi cong ty cua TQ khi nao vay?

Việc này không có báo chí nào đưa, có lẽ cũng là điều cấm kỵ sao đó nên tôi không thể trả lời quý báo chính xác được. Trên ba số báo mạng Vietnamnet bằng tiếng Anh ra các ngày 23-09-2004, 14-10-2005 và 02-11-2005 có nhắc rằng dự án ký kết đã được duyệt, số tiền là bao nhiêu bao nhiêu, nhưng lại không hề ghi rõ ngày tháng hai bên đặt bút ký. Có lẽ “lề đường bên phải” phải dùng đến loại giày riêng, buộc báo chí phải “gọt” hết những con số thòi ra như vậy cho “vừa giày”. Chỉ biết đến nay, theo trang mạng BBC, Công ty Chinalco đã đưa người vào khai thác ở Tây Nguyên rồi [8] (Trong “Thư ngỏ” số 2 gửi lên các vị đứng đầu cơ quan quyền lực Nhà nước ngày 7-5-2009, chúng tôi đã tra tìm được các “bản ghi nhớ” ký với nhau giữa các công ty TQ và Việt Nam từ 2001 đến 2007; như vậy, câu trả lời này đã được bổ sung cụ thể và rõ ràng).

11. Cho toi thoi diem hien tai, theo ong duoc biet, da co bao nhieu cong nhan TQ dang lam viec o cong truong?

Đây cũng là một “bí mật nhà nước” mà báo chí không được phép để lộ. Trên Vietnamnet ngày 14-4-2009 có nói tới 20 dãy nhà tập thể dành cho công nhân Trung Quốc ở khu mỏ Tân Rai và quang cảnh hoạt động nhộn nhịp mua bán của đám công nhân nói tiếng Hoa đang sinh sống ở đây, chứ không nói rõ số lượng bao nhiêu. Tất nhiên 20 dãy nhà kia chỉ là nhà cho công nhân làm việc cơ bắp chứ chuyên gia kỹ sư Trung Quốc thì đều ở các ngôi nhà ngoài thị trấn. Tuy vậy cũng trong bài báo ấy lại có để lộ rằng: theo lời một chủ quán ăn là Phượng thì số lượng công nhân Trung Quốc ở khu mỏ vào khoảng 800 người. Còn theo trang mạng “Sài Gòn tiếp thị” ngày 15-4-2009 thì những đợt công nhân Trung Quốc đầu tiên đã đổ bộ vào Tân Rai từ tháng Mười một năm 2008, mới đầu khoảng 700 người, nhưng vào những thời điểm làm nước rút, số lượng có thể lên đến 2.000 người.

Cần chú ý thêm là cũng theo các báo trên, công nhân người Việt ở đây rất ít; quá ít người dân địa phương được nhận vào làm. Riêng ở Đắc Nông, tức ở khu mỏ bauxite Nhân Cơ, nơi hiện đang xúc tiến mạnh việc xây dựng nhà máy luyện alumin Nhân Cơ do Tập đoàn Chalco Trung Quốc trúng thầu chính, thì theo báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV News) vào thời gian cao điểm có thể có 2.000 người Trung Quốc làm việc tại đây (trích lời ông Bùi Quang Tiến, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV), nhưng sau đó, ông Ngô Tố Ninh, lãnh đạo Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ – TKV lại đã cải chính rằng con số nêu trên là chưa chính xác, bởi vào thời gian cao điểm, trên công trường xây dựng nhà máy chỉ có gần 3.000 lao động làm việc mà thôi (Vietnamnet ngày 26-4-2009).

Chỉ chừng đó cũng đủ thấy một chuyện không có gì ghê gớm cả mà đối với thông tin truyền thông Việt Nam vẫn là cả một trò… “ú tim”. Trong khi ở Tân Rai người ta không nhận công nhân người Việt thì liệu 3.000 công nhân tại Nhà máy alumin Nhân cơ do Tập đoàn Chalco cai quản có được bao nhiêu người Việt? Muốn điều tra cho rõ điều này chắc phải có một đội ngũ các nhà xã hội học chịu khó xin phép đến Nhân Cơ hỏi chuyện từng người bằng tiếng Hoa, tiếng Việt, hoặc bằng tiếng của người dân tộc bản địa rồi cứ thế làm một phép cộng tỉ mỉ mới biết đích thực có bao nhiêu trong số 3.000 công nhân kia là người Việt Nam [9] (Không phải chỉ ở Tây Nguyên, rất nhiều nơi trên đất nước Việt Nam, công nhân Trung Quốc đã sang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp, công trường đông đặc. Xin xem bài “Lao động phổ thông nước ngoài đổ vào Việt Nam” của Cầm Văn Kình và Đăng Nam trên báo “Tuổi trẻ” ngày 16-4-2009 và trên trang mạng; và các bài: “Người Quảng Tây ở Quảng Nam” trên báo “Sài Gòn tiếp thị” 5-5-2009 (); “Thợ Việt - Trung đón tết trên công trường thủy điện” trên báo “Quảng Nam” ngày 19-1-2009.

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Vi khuẩn tả trong ruột chó ?

Các quan chức y tế Hà Nội rầm rộ tuyên bố rằng họ phát hiện vi khuẩn tả trong ruột chó. Theo báo chí tường thuật, kết quả xét nghiệm 6 mẫu thịt chó và phân chó tại Hà Đông cho thấy 5 mẫu dương tính với vi khuẩn tả. Tin này được lan truyền đi rất nhanh, có báo còn chạy cái tít giật gân như “tóm được phẩy khuẩn tả trong thịt chó”.

Trước một bản tin như thế chúng ta có 3 câu hỏi: thông tin có đáng tin cậy không; diễn giải thông tin đó như thế nào; và chúng ta phải làm gì? Tôi sẽ lần lược bàn đến 3 câu hỏi đó.

Thông tin có đáng tin cậy không? Đằng sau mỗi thông tin khoa học là vấn đề phương pháp. Ở đây, phương pháp xét nghiệm đóng vai trò quan trọng để chúng ta có thể đánh giá độ tin cậy của thông tin. Tất cả các phương pháp xét nghiệm, dù tinh vi và đắt tiền đến đâu, cũng đều có vài sai sót như dương tính giả (tức thịt chó không bị nhiễm khuẩn nhưng kết quả là dương tính) và âm tính giả (thịt chó bị nhiễm khuẩn tả, nhưng kết quả xét nghiệm âm tính). Chúng ta không biết tỉ lệ dương tính giả và âm tính giả mà các quan chức y tế Hà Nội xét nghiệm là bao nhiêu.

Cần nói thêm rằng họ xét nghiệm 6 mẫu thịt chó, nhưng 5 mẫu có kết quả dương tính (tức tỉ lệ là 83%). Chúng ta có thể nào tin rằng 83% mẫu thịt chó nhiễm khuẩn tả? Tại sao thử nghiệm trên 6 mẫu thịt chó, mà không là 60 mẫu, hay 600 mẫu, hay 6000 mẫu? Cơ sở khoa học nào để chọn 6 mẫu? Quan trọng hơn, 6 mẫu đó được chọn như thế nào, được bảo quản như thế nào? Có rất nhiều vấn đề cần biết, nhưng bản tin trên không cung cấp được những thông tin căn bản đó.

Còn nhớ trước đây khi các quan chức dịch tễ học và WHO tuyên bố với báo chí thế giới rằng ăn thịt chó làm tăng nguy cơ mắc bệnh tả 20 lần. Khi chúng tôi viết thư chất vấn ông trường đại diện WHO ở Việt Nam về bằng chứng khoa học ở đâu, thì ông không cung cấp được bằng chứng! Khi chúng tôi nêu vấn đề ông vi phạm qui ước khoa học trong việc công bố kết quả, ông cũng không trả lời thỏa đáng. Lần này cũng thế, trong khi kết quả chưa công bố trên bất cứ một diễn đàn khoa học nào, nhưng các quan chức y tế Việt Nam đã vội vã tuyên bố rằng họ đã phát hiện khuẩn tả trong thịt chó! Nói cách khác, họ đã vi phạm qui ước khoa học.

Diễn giải thông tin có vi khuẩn tả trong thịt chó như thế nào? Cho đến nay, chưa thấy quan chức y tế giải thích cho chúng ta biết thông tin trên có ý nghĩa gì. Theo ông Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, “đây là một phát hiện mới vì từ trước tới nay chưa phát hiện phẩy khuẩn tả trong đường ruột chó.” Năm 2006, các nhà khoa học Thái Lan phát hiện virút H5N1 trong chó, sau khi chó ăn thịt vịt bị nhiễm H5N1. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Thái Lan tính toán thì xác suất nhiễm như thế rất thấp.

Nếu tìm thấy vi khuẩn tả trong thịt chó, chúng ta có thể kết luận thịt chó là nguồn gây dịch tả? Câu trả lời dứt khoát là không. Muốn kết luận thịt chó là nguyên nhân gây dịch tả, cần phải đáp ứng 4 điều kiện. Điều kiện thứ nhất là vi khuẩn đó phải tồn tại ở tất cả bệnh nhân ăn thịt chó. Điều kiện thứ 2 là vi khuẩn đó phải được tách ra từ chó và có thể nuôi dưỡng trong môi trường thí nghiệm. Điều kiện thứ 3 khi vi khuẩn nuôi trong môi trường thí nghiệm cấy vào chó và làm cho chó mắc bệnh. Điều kiện thứ tư là tư, khi vi khuẩn cấy vào chó và gây bệnh được tách ra phải chính là vi khuẩn được tách ra ở bước 2. Nói cách khác, hiện nay, chúng ta vẫn không thể kết luận gì về thông tin vi khuẩn tả có trong thịt chó, và dứt khoát không thể nói thịt chó là nguyên nhân của bệnh tả hiện nay.

Chúng ta phải làm gì? Đối với công chúng, chẳng làm gì cả. Nên nhớ rằng vi khuẩn tả không thể sống trong nhiệt độ cao. Do đó, ăn uống thịt, kể cả thịt chó, chỉ cần nấu chín là an toàn.

Trước đây, cũng các quan chức y tế khăng khăng cho rằng mắm tôm là nguyên bệnh của bệnh tả, nhưng sau đó thì họ nói mắm tôm vô tội (dù chúng tôi đã phân tích từ lâu rằng mắm tôm không thể là nguồn gây bệnh dịch tả). Hết mắm tôm, nay đến thịt chó bị tố cáo là thủ phạm. Qua kinh nghiệm trước đây, tôi e rằng thịt chó lại bị hàm oan.

