Thứ Hai, 15 tháng 6, 2009

Sống như mình muốn

Hôm nay đọc được một bài phỏng vấn rất hay của ông Dương Trung Quốc. Vì cũng ham đọc sử nên đã từ lâu, tôi cũng hay theo dõi những bài viết và ý kiến của ông, và nói chung là đồng tình với ông trong cách nhìn nhiều vấn đề. Tôi có nguyên bộ tạp chí Xưa và Nay do ông làm biên tập. Rất thích.

Thú thật, đọc bài phỏng vấn này tôi thấy tôi và ông (tôi còn trẻ hơn ông) có cùng “triết lí” sống quá. Vậy xin phép tác giả Ngọc Kha và Hoàng Đình cho tôi “chôm” về trang blog của tôi để tham khảo sau này.

Đây là những câu rất hợp với tôi, đọc mà cứ như là nhạc vào tai:

“Nghề sử tạo cho mình vốn sống, vốn sống của chính mình và vốn sống của người khác. Nó làm cho mình có một cái nhìn bình thản, nhất là khi mình ngày càng có tuổi. Bình thản là vì người ta thấy mọi cái xảy ra nó đều có lý của nó. Người ta có thể so sánh chuyện này với chuyện kia đã từng xảy ra, hay lặp lại, hay số phận của con người này với người kia có thể lên đến đỉnh cao của vinh quang vẫn có thể bị rơi xuống đáy vực thất bại, tất cả với tôi không có gì là lạ.”

“Bình thản giúp tôi không bao giờ lý tưởng hoá vấn đề nên tôi không thấy thất vọng, không cực đoan trước mọi biến cố cuộc đời. Ví dụ như tình trạng rất bất công xã hội, giầu - nghèo khiến cho nhiều người cảm thấy bức xúc, nhưng tôi nhìn trong sự phát triển của đất nước thì điều đó là không thể khác được”.

“Đã một thời chúng ta hay bàn về vấn đề ai thắng ai. Nhưng rồi mình nghĩ ở đời chẳng ai thắng ai. Rồi ai hơn ai? Chưa chắc ai hơn ai. Nhưng cái này thì có: Ai cần hơn ai? Khi anh được mọi người cần hơn ai thì đó là khi năng lực của anh, giá trị của anh có thể giúp được người khác, có thể đặt giá”.

“Cho nên mình rất trân trọng những mối quan hệ mình có trong cuộc sống. Người ta hay hỏi hạnh phúc là gì? Nó chỉ là một phân số mà tử số là hiện thực mà mẫu số là mơ ước. Nếu anh biết cách điều chỉnh thì lúc nào anh cũng thấy thoả mãn. Khi anh không biết điều chỉnh thì đừng có quá nhiều khát vọng. Phải tự tạo ra sự mãn nguyện. Không ai mang lại cho anh cả. Ngay cả với những cái mà người ta cho mình làm liều thì cũng phải tự định lượng được.”

Chí lí!

NVT

http://vn.myblog.yahoo.com/kha-betiteo

Sống như mình muốn

“Từ nhãn quan của nghề sử, tôi sống bình thản, sống như mình muốn” - Nhà sử học, Đại biểu Quộc hội Dương Trung Quốc bộc bạch.

Ông có thể cho biết quan niệm của mình về tư duy hiện đại của một người đàn ông?