NVT

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

Virút phản bội

Hôm qua, qua trang web Diễn Đàn và một blog của Lê Tuấn Huy, tôi mới biết có một trang web “Hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc” tại địa chỉ http://www.vietnamchina.gov.vn/. Chú ý đây là trang web chính thức của chính phủ Việt Nam nhé, có địa chỉ thật tại Việt Nam, vì có tên miền là gov.vn, chứ không phải trang web tư nhân hay của một hội đoàn nào. Thật vậy, phía dưới trang web có đề tên cơ quan chủ quản là “Bộ Thương mại nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, đơn vị thực hiện là “Vụ Thương mại điện tử - Bộ Thương mại nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “Trung tâm Thương mại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”.

Điều đáng nói là trang web này ngang ngược đăng những thông tin chống lại quyền lợi và chính sách của Việt Nam. Chẳng hạn như họ viết “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa cùng vùng biển xung quanh”. (Trung Quốc gọi Hoàng Sa của Việt Nam là Tây Sa). Phản ứng trước việc Việt Nam bổ nhiệm chủ tịch huyện Hoàng Sa, trang web này xấc xược viết: “Cách làm kể trên của phía Việt Nam là trái phép và vô hiệu. Trung Quốc đã nghiêm chỉnh bày tỏ lập trường với phía Việt Nam về việc này”.

Ngoài ra, trang web còn đăng một số thông tin khác với lời lẽ khinh miệt Việt Nam, xem Việt Nam là một chư hầu của Trung Quốc. Người nào có chút tự trọng quốc gia, đọc trang web này có thể bị cao huyết áp hay bị tai biến như bỡn.

Tôi phải hỏi tại sao chính phủ Việt Nam một mặt khống chế báo chí Việt Nam không cho đăng những thông tin mà họ cho là “nhạy cảm” về vụ biên giới và lãnh hải hay vụ bauxite Tây Nguyên, trong khi đó một trang web của chính phủ Việt Nam lại công khai đăng tin chống lại quyền lợi của quốc gia Việt Nam?

Trong khi báo chí Việt Nam im re về những vấn đề bang giao và kinh tế với Trung Quốc thì ở Trung Quốc mấy tháng gần đây họ công khai đăng những bài viết khiêu khích Việt Nam. Có bài của một tác giả mà trong đó hắn bày mưu tính kế để tiến chiếm Việt Nam. Có vài bài viết về vụ bauxite Tây Nguyên mà trong đó tác giả miệt thị những người Việt phản đối dự án này với lời lẽ chẳng khác gì lời lẽ hỗn hào của ông thứ trưởng Bộ công thương Việt Nam hai tuần trước.

Một người Việt Nam mà đi chống lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam thì chúng ta gọi người đó là gì? Ngữ vựng tiếng Việt có từ “phản bội” và “phản quốc”. Trong khi người ta bàn chuyện tiến chiếm nhà mình, mà mình im re và cấm người trong nhà phản đối, thì chúng ta gọi thái độ đó là gì? Ngữ vựng tiếng Việt có nhiều từ để chỉ thái độ này, nhưng tôi nghĩ đến chữ “hèn”.

Hiện nay, Việt Nam đang truy tìm những con virút gây dịch cúm gia cầm để phòng ngừa dịch bệnh, nhưng hình như Việt Nam chưa có phương pháp để truy tìm những con virút phản quốc. Qua trang web mà Lê Tuấn Huy giới thiệu trên đây chúng ta thấy có ít nhất là một con virút phản quốc nó nằm ngay tại đầu não của Việt Nam. Đương nhiên, con virút phản quốc nó nguy hiểm hơn con virút bệnh cúm nhiều, bởi vì nó liên quan đến sự tồn vong của đất nước. Nguy hiểm hơn, con virút này đang lây lan nhanh chóng. Ưu tiên đã rõ: thay vì đi tìm diệt con virút gây dịch cúm mà chúng ta chưa thấy, cần phải truy tìm và diệt con virút phản quốc này.

Lại nhớ Trịnh Công Sơn: một ngàn năm nô lệ giặc Tàu / một trăm năm đô hộ giặc Tây / hai mươi năm nội chiến từng ngày / gia tài của mẹ, một bọn lai căng / gia tài của mẹ, một lũ bội tình.

NVT

Chụp lại một số thông tin trên trang web vừa đề cập:




Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Chuyện lớn: nhà vệ sinh

Báo Tuổi Trẻ vừa đi hai bài liên quan đến nhà vệ sinh ở bệnh viện:

Nhà vệ sinh bệnh viện: Eo ơi, ghê quá!

Chuyện nhỏ nhưng khó làm!

Đây là chuyện nghịch lí (?) ở Việt Nam ta. Một mặt, các quan chức y tế và một số chuyên gia rất tự hào về thành tích chống bệnh truyền nhiễm ở Việt Nam, nhưng mặt khác thì ngay tại các cơ sở y tế vẫn là những cái ổ truyền nhiễm nguy hiểm nhất. Chỉ vài hôm trước đây, một anh bạn tự hào cho rằng Việt Nam có kinh nghiệm “chinh chiến” với bệnh truyền nhiễm, thế nhưng một thực tế là các bệnh truyền nhiễm ở nước ta vẫn là bệnh giết người nhiều nhất. Viêm phổi, viêm họng và viêm Amidan cấp, viêm phế quản và viêm tiểu phế quản cấp, tiêu chảy, viêm dạ dày, cúm gia cầm, cúm chim sốt rét, v.v… cứ “đến hẹn lại lên”.

Thật vậy, một đồng nghiệp tôi vừa đi Hà Nội 4 tuần về, và nhận xét rằng hình như ở các bệnh viện ngoài đó người ta không có khái niệm infectious control (kiểm soát truyền nhiễm) là gì! Cô ấy dùng chữ “khái niệm” = concept. Thế mới đau. Tôi cũng muốn nói một câu phản đối lắm chứ, nhưng làm sao tôi nói được khi thực tế đúng như cô ấy nói. Ngay cả nhà vệ sinh mà còn không làm được chỉnh chu, thì công chúng còn hi vọng gì đến việc lớn hơn? Hay là cổ phần hóa nhà vệ sinh bệnh viện đi, chắc chắn có lời đấy. (Tôi chỉ nói đùa thôi).

Đọc hai bài trên Tuổi Trẻ không làm tôi ngạc nhiên chút nào, bởi vì qua kinh nghiệm thực tế, tôi thấy bài viết hoàn toàn đúng với tình trạng vệ sinh rất tồi tệ ở các bệnh viện hiện nay. Trong ít nhất là 3 bài bút kí trước đây về những chuyến đi Việt Nam tôi cũng có nhắc đến chuyện này, thậm chí còn chụp hình để làm … hồ sơ. Không chỉ là nhà vệ sinh dành cho bệnh nhân và công chúng, ngay cả nhà vệ sinh dành cho nhân viên y tế -- kể cả bác sĩ và y tá – cũng tồi tệ, cùng nhơ nhuốc, cũng kinh hoàng như thế. Tôi nghĩ ngày nào Việt Nam chưa giải quyết được chuyện nhà xí thì ngày đó Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu.

Thử tưởng tượng một du khách đến Việt Nam, bị nhân viên hải quan khám xét xem có mang trong người virút gây bệnh truyền nhiễm như H1N1, vị du khách đó nghĩ gì khi nhìn thấy những nhà xí tồi tệ và cực kì dơ bẩn ngay tại phi trường? Nhà anh còn chưa sạch mà anh đòi khám xét xem tôi có sạch hay không? Đây là vấn đề tư cách. Nhưng nói như thế không có nghĩa là Việt Nam không có quyền khám xét; Việt Nam hoàn toàn có quyền khám xét tuy tìm virút gây bệnh, nhưng động thái của Việt Nam sẽ mạnh hơn và thuyết phục hơn nếu Việt Nam sạch, có cầu xí sạch, có hệ thống nhà vệ sinh tốt ... Nhưng rất tiếc là hiện nay nhà chúng ta vẫn còn dơ bẩn.

Người ta đặt câu hỏi tại sao các nước Tây phương hay Singapore thành công diệt dịch? Câu trả lời là vì họ có hệ thống vệ sinh công cộng tốt, hay nói trắng ra là họ có cầu xí đàng hoàng. Tại sao tuổi thọ của người phương Tây tăng trong vòng 100 năm qua? Câu trả lời không phải do tiến bộ y khoa gì cả, mà chính là họ cải tiến vệ sinh công cộng. Vâng, không phải tiến bộ khoa học hay y khoa làm cho người dân sống lâu hơn, mà chính là do hệ thống y tế công cộng được cải tiến trong vòng 100 năm qua.

Nói như thế để thấy phòng bệnh ở qui mô cộng đồng chẳng nằm đâu xa, mà nó nằm ngay trong tầm tay chúng ta. Không cần đến những ca mổ hoành tráng, không cần đến những máy móc tốn bạc triệu đôla, cũng không cần đến những thuốc với giá trên trời, mà chỉ cần đến nhà vệ sinh, cần đến hệ thống y tế công cộng tốt.

Nhưng cải tiến tình trạng vệ sinh đòi hỏi ý thức của người dân. Phải thú nhận một thực tế (mà bài báo trên TT cũng phản ảnh) là người dân ta còn quá thờ ơ với chuyện vệ sinh. Không hiểu có phải đây là một nét văn hóa của ta hay không. Tôi thấy thật khó hiểu khi có người làm thơ ca ngợi cho việc đi tiêu ngoài đồng! Người ta xây nhà hoành tráng, nhưng rất ít khi nào quan tâm đến nhà xí. Do đó, tôi nghĩ chúng ta cần tiếp thị vệ sinh như là một hàng hóa, một loại hàng hóa đắt giá chứ không phải xoàng. Tôi đã nói qua về ý tưởng này trên ykhoanet.com hồi năm ngoái. Tôi nghĩ rằng chỉ khi nào vệ sinh và nhà xí được “giải quyết” thì nước ta mới thoát khỏi tình trạng lạc hậu và thoát khỏi những cặp mắt khinh khi của người ngoại quốc.

NVT

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2009

Bàn về cách "chấm điểm" giáo sư

Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước (HĐCDGSNN) lại vừa ra qui định và tiêu chuẩn mới cho chức danh giáo sư và phó giáo sư. Qui định mới có phần hợp lí hơn so với các qui định trước, nhưng vẫn còn rất khác và phức tạp hơn so với các chuẩn mực ở nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tôi nghĩ cần phải xem xét lại các tiêu chuẩn mới sao cho phù hợp với đa số các nước trên thế giới. Bài viết này sẽ chỉ ra những khác biệt và bất cập chính về tiêu chuẩn cho chức danh GS/PGS.

Tính điểm bài báo khoa học

Một trong những điểm quan trọng trong việc xét phong GS/PGS lần này là cách tính điểm bài báo khoa học. Theo qui định mới, "bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn" có điểm tôi đa là 2.

Ở đây có hai vấn đề. Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (trên 100.000 tập san) với chất lượng thượng vàng hạ cám. Vì thế, giới khoa học phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là "hệ số ảnh hưởng" (impact factor, IF). Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san. Tập san có IF cao có nghĩa là có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp. Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học. Chưa có một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF.

Những vấn đề thực tế trên cho thấy không thể đánh giá một công trình đăng trên tập san Việt Nam bằng một công trình đăng trên một tập san quốc tế với IF trên 10. Tương tự, cũng không thể xem một bài báo trên một tập san ở Úc, hay Nhật, hay Hàn Quốc, hay Trung Quốc với chỉ số IF = 1 bằng một bài báo trên một tập san ở Mĩ với IF = 20, dù cả hai đều là "tập san quốc tế". Ngoài ra, cũng không thể đánh giá IF của tập san toán với một tập san ngành y học. Do đó, không nên cho điểm một bài báo khoa học một cách máy móc mà không xem đến tập san bài báo đó được công bố.

Nhưng IF chỉ phản ảnh uy tín và chất lượng của một tập san, chứ không phản ảnh chất lượng của bài báo trên tập san đó. Một công trình nghiên cứu có thể công bố trên một tập san có IF cao nhưng không được ai trích dẫn không có giá trị bằng một công trình công bố trên một tập san có IF thấp nhưng được nhiều người trích dẫn. Trong thực tế, có hơn 50% các bài báo trên các tập san quốc tế chẳng bao giờ được ai trích dẫn! Do đó, khi xem xét cho điểm bài báo, cũng cần phải xem chỉ số trích dẫn, chứ không chỉ IF của tập san.

Như nói trên, IF của tập san tùy thuộc vào từng ngành chuyên môn. Độ dao động IF cũng rất khác nhau giữa các ngành chuyên môn. Do đó, tôi nghĩ có một cách để “chuẩn hóa” bằng cách tính chỉ số Z cho một tập san. Nói cách khác, lấy IF của một tập san mà ứng viên công bố trừ cho cho chỉ số IF trung bình của ngành và chia kết quả tính toán cho độ lệch chuẩn trong ngành. Với chỉ số Z, chúng ta có thể so sánh tương đối (chỉ “tương đối” thôi) khách quan giữa các ngành chuyên môn.

Số lần trích dẫn bao nhiêu là phản ảnh chất lượng? Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này. Vì chỉ số trích dẫn còn tùy thuộc theo “văn hóa ngành” (tức một số ngành như toán có chỉ số trích dẫn thấp hơn các ngành khác như vật lí hay sinh học), do đó cần phải điều chỉnh cho từng tập san. Theo đó, nếu số lần trích dẫn của bài báo cao hơn chỉ số trích dẫn trung bình của tập san thì có thể được xem là có chất lượng cao. Chẳng hạn như tập san A có chỉ số trích dẫn trong 10 năm là 35 lần / bài báo, và nếu một bài báo của ứng viên trên tập san đó có số lần trích dẫn trên 35 lần thì được xem là có chất lượng cao.

Cũng như chỉ số IF, chỉ số trích dẫn cũng rất phụ thuộc vào “văn hóa ngành”, và so sánh chỉ số trích dẫn giữa các ngành cũng không công bằng. Bởi vì mỗi ngành đều có những số liệu như chỉ số trích dẫn trung bình và độ dao động, tôi đề nghị tính chỉ số Z cho số lần trích dẫn tương tự như chỉ số Z cho IF.

Vấn đề tác giả

Nhiều công trình khoa học ngày nay thường có nhiều tác giả. Phần lớn các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam thường là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài, và tác giả Việt Nam thường không đứng tên đầu (xem bài “Khoa học Việt Nam đang ở đâu?” của tôi), tức không phải là người chủ trì công trình nghiên cứu. Do đó, nếu một ứng viên có nhiều bài báo khoa học dù trên các tập san có IF cao, nhưng nếu chỉ đóng vai trò “tác giả phụ”, thậm chí “tác giả làm quà” (gift author) thì không thể đánh đồng với một tác giả chính được.

Cần nói thêm rằng, hiện tượng gift author là trong đó các nhà khoa học cho tên của đồng nghiệp hay cấp trên của mình vào danh sách tác giả dù người này chẳng biết hay chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu. Hiện tượng gift author khá phổ biến trong khoa học, nhất là ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong các qui định của Hội đồng chức danh, không thấy nói đến vấn đề tế nhị như tôi vừa đề cập.

Vấn đề nhiều tác giả có liên quan đến văn hóa ngành, và nếu không là người trong ngành rất khó đánh giá công trạng một cách công bằng. Năm 1985, Ủy ban tổng biên tập các tập san y học (International Committee of Medical Journal Editors – ICMJE, còn gọi là Vancouver Group) đề ra 3 tiêu chuẩn cho một tác giả bài báo khoa học. Năm 2000, 3 tiêu chuẩn này được hiệu đính lại, và được giới khoa học quốc tế công nhận là những tiêu chuẩn vàng để qui quyền tác giả. Theo định nghĩa của ICMJE, một thành viên nghiên cứu có tư cách đứng tên tác giả phải hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn sau đây: (1) đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và diễn dịch dữ kiện; (2) đã soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; và (3) phê chuẩn bản thảo sau cùng để gửi cho tập san.

Trong thực tế, rất ít nhóm nghiên cứu tuân thủ theo các tiêu chuẩn trên đây, nhưng thứ tự tác giả thường được hoạch định theo một "văn hóa" của trung tâm nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu ngầm chấp nhận. Các "qui chế" bất thành văn trong các văn hóa này có thể tóm lược như sau:

Văn hóa thứ tự (sequence-determined credit). Theo văn hóa này, tác giả có công nhiều nhất (ý tưởng nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu, phân tích số liệu, viết bản thảo) sẽ đứng tên tác giả số 1, người có công thứ hai đứng tên tác giả 2, và người có công ít nhất đứng tên tác giả sau cùng.

Văn hóa tương đương (equal contribution norm). Theo văn hóa này, tất cả các tác giả có mức độ đóng góp như nhau, và thứ tự tác giả sẽ được quyết định bằng chữ cái của họ. Nói cách khác, tác giả nào có chữ cái là A sẽ đứng tên tác giả đầu, và cứ theo thứ tụ đến tác giả sau cùng có chữ cái của họ là Z.

Văn hóa "đầu chót" (first-last emphasis). Theo văn hóa này, tác giả thứ nhất và tác giả sau cùng là hai người có đóng góp nhiều nhất và chịu trách nhiệm về dữ liệu trong bài báo. Thông thường, tác giả thứ nhất là nghiên cứu sinh tiến sĩ hay hậu tiến sĩ, tác giả sau cùng là trưởng nhóm nghiên cứu của lab hay cơ sở nghiên cứu, và các tác giả theo sau tác giả đầu được xếp theo mức độ đóng góp.

Văn hóa định lượng (percent contribution indicated). Trong văn hóa này, chi tiết về đóng góp của từng tác giả được liệt kê một cách vắn tắt, và định lượng trong nội bộ với nhau. Chẳng hạn như hai hay ba tác giả có đóng góp tương đương nhau, và thứ tự tác giả được sắp xếp theo chữ cái của họ hay theo một phương pháp khá khoa học : đó là ngẫu nhiên hóa !

Do đó, khi xem xét lí lịch của một nhà khoa học, hay đơn đề bạt, hay đơn xin tài trợ của một ứng viên, nếu không biết được văn hóa mà ứng viên xuất thân thì rất khó mà đánh giá khách quan và chính xác cho ứng viên.

Giả dụ rằng sau khi tìm hiểu, chúng ta biết được văn hóa khoa học mà ứng viên xuất thân, vấn đề thứ hai là làm sao để định lượng đóng góp của ứng viên trong những bài báo gồm nhiều tác giả. Gần đây, có một đề nghị rất thú vị và khá hợp lí để giải quyết vấn đề này. Theo đề nghị này, cách tính điểm có thể dựa vào hệ số ảnh hưởng (impact factor) của tập san. Nếu hệ số ảnh hưởng của tập san trong năm là k, cách phân chia điểm theo từng văn hóa có thể tiến hành như sau:

Đối với văn hóa thứ tự (sequence-determined credit), tác giả đầu tiên có k điểm, tác giả hai có k/2 điểm, tác giả 3 có k/3 điểm, v.v...

Đối với văn hóa tương đương, việc tính điểm dễ hơn, vì chỉ cần lấy k chia cho số tác giả trong bài báo.

Đối với văn hóa trước đầu chót, tác giả đầu có k điểm, tác giả chót k/2 điểm, các tác giả còn lại có k/n điểm, trong đó n là tổng số tác giả.

Đối với văn hóa định lượng, mỗi tác giả i có số phần trăm đóng góp (kí hiệu là pi), và điểm cho từng tác giả chỉ đơn giản là kpi.

Vấn đề lạm dụng đứng tên tác giả bài báo ở nước ta chưa được thảo luận chính thức trên mặt báo, nhưng qua phản ảnh không chính thức của nghiên cứu sinh và sinh viên vấn đề tồn tại khá phổ biến ở các trường đại học và trung tâm nghiên cứu. Những "hiện tượng" phổ biến mà người viết bài này từng biết hay được biết qua đồng nghiệp là : vấn đề "sếp" của một nhóm nghiên cứu tiếm công của đồng nghiệp trẻ ; vấn đề các "sếp" chẳng liên quan gì đến công trình nghiên cứu, nhưng là giám đốc bệnh viện hay giám đốc trung tâm nghiên cứu, nên được các tác giả dưới quyền ghi tên tác giả bài báo ; vấn đề được các công ti dược mướn đứng tên tác giả bài báo dù chẳng dính dáng gì đến công trình nghiên cứu.

Cũng có không ít trường hợp có nhiều bài báo, thậm chí sách, mà tác giả chỉ là người dịch từ các bài báo hay sách từ nước ngoài, nhưng lại "vô tư" đứng tên tác giả bản tiếng Việt ! Ngoài ra, một số nghiên cứu sinh tiến sĩ ở nước ta có khuynh hướng coi thường học thuật, xem việc học tiến sĩ hay thạc sĩ của họ là một sự mua bán.

Thậm chí có khi vấn đề đứng tên tác giả vẫn chưa được thể hiện nghiêm chỉnh trong các bài báo khoa học ở trong nước. Chẳng hạn như có bài báo mà tác giả chỉ đề tên họ một tác giả và kèm theo dòng chữ "và cộng sự" hay thậm chí "và cs"! Người ta phải hỏi ai là "cộng sự", và chắc chắn họ phải có tên có họ, tại sao không ghi tên họ rõ ràng. Đây là một việc làm (hay thói quen) không thể chấp nhận (chứ không phải "khó chấp nhận") được trong hoạt động khoa học.