Ông Dương Trung Quốc: Tư duy con người có thể được kích bằng hai chiều: trục hoành là vị thế của mình trong đời sống xã hội và trục tung là tuổi tác. Tôi nay đã 62-63 tuổi, là tuổi đã có tích luỹ kinh nghiệm sống. Hoàn cảnh của tôi ít bị đảo lộn, ít bị thay đổi, bươn chải. Lý lịch của tôi có thể nói là rất đơn giản. Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Học và làm chỉ một nghề, là nghề sử, ở một cơ quan duy nhất. Ngoài ra tôi tham gia hoạt động xã hội. Nếu nói về thiệt thòi thì tôi chỉ có thiệt thòi lớn nhất là bố tôi mất khi tôi chưa ra đời. Mẹ tôi là tư sản. Nhưng cân bằng với hoàn cảnh này tôi lại có ông bố liệt sĩ nên so với những người khác cùng thời với mình thì tôi ít bị vùi dập. Như thế có thể nói cuộc sống của tôi đơn giản, trải nghiệm cũng đơn giản. Nhưng có lẽ cái tạo cho mình một chút gì đó được gọi là bản lĩnh hay sắc thái riêng thì chính là nghề sử. Nghề sử tạo cho mình vốn sống, vốn sống của chính mình và vốn sống của người khác. Nó làm cho mình có một cái nhìn bình thản, nhất là khi mình ngày càng có tuổi. Bình thản là vì người ta thấy mọi cái xảy ra nó đều có lý của nó. Người ta có thể so sánh chuyện này với chuyện kia đã từng xảy ra, hay lặp lại, hay số phận của con người này với người kia có thể lên đến đỉnh cao của vinh quang vẫn có thể bị rơi xuống đáy vực thất bại, tất cả với tôi không có gì là lạ. Bình thản giúp tôi không bao giờ lý tưởng hoá vấn đề nên tôi không thấy thất vọng, không cực đoan trước mọi biến cố cuộc đời. Ví dụ như tình trạng rất bất công xã hội, giầu - nghèo khiến cho nhiều người cảm thấy bức xúc, nhưng tôi nhìn trong sự phát triển của đất nước thì điều đó là không thể khác được. Cũng như lịch sử dân tộc mình chưa bao giờ trải qua sở hữu. Bây giờ là cơ hội duy nhất mà chúng ta đang khát sở hữu, khắc phục được cái thực tại hàng ngàn năm qua Việt Nam phải lựa chọn một cách sống bên cạnh người Tầu, lấy làng xã làm hạt nhân. Làng xã là một xã hội khép kín, cực kỳ bền vững và câu kết với nhau nhưng lại dựa trên nền tảng không phân hoá được giai cấp. Khẩu hiệu lấy của người giầu chia cho người nghèo trong suốt chiều dài lịch sử như một ngọn cờ tụ nghĩa. Nhưng khi mà vượt ra khỏi khuân khổ vốn có mà hội nhập với thế giới như hiện nay thì ta đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Và chính bây giờ nếu nhìn theo góc độ nghề nghiệp thì tôi cho là thực chất ta đang bước vào thời kỳ tích luỹ tư bản chủ nghĩa nguyên thuỷ, giai đoạn mà mà thiên hạ đã từng trải qua từ hàng trăm năm trước đây với cực kỳ đau khổ của chiến tranh, của bóc lột nô lệ… Bước đi lịch sử của mình bây giờ không thể làm như ngày xưa được, không thể đi xâm lược ai cũng không thể buôn bán nô lệ được. Duy nhất có thể vận hành ở đây lúc này là các nhân tố: đất đai, quyền lực và cơ hội (trong cơ hội có cả tài năng và năng lực vận hành). Ba nhân tố này nó khắc phục, thay thế cho những chuyến vượt biển, cướp biển. cướp nô lệ hay những chuyến đi tìm vàng… ngày trước. Nhìn xã hội, đôi khi ta thấy nó bất bình thường, bất công, nhưng hệ quả tất yếu của nó là tạo ra một tầng lớp hữu sản. Và chừng nào có được một tầng lớp hữu sản thì mới có dân chủ. Đó là quyền được tồn tại cùng với tài sản của mình, dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân. Khi đó ta mới hội nhập thế giới được. Hay như hiện nay đơn từ của dân nhiều là thế, tôi cho rằng đó không có gì lạ. Còn nhớ trước đây có thời kỳ, người ta triệt hạ cả một chủng tộc người da đỏ để chiến giữ đất đai, xác lập quyền sở hữu.

Tôi đang đi ở giai đoạn cuối cuộc đời và chỉ muốn để lại một ấn tượng gì đó đối với những người biết mình. Cũng có nghĩa là tôi không muốn để lại cái gì quá cao siêu. Và mình sống như mình muốn.

Nói như thế có thể hiểu ông là người rất có nhiệt huyết. Nó từ đâu ra?