Bài báo khoa học là một "đơn vị tiền tệ" cho sự nghiệp của nhà khoa học. Vì thế, đứng tên tác giả một công trình khoa học có nhiều lợi ích rất thiết thực và quan trọng cho nhà khoa học. Những lợi ích này có thể tóm lược trong 5 khía cạnh sau đây : (a) đóng góp cho sự tiến bộ của khoa học ; (b) thành tựu cá nhân ; (c) bằng chứng về khả năng tri thức ; (d) đóng góp vào sự phát triển của chuyên ngành và danh tiếng ; và (e) thước đo để được đề bạt trong thang bậc khoa bảng, xin tài trợ, và thu nhập vào các hội đoàn nhóm nhà khoa học ưu tú. Do đó, việc xác định công trạng một cách khách quan đóng vai trò rất quan trọng trong việc thẩm định đóng góp của một nhà khoa học. Hi vọng phương pháp trình bày trong bài này góp một phần nhỏ vào chiều hướng đó.

NVT

Thư ngỏ (số 2) về bauxite Tây Nguyên

Mấy tuần trước, một nhóm (hãy tạm gọi là) trí thức ở trong nước có thảo một thư kiến nghị về vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Tôi là một trong 135 người kí tên trong bản kiến nghị đó. Đó là lần đầu tiên tôi kí tên, chứ chưa bao giờ trong đời tôi làm thế, bởi vì tôi thật sự quan tâm đến vấn đề. Vài ngày sau, Bộ công thương có phát tán một thông cáo báo chí [không có người kí] tố cáo chúng tôi đủ thứ chuyện. Bằng một giọng văn hết sức hằn học, và qua cách nói của ông thứ trường Bộ công thương cho rằng bản kiến nghị đó sai, xuyên tạc, và … kích động. Nghe phát ghê! Những người chủ trương bản kiến nghị suy nghĩ một thời gian xem có nên phản hồi ông thứ trưởng hay không, và đi đến quyết định là nên nói chuyện với chính phủ thay vì ông thứ trưởng trịch thượng và có phần hổn láo đó. Lá thư sau đây là thư thứ 2 giải trình về những sai sót của ông ấy. các bạn có thể theo dõi toàn bộ diễn tiến của vụ bôxít này tại trang www.bauxitevietnam.info.

NVT

===


Thư ngỏ (số 2) gửi quý vị lãnh đạo Nhà nước

Việt Nam ngày 7 tháng 5 năm 2009

Kính gửi:
– Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội và toàn thể thành viên
Quốc hội CHXHCN Việt Nam;
– Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng và toàn thể thành viên Chính phủ CHXHCN Việt Nam

Kính thưa quý vị Lãnh đạo,

Tiếp theo Thư ngỏ (số 1) gửi các đại biểu Quốc hội khóa 12, nay chúng tôi gửi Thư ngỏ này (đánh số 2 để tiện theo dõi) nhằm mục đích phân tích những sai trái trong Thông cáo của Bộ Công thương đề ngày 28 tháng 4 năm 2009, trong đó đã sai về nội dung khi phản bác lại các luận điểm của bản Kiến Nghị đối với chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, lại còn sai cả về thái độ khi quy chụp những trí thức đã ký tên vào kiến nghị là “kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, […] thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng”.

Sở dĩ chúng tôi phải dùng hình thức thư ngỏ, vì kinh nghiệm cho thấy quý vị rất hiếm khi – thậm chí không bao giờ – đối thoại với những người gửi thư tới quý vị, ngay cả những công dân có công lớn với đất nước như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh, … thì thư gửi tới quý vị đều không được phản hồi, vậy nên, việc viết thư ngỏ là biện pháp bất đắc dĩ mà chúng tôi phải lựa chọn để công khai cho đông đảo nhân dân xem và phán xét lập luận cùng thái độ của chúng tôi đúng hay sai.

Sở dĩ bài Thông cáo báo chí của Bộ Công thương được tung ra từ ngày 28 tháng 4 năm 2009, nhưng mãi đến hôm nay chúng tôi mới có thư ngỏ này, đó là vì Ban Khởi thảo Kiến nghị không muốn tự tiện, còn phải chờ ý kiến số đông, đặc biệt ý kiến từ các chữ ký tiêu biểu chủ chốt, xem có cần phải trả lời hay không, và nếu có thì nên trả lời thế nào. Vì chúng tôi biết rằng, sai lầm từ một người như ông Thứ trưởng Bộ Công thương thì có thể được làm ngơ, ngược lại những phản hồi này chỉ sai sót chút ít là đủ để nhận những đáp trả không xứng đáng với tư cách chúng tôi.

Kính thưa quý vị,

Ngày 28 tháng 4 vừa qua, đại diện Bộ Công thương phân phát một Thông cáo báo chí trong buổi họp giao ban tại Hà Nội, được cho là đến tay 300 nhà báo, nhưng không có công khai công bố trên bất cứ một tờ báo nào trong nước. Chúng tôi đã may mắn được đọc, và nhận thấy, nội dung của Thông cáo đó có nhiều điều sai, chúng tôi sẽ trình bày qua thư ngỏ này.

Trước hết, đề cập chung đến bản Kiến nghị ngày 12 tháng 4 năm 2009 về chủ trương khai thác Bauxite Tây Nguyên, một văn bản đầu tiên gồm 135 chữ ký tự nguyện của giới trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, tập hợp đủ các ngành nghề, kể cả những người có chuyên môn liên quan đến các lĩnh vực tài nguyên, môi trường, kỹ thuật khai thác v..v... và hiện đang được sự ủng hộ ngày càng tích cực của mọi người, chí ít là chưa thấy một lời lẽ phê phán nào, càng không thấy có ai chống lại. Chưa bao giờ thấy hiện tượng cả ngàn người nhất trí ký tên vào bản Kiến nghị trong đó rất nhiều người không quen biết nhau mà mới chỉ “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”, thế mà bản Thông cáo báo chí của Bộ Công thương lại nói về những chữ ký đó một cách hàm hồ và chụp mũ trắng trợn như sau:

“[…] bên cạnh những ý kiến đúng đắn đó, có nhiều ý kiến rất kém xây dựng, hoàn toàn dựa trên những thông tin sai lệch, dựng chuyện, trầm trọng hóa, thậm chí mang tính kích động và bị các tổ chức phản động lợi dụng. Thể hiện rõ nhất là nội dung bản kiến nghị với nhiều thông tin không chính xác”.

Chúng tôi tạm bỏ qua chưa phân tích “kết luận” trên của Bộ Công thương, bỏ qua cả những kiểu cách quy chụp rất trịch thượng trong ngôn từ mà Bộ Công thương sử dụng, chỉ xin đi vào những lý lẽ cụ thể đã được Bộ Công thương phản bác .

Kính thưa quý vị,

Ý kiến thứ nhất của chúng tôi được Bộ Công thương trích dẫn như sau:

“Chủ trương lập dự án được công khai hóa vào cuối năm 2008 sang đầu năm 2009, song thực ra nó đã được “ký tắt” với người Trung Quốc từ nhiều năm về trước mà không hề xin ý kiến nhân dân thông qua Quốc hội do dân bầu ra; toàn bộ báo cáo tiền khả thi chưa bao giờ được trình ra trước nhân dân và đại diện của nhân dân tức Quốc hội”.

Giải trình của Bộ Công thương:

“Đây là nội dung hoàn toàn sai trái: Các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin đã được nghiên cứu từ rất lâu, trong giai đoạn hợp tác với các nước khối SEV. Chủ trương phát triển ngành công nghiệp này đã được nêu trong văn kiện của hai Đại hội Đảng IX, và X. Bộ Chính trị đã xem xét và có nhiều chỉ đạo về vấn đề này, giao cho Chính phủ lập quy hoạch. Dự án Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite gian đoạn 2007-2015, có xét đến 2025 được xây dựng từ những năm 2005, trong quá trình xây dựng có nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học, doanh nghiệp trong và ngoài nước v.v. Dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007”.

Chúng tôi xin phản hồi như sau:

– Đầu thập niên 1980, Việt Nam yêu cầu khối SEV (Hội đồng Tương trợ Kinh tế hay COMECON) nghiên cứu dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin của Việt Nam. Mặc dù Liên Xô đang phải nhập khẩu 50% bauxite, chuyên gia Liên Xô, thông qua khối SEV, vẫn khuyến cáo Việt Nam "không nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư chẳng những tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Chính phủ khi đó đã quyết định không khai thác bauxite mà gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên"(1). Lúc ấy Tổng Bí thư là Lê Duẩn và Thủ tướng là Phạm Văn Đồng.

– Tháng 12 năm 2001, sau Đại hội Đảng IX, tân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bauxite nhôm Đắc Nông”(2).

– Tháng 5 năm 2002, báo chí Trung Quốc đưa tin: Năm 2001, Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 800 triệu đô la Mỹ ở Tây Nguyên; Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo tiền khả thi sơ khởi về khả năng sản xuất hàng năm 1 triệu tấn alumin ở Đắc Nông(3).

– Tháng 12 năm 2003, báo chí Trung Quốc đưa tin: Aluminium Corp of China Ltd (Chalco) tham gia dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên; Việt Nam và Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ cho dự án trị giá 1.35 tỷ đô la Mỹ và hai bên sẽ hoàn chỉnh báo cáo tiền khả thi cho dự án(4).

– Tháng 12 năm 2005, báo chí Trung Quốc đưa tin: Chalco đã ký một thỏa thuận ban đầu với Tập đoàn nhà nước Tổng công ty Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) để cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên(5).

Tất cả những dữ kiện nêu trên đều xảy ra trước Đại hội Đảng X tổ chức vào tháng 4 năm 2006 khi vấn đề khai thác bauxite, sản xuất alumin mới lại được đề cập đến. Tuy nhiên, ngay cả khi “có chủ trương” rồi, thì tuyệt đại bộ phận nhân dân Việt Nam vẫn không được thông báo về chủ trương và dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin cho đến khi tin tức về dự án và phản biện được công khai hóa trên phương tiện truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuối năm 2008.

Như vậy, giải trình của Bộ Công Thương là hoàn toàn không trung thực chứ không phải nội dung bản Kiến nghị của chúng tôi là sai trái, theo Thông cáo báo chí của họ.

Kính thưa quý vị,

Ý kiến thứ hai được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):

“Người Trung Quốc đóng cửa các mỏ khai thác bauxite của họ để chuyển sang khai thác ở Việt Nam, định trút gánh nặng ô nhiễm môi trường cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và nhiều đời mai sau – những hành động y hệt như họ đã và đang làm ở châu Phi với sự giúp sức của những chế độ cai trị tham nhũng tại châu lục này, và đang bị dư luận thế giới theo dõi chặt chẽ và hết sức công kích”.

Ý kiến thứ ba được Bộ Công thương trích dẫn (bản Kiến nghị nói rằng):

“Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc, một cường quốc mới nổi dậy với nền kinh tế đang giàu lên nhưng bên trong vẫn chứa đựng không ít thực trạng bất khả tín, trong đó liên quan đến vấn đề khai thác bauxite là sự “nổi tiếng” của Trung Quốc trên toàn thế giới hiện đại như là một quốc gia gây ô nhiễm môi trường vào bậc nhất, chưa kể những “vấn nạn” khác (chỉ mới trong tháng Ba vừa rồi Chính phủ nước Úc đã phải hủy bỏ một dự án khai thác khoáng sản ở Nam Úc ký với Trung Quốc vì lý do quốc phòng)”.

Giải trình của Bộ Công Thương:

“Như trên đã nêu, hiện nay ở Tây Nguyên chỉ có 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ là do ta tự đầu tư (chủ đầu tư là Tập đoàn nhà nước TKV) mà không phải là dự án liên doanh với nước ngoài. Nội dung bản kiến nghị cố tình xuyên tạc sự thật, mang tính kích động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Đảng và Nhân dân hai nước.
…
"Đến thời điểm hiện nay, chưa có bất kỳ một dự án nước ngoài nào hoặc liên doanh nào về khai thác bauxite, sản xuất alumin tại Việt Nam được thỏa thuận. Việc dự kiến hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài như Alcoa (Mỹ), Chalco (Trung Quốc), Uc-Russal (Nga) vẫn đang được các doanh nghiệp Việt Nam đàm phán và chưa có kết quả. Như vậy thông tin về việc Trung Quốc đóng của các mỏ bauxite và chuyển sang khai thác bauxite ở Việt Nam là không có tính hiện thực và không đúng với tình hình thực tế.

“Về vấn đề “Kỹ thuật, công nghệ và nhân công khai thác dự định du nhập chủ yếu từ Trung Quốc…”:

"Đối với dự án nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ, Tổng thầu gói thầu EPC là Công ty Chalieco, Trung Quốc (Công ty con của Chalco). Trong quá trình xét thầu, hồ sơ dự thầu của Công ty này đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu; Chalieco cam kết chuyển giao công nghệ sản xuất alumin tiên tiến. Thực tế sản phảm alumin của Chalco đạt tiêu chuẩn để sản xuất nhôm và có tính cạnh tranh trên thế giới. Tại cuộc Hội thảo khoa học ngày 9 tháng 4 năm 2009, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã giao nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra việc chuyển giao công nghệ sản xuất alumin, đảm bảo công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường”.

Chúng tôi xin phản hồi như sau:

– Theo các báo quốc tế cũng như theo báo chí Trung Quốc, trong vòng hơn 5 năm nay, hàng ngàn doanh nghiệp khai thác quặng mỏ (bauxite, than, v.v.) của Trung Quốc phải đóng cửa do những quy định mới về bảo vệ môi trường hay đòi hỏi canh tân kỹ thuật. Trong cùng thời gian, doanh nghiệp lớn như Chinalco không ngừng mở rộng thị trường khai thác bauxite, sản xuất alumin ra nước ngoài như Brazil, Australia, Guinea hay Việt Nam(6).

– Tháng 11 năm 2006, hãng thông tấn Reuters đưa tin trong thời gian Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC ở Hà Nội, Chalco và TKV đã ký hiệp nghị khung cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin trị giá 1.6 tỷ USD(7).

– Tháng 5 năm 2007, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalco và TKV đã thỏa thuận cùng hợp tác trong dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin. TKV và Chalco sẽ thành lập liên doanh bauxite trong đó TKV nắm 51% vốn và thành lập liên doanh alumin trong đó Chalco nắm 60% cổ phần(8).

– Tháng 5 năm 2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viếng thăm Trung Quốc và ký tuyên bố chung giữa hai nước, trong đó có đề cập: “[...] Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cuờng hợp tác trong các dự án như: Bô-xit Đắc Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác”.

– Tháng 7 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin Chalieco và TKV đã ký thỏa thuận tổng thầu gói thầu EPC xây dựng nhà máy sản xuất hàng năm 0.6 triệu tấn alumin tại Bảo Lâm, Lâm Đồng(9).

– Tháng 9 năm 2008, báo chí Việt Nam (bản tiếng Anh) đưa tin dự án khai thác bauxite giữa Chalco và TKV ngưng trệ do bất đồng trong vấn đề xây dựng hạ tầng cơ sở(10).

Tất cả những dữ kiện nêu trên nhấn mạnh hai điểm chính:

– Việc các doanh nghiệp Trung Quốc khai thác quặng mỏ ảnh hưởng nguy hại đến môi trường và việc họ mở rộng lãnh vực khai thác quặng mỏ ngoài Trung Quốc là một thực tế không thể chối cãi.

– Các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin ở Tây Nguyên và đang ráo riết thúc đẩy Việt Nam trong quá trình thi công. Mọi chậm trễ, nếu có, chỉ là yếu tố nhất thời.

Kính thưa quý vị,

Trong phần kết lá thư gửi Hội thảo về bauxite ngày 09/4/2009 tại Khách sạn Melia, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có lời khuyên hết sức thẳng thắn là:

“[…] không nên khai thác.
Vì đứng về lợi ích toàn cục và sự phát triển bền vững lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng.”

Những điều được viết trong bản Kiến nghị của cả ngàn chữ ký chúng tôi chỉ là biểu hiện lý trí và tình cảm đã được Đại tướng bộc bạch. Qua văn bản kết luận gần đây của Đảng và Thủ tướng Chính phủ, nhân dân Việt Nam nhận thấy có nét tư duy tích cực, đã đặt ra yêu cầu thận trọng khi xử lý vấn đề bauxite Tây Nguyên(11). Song, chúng tôi vẫn thấy cần vạch ra mấy xu thế sau đây:

Có ý kiến cho rằng, do cam kết quốc tế, Việt Nam không thể ngưng dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin!

Tình hình cụ thể cho thấy: nhân dân Việt Nam thông qua Quốc Hội, cơ quan quyền lực tối cao của mình, chưa hề có dịp biểu quyết về chủ trương làm bauxite ở Tây Nguyên. Nếu bên “cam kết quốc tế” thực sự tôn trọng quyết định của cả dân tộc Việt Nam, thì đó là điều tốt cho họ. Còn không, nhân dân Việt Nam đã biết dựng nước thì cũng biết giữ nước. Nhân dân Việt Nam từng trải nhiều ách nô lệ, chắc chắn không một ai vì quyền lợi riêng mà bênh “bên đối tác” và phản bội lại dân tộc mình.

Có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế khu vực cho Tây Nguyên là một nhu cầu cấp bách, trong đó trữ lượng bauxite của Việt Nam lớn hàng thứ ba trên thế giới, nên càng cần tận dụng nguồn tài nguyên này vào phát triển kinh tế!

Tình hình cụ thể cho thấy: Dân tộc ta vừa ra khỏi chiến tranh, kinh nghiệm xây dựng đất nước vẫn còn non nớt. Tình trạng đó thể hiện ở năng lực yếu khi quản lý những hạng mục lớn mà thực tế làm ăn thất bát trong việc nhập hàng loạt các nhà máy mía đường, vụ ô nhiễm kéo dài cả chục năm do nhà máy bột ngọt Vedan gây ra, vụ “quy họach” ồ ạt các sân golf … chỉ là mấy thí dụ quá nhỏ. Việc học tập xây dựng một đất nước PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG không dễ dàng gì khi còn có đầu óc quản lý lối tiểu nông, khi còn có tệ nạn tham nhũng, và khi bắt đầu hình thành những tập đoàn lợi ích rất khó kiểm soát.

Nếu có ai đó đã nói “không khai thác bauxite bằng mọi giá”, thì mong rằng đó là lời nói chân thành. Người biết nghĩ như thế hãy đấu tranh chống lại lối suy nghĩ kiểu cờ bạc, đem dân tộc ra đặt 50/50 vào một canh bạc chắc gì đã năm ăn năm thua?

Cũng đấu tranh cả với thói vô trách nhiệm, thể hiện trong những cách phát ngôn thiếu suy nghĩ, thiếu tầm vóc của người có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Pháp quyền.

Kính thưa quý vị,

Vì hoàn toàn tin cậy vào quý vị, lại hy vọng rằng quý vị cũng cùng tâm tư với chúng tôi, nghĩa là cùng đặt quyền lợi Tổ quốc trên hết, chúng tôi trông đợi những quyết định đầy bản lĩnh và đầy trách nhiệm của quý vị. Khó khăn nào hơn khi Đại tướng thân yêu của chúng ta quyết định kéo pháo ra, chậm cuộc tổng tiến công lại, song Ngài đã làm được điều đó, và tên tuổi Ngài sẽ sống mãi cùng non sông đất nước!

Xin cám ơn quý vị Lãnh đạo đã lắng nghe lá Thư ngỏ số 2 này, trong đó chứa đựng những lời tâm huyết của những con người chỉ muốn rảnh rang làm công việc sáng tạo âm thầm của mình, không một mảy may thu vén cho riêng mình trong vụ việc liên quan đến dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin.

Xin chân thành cảm ơn quý vị,

Thay mặt các chữ ký Kiến nghị Bauxite Tây Nguyên

GS Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, GS TS Nguyễn Thế Hùng

Phụ chú:
(1). Thư Đại tuớng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 14/01/2009
(2). http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335
(3). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2002-05/09/content_118721.htm
(4). http://www.chinadaily.com.cn/en/doc/2003-12/05/content_287458.htm
(5). http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/20/content_504770.htm
(6). “Refined Brown Aluminum Oxide from China”, U.S. International Trade Commission, March 2009; “Bauxitee and Alumina [Advanced Release]”, U.S. Department of Interior, U.S. Geological Survey, November 2008; Thailand Office of Industrial Economics Report, April 2005
(7). http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSHAN21294820061117
(8). http://english.vietnamnet.vn/biz/2007/05/698557/
(9). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=40298
(10). http://www.thanhniennews.com/business/?catid=2&newsid=41689
(11). http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/04/844142/
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/846241/
http://vietnamnet.vn/xahoi/2008/10/810281/

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2009

Một chuyến đi Phú Quốc

Cuối năm ngoái, trong một chuyến công tác ở Việt Nam (đi làm thuê cho một công ti thuốc), tôi có cơ duyên ra Phú Quốc đúng 1 ngày rưỡi. Chuyến đi ngắn ngủi đó để lại trong tôi nhiều kỉ niệm đẹp những cũng một vài suy tư mà hôm nay tôi mới có dịp giãi bày ở đây.