Ông Dương Trung Quốc: Nhiệt huyết thể hiện sự ham sống. Đừng nghĩ đến cái gì ghê gớm, quá cao siêu quá, đừng ảo tưởng mà hãy nghĩ những người sống với anh đang nghĩ về anh như thế nào, hãy tạo ra một giá trị đối với người ta, tạo ra tình cảm đối với người ta. Vì mấy trăm năm sau người ta chỉ nhớ được một hai cái tên thôi, nên đừng có tham vọng lưu danh. Cho nên mình rất trân trọng những mối quan hệ mình có trong cuộc sống. Người ta hay hỏi hạnh phúc là gì? Nó chỉ là một phân số mà tử số là hiện thực mà mẫu số là mơ ước. Nếu anh biết cách điều chỉnh thì lúc nào anh cũng thấy thoả mãn. Khi anh không biết điều chỉnh thì đừng có quá nhiều khát vọng. Phải tự tạo ra sự mãn nguyện. Không ai mang lại cho anh cả. Ngay cả với những cái mà người ta cho mình làm liều thì cũng phải tự định lượng được.

Ông đã liều?

Ông Dương Trung Quốc: Nhiều lần rồi chứ, ngay cả những khi mình phát biểu. Phải thử chứ!

Tại sao ông lại dám thử trong khi nhiều người, nhiều đại biểu Quốc hội vẫn còn e ngại?

Ông Dương Trung Quốc: Vì quan trọng là do người ta còn sợ chính mình. Đôi khi người ta hay sợ ma là vì thế.

Ông có biết từng có sự can thiệp của ban nọ, bộ kia đối với báo chí, khuyến cáo họ không nên nếu như không nói là không được phỏng vấn một số vị đại biểu Quốc hội trong đó có ông?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi biết quá đi chứ! Ngày tôi mới bắt đầu vào Quốc hội, tại phiên họp đầu tiên năm 2002, có một cảm hứng từ một ông thầy của tôi truyền lại, rằng tại sao Quốc hội lại bầu một người lấy một người, đã khiến tôi phát biểu về vấn đề dân chủ, rất hồn nhiên. Thời trước, thời Cụ Hồ, từ 72 người của Hà Nội chọn ra 7 người vẫn là những người xứng đáng đấy thôi. Tối hôm đó sau khi đi đánh tennis về, nghe vợ tôi nói có một vị có tuổi là cử tri ở phố Lý Nam Đế đến muốn gặp. Sáng hôm sau, ông ấy lại đến và nói với tôi: “Tôi rất tán thành và rất thích ý kiến phát biểu của anh, nhưng cũng phải nói cho anh biết thế này”. Và ông ấy đưa cho tôi xem một văn bản mà người ký lại là bạn cùng học lớp sử với tôi, ông Nguyễn Hồng Vinh, hồi đó là Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tư tưởng văn hoá trung ương (nay là Ban Tuyên giáo trung ương) chỉ thị cho báo chí như thế. Tôi hơi bất ngờ nhưng không ngạc nhiên. Tôi chủ động tránh gặp gỡ báo chí nhưng anh em bảo tôi cứ cho họ hỏi bình thường.

Sau sự việc này ông có phải hạn chế hơn hay dè dặt?

Ông Dương Trung Quốc: Không! Mình đã từng trả lời từ lâu trên báo Công an: Cái đầu phải làm nên cái cổ. Mục đích của mình là nói. Nói phải suy nghĩ. Đừng bao giờ để cái đầu lìa khỏi cổ. Sự không ngoan là quan trọng nhất của con người. Đừng có làm gì cực đoan.

Trong số các đại biểu Quốc hội có người tâm sự rằng: Phát biểu như ông Dương Trung Quốc chắc chỉ ở làm được một nhiệm kỳ Đại biểu Quốc hội là nghỉ. Ông nghĩ sao?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi vẫn thường trả lời những câu hỏi như thế này, kể cả khi trả lời những người nước ngoài, rằng: Cho đến nay chưa hề có bất kỳ một áp lực nào, hay có ai vỗ vai, nhắc nhở đối với tôi. Đây không phải là tôi bênh vực gì cho chế độ. Đôi khi tôi cũng hơi giật mình không hiểu vì sao mình lại như thế. Cũng có thể vì mình có ba lợi thế: Không phải là đảng viên, làm sử và làm báo.