Số là năm trước đó, trong lúc ở phi trường Tân Sơn Nhất chờ máy bay đi về Sydney, tôi có dịp trò chuyện với một du khách trẻ người Úc, loại “Tây ba lô”, mới đi Phú Quốc về. Trao đổi một lúc tôi mới biết anh chàng này mua vé discount đặc biệt của hãng Jet Star giá chỉ có 83 đô-la, và thế là anh ta có một chuyến đi 2 tháng trời từ Cambodia sang Việt Nam. Biết anh ta từng ghé Kiên Giang và Phú Quốc một tuần, tôi cho anh ta biết tôi là người Kiên Giang, rồi hỏi anh ta tình hình Phú Quốc ra sao, anh ta buồn buồn nói: “Tao sợ Phú Quốc sẽ chết trong tương lai”. Tôi ngạc nhiên hỏi sao mày lại nói thế. Anh ta nói anh ta chỉ thích một Phú Quốc hoang sơ, thiên nhiên, không có khách sạn 5 sao hay resort gì cả, nhưng rất tiếc là Phú Quốc đang đô thị hóa nhanh quá, và mai sau, có lẽ không còn bãi biển công cộng nữa. Anh ta còn hài hước nói với tôi trước khi chia tay mỗi người một phương: Tao nghĩ mày nên đi Phú Quốc nhanh lên, chứ không thì mày sẽ không còn thấy Phú Quốc của mày như hồi xưa đâu. Tôi nhớ hoài lời cảnh báo đó, nên nhất định phải đi Phú Quốc một lần cho biết.

Dịp may đó đến một cách tình cờ. Hôm đó là một ngày giữa tháng 12/2008, sau khi xong công việc, tôi định mua vé máy bay về Kiên Giang thăm nhà rồi sẽ đi Phú Quốc một hai ngày trước khi về Sydney. Nhưng vé máy bay đã được mua hết cả tháng trước, không cách gì mua được. Nhờ tình hình kinh tế khá lên, người dân có khả năng đi máy bay từ Kiên Giang đến Sài Gòn, và ngược lại, bởi vì giá cả không quá đắt mà lại rất tiện lợi và nhanh chóng. Thời gian bay giữa Kiên Giang và Sài Gòn chỉ 35 phút, thay vì phải gồng mình cho 6 tiếng xe đò trên những con đường tồi tệ nhất đất nước Việt Nam. Viết đến đêy tôi thấy máu mình như nóng lên. Thật vậy, quốc lộ từ Sài Gòn về miền Tây là con lộ tồi tệ nhất, thê thảm nhất, giết người nhiều nhất ở Việt Nam. Không còn danh từ nào khác để dùng. Mỉa mai thay cho một vùng lúa gạo trù phú nhất đất nước! Quay lại chuyến đi của tôi, định quay sang mua vé xe thì tôi chợt nhớ đến anh Đ ở Bệnh viện Kiên Giang, vì anh rất tài trong việc dàn xếp đi lại. Tôi gọi điện cầu cứu anh Đ xem có cách nào không, thì anh hỏi tôi đang ở đâu. Đang ở Sài Gòn nè. Anh nói vậy thì hay quá vì anh ta sắp lên Sài Gòn để đón một ông VIP từ Ý sang bàn về tài trợ thiết bị xạ trị cho bệnh viện, có gì tôi sẽ cùng đi với ông VIP này và anh về Kiên Giang luôn, và sẵn đó giúp anh ta một vài việc. Trời ơi, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh! Tôi ok ngay.

Đi Phú Quốc

Ngày hôm sau, anh Đ có mặt ở SG, và chúng tôi kéo nhau ra một quán ăn để chờ hai vị khách khác từ Hà Nội vào sẽ cùng đi với ông Tây đó về Kiên Giang. Tưởng là máy bay sẽ đáp xuống phi trường Rạch Sỏi, ai dè nó bay tuốt ra Phú Quốc! Mà, anh Đ thì ít nói, anh cũng chẳng nói cho tôi biết là mình đi đâu. Ngay cả ông VIP ngồi bên cạnh tôi cũng hỏi: “Bọn mình đang đi đâu đây mày?” Tôi nói đùa “Tao cũng như mày, có biết gì đâu, nhưng mày yên tâm, không ai bắt cóc mình đâu”. Chúng tôi cười thoải mái. Sau này tôi mới hiểu là anh Đ muốn đưa ông VIP đó đi Phú Quốc chơi ngày Thứ Bảy và Chủ nhật trước khi về làm việc ở bệnh viện. Đúng là một chiêu ngoại giao rất tinh vi. Nhưng tôi thì đương nhiên là chẳng phàn nàn gì cả; ngược lại, tôi rất vui và thấy mình đúng là may mắn quá.

Từ trên máy ATR nhìn xuống toàn cảnh đảo Phú Quốc tôi thấy lòng mình cứ nao nao, khó tả. Đây là nơi tôi từng đi công tác vài lần sau ngày giải phóng, từng viết bài phóng sự (thời đó tôi viết hăng lắm) cho Đài tiếng nói Việt Nam, thậm chí gửi đang cả báo Nhân Dân. Những địa danh như Dương Đông, Dương Tơ, An Thới, Bãi Thơm, Hàm Ninh, Gành Dầu, v.v… cứ vang lên trong tôi. Cảm giác lúc đó giống như là cảm giác của một đứa con lạc loài sắp về đất mẹ. Nghe thì hơi cải lương đấy, nhưng thật sự tôi thấy mình như thế.

Máy bay ATR (không phải ảnh của tôi)

Máy bay do phi công Việt điều khiển đáp xuống êm ru. Phi trường Phú Quốc nằm ở Dương Đông thật ra chỉ là một bãi đất rộng, chung quanh bao bọc bởi cỏ dại. Nhưng đường băng thì cũng rất chuẩn, ít ra là chuẩn như các phi trường địa phương ở Úc hay Mĩ. Bước ra máy bay tôi ngạc nhiên thấy nhà ga phi trường rất [nói theo dân địa phương] là hoành tráng. Nhà ga được xây theo kiến trúc hiện đại, cổng vòng cung, sử dụng nhiều đường nét curvature, chẳng khác gì một nhà ga ở nước ngoài. Thật ra, so với nhà ga phi trường Dubbo ở Úc mà tôi thường ghé, thì nhà ga Phú Quốc tốt hơn và hiện đại hơn cả 10 lần. Tôi mừng.

Nhà ga phi trường Phú Quốc

Vào nhà ga, đang chờ lấy hành lí thì gặp M, thằng em họ hành nghề bác sĩ mới đi học ở Mĩ về, nghe nói đang làm cho Sở Y tế. Tôi ngạc nhiên hỏi “ủa sao em có mặt ở đây, làm gì ở đây”, nó nói: “đón đoàn các anh”. Trời, tôi ngán chữ “các anh”, vì tôi chỉ là người đi ké, chứ cái ông Tây bên cạnh tôi mới là VIP. Sau này tôi mới biết là vì phía bệnh viện sợ không có ai đi cùng ông VIP mà thạo tiếng Anh để nói chuyện vơi ông ấy, nên phải cử M ra đây để đón. Nhưng thấy tôi thì chắc M nó nghĩ nó mất việc làm. Tôi hiểu, nên khi đi lên xe, tôi để cho M và ông VIP trò chuyện, còn tôi thì … chụp hình chung quanh.

Vì thời gian có hạn, nên anh Đ đề nghị đi thẳng lên một quán ăn bình dân ở phía Bắc của đảo. Thế là cả đoàn lên xe đi về quán. Xe đi trên một con lộ đá duy nhất, băng qua những cánh rừng nguyên sinh, những cánh đồng trồng tiêu mênh mông, tôi thấy mình như lạc vào thiên nhiên của cả trăm năm trước khi ông cha ta ra đây lập nghiệp. Hai bên đường cũng có nhà dân, nhưng nhà cửa rất tạm bợ, và chỉ nhìn qua có thể nói là dân ở đây còn rất nghèo. Không hiểu sao mỗi lần đi qua nhìn một đứa bé lam lũ áo rách tơi làm tôi đau thót ruột, có khi không dám nhìn. Tôi nghe ông VIP trò chuyện với M và suýt xoa khen cảnh đẹp Phú Quốc.

Biên Hải Quán

Quán ăn có cái tên rất độc đáo: “Biên Hải Quán”. Quán ăn rất bình dân, nằm ngay bên cạnh biển, nhìn ra rất … trữ tình. Ai có tâm hồn thơ rất dễ thốt thành thơ khi ngồi ở quán này. Biên Hải Quán đúng với địa điểm của nó, vì nằm ở khu Gành Dầu, cực Bắc Phú Quốc. Từ đây nhìn sang Cambodia thấy rất rõ xe cộ giao thông bên ấy. Thật ra, mấy ngư dân bên Cambodia vẫn sang Việt Nam ăn uống và đánh cá, nhưng “phe ta” thì lờ đi, vì chắc muốn giữ tình hữu nghị.

Quán còn là chỗ quen biết của bệnh viện. Vì thế, xe mới ghé, và khách mới bước vào quán là chủ quán biết ngay, cứ như là lâu ngày gặp lại người quen vậy. Chủ quán là người gốc Rạch Giá, mới ra đây lập nghiệp vài năm, nên rất rành bệnh viện và các bác sĩ ở đó. Ông chủ quán tên là Hai Trang, nhưng người quen thì gọi là Út Trà Đá, một cái tên ấn tượng, vì ông thích uống trà đá!

Lúc đó đã 2 giờ chiều. Nắng chói chang. Nhìn ông VIP cứ lấy khăn lau mặt mà tôi thấy … tội nghiệp. Thật ra thì tôi cũng có hơn gì ông ấy, tôi cũng thấy nóng lắm chứ, mặt đỏ cả, nhưng cũng làm gan để là dân địa phương nên không lên tiếng than gì cả. Anh Đ có lẽ biết ý nên kêu bia ra uống trước, nói chuyện trên trời dưới đất, rồi mới tới ăn sau. Thử tưởng tượng, một buổi trưa hè, trước một bãi biển đẹp rợn người, bên cái quán cóc này, mà có bia uống thì có lẽ cũng đành quên đời, đáng bỏ lại những bươn chải trong đời sống để hưởng một vài giờ thần tiên lắm chứ.

Món ăn đương nhiên là toàn hải sản, bởi vì quán chỉ có bán hải sản chứ không có gì khác. Mà, hải sản tươi, chứ không phải để trong tủ lạnh cả tháng trời như ở Úc đâu nhé. Mực tươi, cá tươi, tôm tươi, sò tươi, và nhất là con gì tròn tròn đen có gai dài khi nướng lên ăn gạch rất ngon. Ông VIP nói ở bên Ý cũng có con này, nhưng họ ăn sống chứ không nướng. Hôm đó, bữa ăn bình dân mà còn rất vui vì được chính ông chủ quán Út Trà Đá cầm đờn ca cải lương cho khách nghe. Nghe nói ông chủ quán là dân rất văn nghệ, nên khi có khách đông là ông thích cầm đờn ngồi ca cải lương tài tử vừa thể hiện văn nghệ tính của mình, vừa giúp vui cho thực khách. Thú thật, tôi rất ấn tượng với hình ảnh một người nghệ sĩ tài tử cầm đàn ca hát cải lương giữa nơi biển cả mênh mông này. Tôi hứa trong lòng lần sau sẽ quay lại quán này để không phải chỉ ăn mà muốn nghe cải lương.

Tôi có “thăm” nhà vệ sinh của quán và thấy còn quá thô sơ. Tôi không dấu được cảm tưởng của mình, nên tôi nói nhỏ với chủ quán là nên xây lại cái nhà vệ sinh cho sạch sẽ hơn và kín đáo hơn, chứ để như thế này thì khách Tây rất ngại. Ông cầm tay tôi và nói lời cảm ơn rối rít.

Ăn và làm

Ăn uống xong, chúng tôi lên xe đi vài chỗ tham quan khác, rồi về khách sạn Thiên Hải Sơn ở Dương Đông. Khách sạn không phải loại sang gì, nhưng hình như cũng tiêu chuẩn 3 sao, rất sạch sẽ, và rộng. Khách sạn có cả hệ thống wifi mà nhiều khách sạn Tây phương 4 sao còn không có (hay có mà charge cái giá trên trời để khách không ai dám sử dụng). Check-in phòng xong thì trời cũng đã xế chiều. Nói chuyện một hồi thì trời cũng tối. Thấy biển là tôi muốn nhảy xuống tắm rồi. Thành ra, tôi đề nghị M và một anh bạn từ Hà Nội đi … tắm. Ai cũng tưởng tôi điên, vì trời tối rồi, cũng 7 giờ gì đó mà đi tắm thì quả là hơi bất thường. Nhưng tôi nói mình chỉ còn ở đây đêm nay, còn ngày mai thì có chương trình đi và trưa thì về Rạch Giá rồi, không tắm đêm nay thì sẽ không có cơ hội gần nữa. Thế là 3 người đi tắm biển. Biển mênh mông, rất êm, trời tối như mực, nhưng chỉ có … 3 đứa chúng tôi. Thật là thích, vì chẳng ai quấy rầy, và mình tha hồ thả hồn theo con nước.

Tắm xong thì lại đến giờ đi nhậu, ăn tối. Chúng tôi kéo nhau đến một quán ở trên một khách sạn khác. Quán này khá sang trọng, và đồ ăn thật ngon. Vẫn “món ruột” của Phú quốc là hải sản. Tôi chỉ thích món gỏi cá trích, và hôm đó tôi thật sự thích món này. Loại cá này phải ở Phú Quốc thì mới ngon. Cá chích ướp với củ hành tím và dầu cùng nước cốt chanh, cuốn với bánh tráng và rau sống, chấm nước mắm chua ngọt, thì không cần nghĩ đến ngày mai sẽ ra sao, ta cứ thưởng ngày hôm nay cái đã. Lúc đó, câu nói “Xin cho con một ngày dùng đủ” nó hợp thời hợp cảnh làm sao! Ngay cả ông VIP người Ý lần đầu ăn cá này mà ông ấy cũng khen ngon. Không ngon sao được, nếu so với mấy món bánh tằm của Ý hay món pizza thì gỏi cá trích phải ngon hơn cả triệu lần.

Trên bàn tiệc, qua trao đổi, tôi mới phát hiện là “phe ta” chưa chuẩn bị gì cho buổi làm việc ngày thứ Hai! Tôi nói với anh Đ là mình phải tỏ ra chuyên nghiệp (professional) trong lần làm việc này với ông Ý này. Tôi đề nghị là phải thảo một lịch trình làm việc cho ông ấy vào ngày thứ hai, cụ thể từng giờ và phút, như giờ nào ai đón ông ta ở khách sạn; giờ nào ăn sáng, ở đâu; giờ nào làm việc ở khoa nào, gặp ai; giờ nào ăn trưa, ở đâu; và giờ nào ông ấy sẽ ra phi trường, v.v… Ngoài ra, còn phải có hai phiên bản powerpoint, một bản tiếng Việt và một bản tiếng Anh, có đầy đủ thông tin y tế về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, về Kiên Giang, về bệnh viện, v.v… Mục tiêu là làm sao phải chứng minh cho thấy đây là vùng nghèo và thiệt thòi, để ông ấy thấy tài trợ vào đây là đúng chỗ. Mà, tôi thật sự tin là vùng quê tôi là vùng nghèo, nên tôi dù có lên trời xuống biển, tôi cũng phải chứng minh cho được điều đó.

Thế nhưng cái khó là chưa có ai chuẩn bị gì cả. Cũng chẳng có thông tin gì cả, hay có thông tin nhưng chưa thật sự thích hợp mấy. Thế là tôi bàn với anh Đ và M là khi về khách sạn, chúng ta phải làm việc đêm nay chứ không ngủ trước 12 pm được. Một điều rất may mắn là như tôi đề cập trên khách sạn có wifi, và thế là đêm đó, tôi và M ngồi trong phòng tôi, 2 cái laptop làm việc tưng bừng. M đi tìm tài liệu trên net, cùng với tôi soạn phần tiếng Việt, sau đó chuyển sang phần tiếng Anh. Ấy thế mà đến gần nửa đêm, chúng tôi soạn xong hai bài nói chuyện trên powerpoint bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Phần trình bày đẹp, chuyên nghiệp, chuẩn quốc tế, từ câu chữ đến số liệu, biểu đồ đều rất “chiến lược”. Tôi có một đêm ngủ yên giấc, và thấy mình cũng đạt được “outcome” cho ngày sắp tới. Đúng như tôi dự đoán, buổi làm việc ngày thứ Hai diễn ra ở bệnh viện rất tốt. Ông VIP cứ nói với tôi rằng ông ấy đi làm việc ở Việt Nam cũng nhiều, nhưng đây là lần làm việc “methodical” (chữ của ông, có nghĩa là hệ thống) nhất và chuyên nghiệp nhất.

Chó, nước mắm và bảo tàng Phú Quốc

Sáng hôm sau, chúng tôi đến tham quan khu nuôi chó Phú Quốc, một nhà sản xuất nước mắm, và một viện bảo tàng tư nhân. Chó Phú Quốc là một giống chó đặc biệt từ đặc tính hình thể đến tính thông minh. Chó Phú Quốc có lông xoáy trên lưng và chân có màng như chân vịt, tuy thân hình không to nhưng nhìn rất cường tráng. Điều đặc biệt là chó Phú Quốc có khả năng bơi lội giỏi và săn bắt giỏi. Có người từng mua chó Phú Quốc về nuôi ở đất liền, nhưng hình như không mấy thành công vì chúng không thích nghi với môi trường đất liền và tỉ lệ tử vong rất cao. Nói chuyện với người chủ trại nuôi chó Phú Quốc, anh nói không ai biết nguồn gốc của chó Phú Quốc đến từ đâu. Có người nói là từ Thái Lan từ khoảng 400 năm trước, nhưng các chuyên gia cho rằng giả thuyết này không thể đứng vững và cũng chẳng có bằng chứng nào phù hợp với giả thuyết đó. Theo tôi, chỉ có một cách là phân tích gien. Chỉ có thể phân tích gien, chúng ta mới biết hay ít ra là truy tầm được nguồn gốc của chó Phú Quốc.



Một con chó Phú Quốc

Đến Phú Quốc mà không ghé qua mua vài chai nước mắm thì quả là một thiếu sót. Do đó, trong chuyến đi ngắn ngủi này, tôi tranh thủ ghé qua một hãng làm nước mắm nổi tiếng ở Phú Quốc (mà tôi đã quên tên). Chúng tôi được người làm trong hãng dẫn đi cho xem cách làm nước mắm ra sao và cách pha chế như thế nào. Vào phòng làm nước mắm, với những cái thùng khổng lồ, mùi hôi rất khó chịu lúc ban đầu, nhưng chỉ vài phút sau thì cũng … thích ứng.

Nước mắm là món quốc hồn quốc túy của Việt Nam, là một đặc trưng văn hóa ẩm thực của ta. Ấy thế mà chẳng hiểu sao khi người ta nói đến nước mắm, người ta lại cười và xem đó như là một cái gì hôi thúi! Tại sao không đặt nước mắm vào một vị trí trang trọng trong bữa ăn người Việt? Phải cho mấy anh Tây thấy mấy anh ấy ăn được nước mắm là một vinh dự. Đó cũng chính là điều tôi nói với tay VIP hôm đó. Khi vào nhà chứa nước mắm, ông ấy đưa tay lên bịt mũi và than là hôi; tôi hơi nóng mặt nên mới nghiêm mặt nói với ông ấy là (có chút phịa): Mày biết không, được vào đây là một đặc quyền đó nghen mày, ngày xưa chỉ có quan mới được ăn một húp nước mắm và phải sử dụng chén kiểu cho thật tốt, chứ chén thường thì không xứng đáng với nước mắm. Hắn ta nhìn tôi ngạc nhiên: thế cơ à? Tôi thản nhiên nói: Ừ, đương nhiên. :-)

Theo tôi thấy, nước mắm Phú Quốc ngon hơn nước mắm Phan Thiết, có lẽ vì cách làm và bảo quản. Nước mắm Phú Quốc được sản xuất từ cá cơm, và một công thức “6 cá + 4 muối” (hay 4 cá + 6 muối, tôi quên rồi) có từ 200 năm qua. Còn nhớ những năm Việt Nam còn bị cấm vận và nghèo đói, hàng hóa Việt Nam chưa xuất khẩu ra nước ngoài, các công ti Thái Lan đua nhau dán những nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc, cá cơm Phú Quốc, v.v… mà họ viết sai chính tả (có lẽ do ai đó bày cho họ cách viết như thế), nhưng vẫn được đồng hương Việt ngoài này mua rất nhiều. Thời đó, chỉ thấy hai chữ “Phú Quốc”, dù viết sai chính tả, là tôi thấy cũng gần nhà rồi. Thành ra, chúng tôi cũng “cúng” khá nhiều cho các con buôn Thái Lan mượn tên Việt Nam.


Một hãng làm nước mắm ở Phú Quốc

Tuy nhiên, điều đáng buồn là cho đến nay, dù nước mắm Phú Quốc đã xuất khẩu ra ngoài, nhưng vẫn chưa chiếm lĩnh thị trường nước ngoài nơi mà hàng Thái Lan đã và đang “làm mưa làm gió”. Tôi thấy một phần là do chiến lược tiếp thị (maketing strategy) của các công ti Việt Nam chưa được tốt, một phần do cách làm ăn chụp dựt và gian dối của người Việt Nam, một phần nữa là giá cả hơi … chảnh, nên dần dần mất ngay cả lòng tin của ngườii Việt. Không biết bao giờ nước mắm Phú Quốc mới lấy lại thương trường cho xứng danh với thương hiệu đã có trên 200 năm qua. Đó là một câu hỏi lớn mà câu trả lời cho đến nay vẫn chưa có.

Điều làm tôi thấy thú vị là người Phú Quốc đã bắt đầu biết duy trì hiện vật và chứng từ của đảo trong thời đại kinh tế thị trường đang ùa vào như hiện nay. Đi một vòng trung tâm bảo tàng tư nhân, trên một con đồi thoi thoi, tôi thấy như là một hành trình về quá khứ. Tôi nghĩ / tưởng tượng đến những tiền nhân đến đây lập nghiệp từ những 200 năm trước khi vùng đất này thuộc về Việt Nam … Thời đó, chắc chắn những người khai khẩn ở đây rất cực khổ, ấy thế mà bây giờ chẳng thấy một con đường nào hay một khu phố ghi danh họ cả.

Hôm đó, trong nhà bảo tàng, tôi tình cờ bắt chuyện với một cô hướng dẫn người … Huế. Tôi hỏi sao em lưu lạc từ Huế vào đây, theo nhà hay theo tiếng gọi của tình yêu, thì em cười rất Huế nói rằng em chỉ tìm được việc làm là đi … nam tiến. Thế thôi. Ngày nay, Phú Quốc có khoảng 80.000 dân, và người dân cũng đến từ “tứ xứ”, từ Bắc, Trung, Nam ra đây định cư và tìm cơ hội. Phú Quốc hôm nay vẫn còn nghèo, nhưng với những con người mới như em này, hi vọng nay mai Phú Quốc sẽ thay da đổi thịt trở thành phồn thịnh hơn.

Nhưng đó chỉ là hi vọng thôi, bởi vì trong thực tế thì Phú Quốc đã bị bán rồi. Chữ “bán” là chữ của anh tài xế lái xe hôm đó, nhân dịp rảnh rổi tôi lân la hỏi chuyện. Anh cho biết anh là người địa phương, thế hệ thứ tư ở đây, nhưng mấy năm gần đây, có quá nhiều đại gia từ Hà Nội và Sài Gòn, kể cả chính khách và quan chức lớn, ra đây mua hết đất. Hầu hết những khu đất gần biển đều được bán cho các đại gia này. Nhiều khách sạn sang trọng đang được xây dựng không phải của dân địa phương mà của các đại gia đó. Điều này làm tôi nhớ đến câu nói của anh chàng Tây ba lô tôi đề cập lúc đầu là nay mai có thể người dân Phú Quốc không còn bãi biển công cộng để tắm. Người ta đã chia chác nhau hết rồi. Có lẽ đây là hệ quả của chính sách qui hoạch của chính quyền trung ương và địa phương.

Tính về diện tích, Phú Quốc không nhỏ chút nào, vì tương đương với Singapore, và tài nguyên thì chắc hơn Singapore. Thế nhưng tôi vẫn không muốn Phú Quốc là một Singapore như nhiều người mong muốn; tôi chỉ muốn Phú Quốc với thiên nhiên như ngày hôm nay, với nhiều trường học và bệnh viện hơn, và người dân khá hơn.

NVT

Ghi thêm:

Tàu cao tốc

Trưa hôm đó, chúng tôi xuống tàu cao tốc về Rạch Giá. Hồi xưa, đi từ Rạch Giá ra Phú Quốc hay ngược lại, tôi thường phải đi bằng tàu đánh cá, phải mất cả 6 tiếng đồng hồ. Nhưng bây giờ, với tàu cao tốc, thời gian từ Phú Quốc về Rạch Giá chỉ có trên dưới 2 giờ đồng hồ.

Lần đầu tiên đi tàu cao tốc, tôi tưởng là tàu chắc cũng “ngon lành” lắm, nhưng thật sự thì không phải như thế. Xuống tàu mới thấy rất chật chội, ghế thuộc loại trung bình, và cũng ngã màu thời gian. Khoang để hành lí thì quá nhỏ, rất bề bộn và rất … Việt Nam. :-) Phiền phức nhất là hành khách tuy có số ghế đàng hoàng nhưng họ không chịu ngồi ghế của mình mà đòi thay đổi ghế, và có lúc gây nên cảnh ồn ào không cần thiết. Đành rằng đi tàu thì phải chịu cảnh nheo nhóc, nhưng tôi nghĩ chủ tàu có thể làm tốt hơn cho xứng đáng với cái vé tàu cả 200 ngàn đồng.

Tuy nhiên, tàu có tivi và giải trí đàng hoàng. Trong suốt 2 giờ hành trình, họ chiếu phim chưởng cho bà con xem, làm mấy em nhỏ say sưa theo dõi và bớt làm phiền hành khách chung quanh. Nói chung, tôi thấy tàu cao tốc Rạch Giá – Phú Quốc chạy cũng ok, phục vụ cũng được, không đến nổi tệ, nhưng chắc chắn là chưa tốt và cần phải cải tiến nhiều hơn nữa, nhất là cái khoản vệ sinh. Mà, hình như ở Việt Nam ta, bất cứ chỗ công cộng nào cũng có vấn đề vệ sinh cả.

Buổi làm việc thú vị

Đến Rạch Giá, tôi đi xe một mạch về nhà tôi trong quê. Sáng hôm sau, tôi đi từ nhà ra bệnh viện để tiếp tay anh Đ làm việc với ông VIP. Gặp nhau ở quán ăn sáng, tôi hỏi ông ấy: Sao, mầy thấy mọi chuyện ok cả chứ. Ông ấy cười toe toét nói: Tuyệt vời mày ạ! Tôi cũng mừng trong bụng.

Đến giờ lên hội trường họp. Anh Đ trình bày bằng powerpoint phần tiếng Việt, và một máy chiếu khác bằng tiếng Anh. Tôi đóng vai người dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, và từ tiếng Anh sang tiếng Việt cho đồng nghiệp. Buổi thuyết trình diễn ra êm đẹp, chuyên nghiệp, và rất đúng giờ. Buổi trao đổi cũng rất tốt. Nói chung là một buổi làm việc thành công.

Tôi nhớ hoài khi anh Đ trình bày số giường bệnh là 1200, và số bệnh nhân hàng ngày là 1500, ông VIP quay sang tôi nói nhỏ: bác sĩ Đ nó nói lộn hả mày, số giường 1500 và số bệnh nhân 1200 chứ? Tôi nói: không, bác sĩ Đ không lộn đâu mày ơi, số bệnh nhân lúc nào cũng nhiều hơn số giường, chút nữa mầy sẽ thấy. Hắn gật gù nói: xin lỗi nghen.

Thảo luận xong, theo yêu cầu, chúng tôi đưa ông ấy đi một vòng bệnh viện để biết … sự tình. Tôi, M, anh Đ, và hai người khác của bệnh viện dẫn ông ta đi vòng bệnh viện. Ông ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, có lúc mắt cứ mở ra như là trên trời rơi xuống vậy. Đi đến khoa khám tổng quát (như outpatient bên này), thấy có quá nhiều bệnh nhân, ông ấy hỏi tôi: ở đây có bao nhiêu bác sĩ? Anh Đ nói (tôi nhớ) hình như 5. Tôi nói thêm rằng mỗi ngày một bác sĩ ở đây phải khám cho 50-80 bệnh nhân. Ông ấy lắc đầu nói khám nhiều như thế mà không có sai sót thì phải là một phép lạ. Tôi cũng ậm ừ cho qua. Hôm đó, tôi gặp Nh đang khám cho một ông cụ và cũng nhân dịp giới thiệu với ông VIP về những bệnh mà người dân ở đây hay mắc phải. Ông ấy ngạc nhiên về bệnh tiểu đường có vẻ cao ở đây.

Đến khi ra ngoài thấy người ta nằm la liệt, ông ấy hỏi tôi: bộ họ là bệnh nhân hả? Tôi cười nói: không phải, họ là thân nhân đang thăm thân nhân, nhưng vì không có chỗ ngả lưng nên họ ngủ dưới bóng cây như vậy đó. Đến khu điều trị, thấy có người nằm ghế bố, có giường 2 người nằm, ông ấy lại hỏi tôi: đây chắc là thân nhân hả, nằm như vậy nguy hiểm quá. Tôi cười nói: không phải, đây là bệnh nhân đấy, không đủ giường nên phải “share” giường như vậy đó. Ông ấy trố mặt nhìn tôi như là nhìn kẻ xa lạ! Ông ấy lại một phen ngạc nhiên và không bình luận gì thêm. Khi đi ra khỏi khu đó, ông nói với tôi: tao cảm thấy upset quá (chữ upset ở đây phải hiểu theo nghĩa: đau lòng). Tôi nói: tao cũng vậy, nhưng mình còn nhiều chuyện phải làm cho đất nước này.

Đến khu ung thư, ông ấy tỏ ra rất quan tâm đến máy móc và thiết bị quá cũ ở đây. Ông ấy hỏi một ngày điều trị bao nhiêu bệnh. Anh bác sĩ trực thật thà nói một tuần điều trị 5-7 bệnh nhân. Tôi nói khéo với anh bác sĩ là anh có nhớ lầm không, có thể vài chục bệnh nhân chứ, nhưng anh không hiểu ý tôi mà vẫn nói vài bệnh nhân. Trời ơi, người ta đến đây để xem nhu cầu, mà mình không có nhu cầu thì ai cho. Nghĩ thế, tôi quyết định nói theo ý mình: vài chục bệnh nhân. Vài chục là bao nhiêu, ông ấy gặn hỏi. Tôi nói: theo anh bác sĩ này thì 20 đến 30. Ông ấy lắc đầu nói thế là quá tải rồi. Tôi gật gù nói: ừ, thì tao nói với mày là bệnh viện này quá tải mà! :-)

Đến chiều ông ấy lên máy bay về TPHCM, còn tôi thì về quê nghỉ được 2 ngày trước khi bay về Sydney. Một chuyến đi đầy ấp kỉ niệm, vui có, buồn cũng có, nhưng mỗi lần nhắc đến là tôi cảm thấy có chút gì bất an trong lòng.

Xin chia sẻ vài ảnh chụp ở Phú Quốc trong chuyến đi vừa qua. Ảnh gốc, không có qua photoshop đâu nhé!


Bãi biển tắm đẹp tuyệt vời!


Một đàn bò trước một nhà ở Phú Quốc





Cảnh hay thấy ở Phú Quốc


Tôi cũng từng nằm võng này một vài phút



"Cỏ cây chen đá, lá chen hoa"



Thần tiên: cảnh nhìn từ phòng khách sạn



Câu cá



Thuyền về bến


Thuyền đổ bến


Hoàng hôn Phú Quốc (đẹp mê hồn)

Hoàng hôn trên đảo ngọc