Thế còn cái vụ ông, một người không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mà vẫn được “đặc cách” bổ nhiệm làm Tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay?

Ông Dương Trung Quốc: Chính tôi cũng không hiểu tại sao lại như vậy, kể cả cái chức Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử. Có người nói đùa tôi là do bên ngành An ninh cài cắm vào đó…

Trở lại cái nhiệt huyết mà ông nói đó là do ông “ham sống”. Là ham sống thế nào thưa ông?

Ông Dương Trung Quốc: Đơn giản là tôi muốn làm như thế. Đã một thời chúng ta hay bàn về vấn đề ai thắng ai. Nhưng rồi mình nghĩ ở đời chẳng ai thắng ai. Rồi ai hơn ai? Chưa chắc ai hơn ai. Nhưng cái này thì có: Ai cần hơn ai? Khi anh được mọi người cần hơn ai thì đó là khi năng lực của anh, giá trị của anh có thể giúp được người khác, có thể đặt giá. Khi vợ mình đau đẻ thì ông xích lô quan trọng hơn ông Tổng Bí thư (cười!). Khi bà con đang cần đến mình thì mình thấy được giá trị của mình. Có thể mình chưa giúp được bà con cho đến đầu đến đũa nhưng quan trọng là mình luôn luôn làm hết lòng.

Có bao giờ ông lượng được sự ảnh hưỏng của những lời nói và hành động của mình đối với sự phát triển của xã hội?

Ông Dương Trung Quốc: Nói là không biết thì không phải nhưng thực sự là tôi không quan tâm đến điều này. Chưa bao giờ mình chủ ý quan tâm đến môt bài phát biểu nào của mình được phát trên TV trừ trường hợp ngẫu nhiên bắt gặp. Chưa bao giờ mình đi tìm một bài báo nào phỏng vấn mình.

Với một nhãn quan “Bình thản”, dường như ông có một niềm tin tưởng, hy vọng tương đối tốt vào tương lai?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi là một người luôn luôn nhìn hoàn cảnh lạc quan, sáng sủa.

Trong Quốc hội có nhiều người cũng tâm huyết như ông nhưng họ lại nghĩ khác…

Ông Dương Trung Quốc: Đấy là do họ quá gắn bó với chế độ.

Ông có biết hiện nay trên mạng người ta đồn thổi về một lời “sấm truyền” của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm?

Ông Dương Trung Quốc: Mình quan niệm lời sấm truyền có thể có thật trong xã hội nhưng quyết định giá trị của nó lại là đời sống thực tại. Hay nói cách khác người ta vận vào đó mà ước vọng.

Ông cũng thế, cũng vịn vào ước vọng như thế mà tin tưởng vào tương lai?

Ông Dương Trung Quốc: Cuộc sống hiện nay thay đổi quá nhanh mà chúng ta phải cố gắng phấn đấu để theo kịp nó. Tôi là người luôn cảm thấy mình rất thiếu thời gian. Không biết từ bao giờ tôi luôn có nỗi ám ảnh mình sẽ chết trẻ (cười!). Thế là tự nhiên mình có cảm giác rất tiếc thời gian. Tiếc đến mức không bao giờ mình đánh bạc. Không phải là mình cho rằng đánh bạc là xấu. Cũng như ở nhà không bao giờ mình tắt đèn hay tắt TV. Mình luôn muốn làm việc. Ngủ thì thôi, cứ tỉnh dậy là làm.

Ông làm việc như thế thì vợ con có phàn nàn gì không?

Ông Dương Trung Quốc: Bà ấy quá hiểu và tôn trọng những thói quen của tôi.

Quan niệm của ông về gia đình?

Ông Dương Trung Quốc: Gia đình là cái bến. Không có bến thì con thuyền không thể đi đâu được. Nhưng mình không thể chỉ loanh quanh ở bến.

Ông có phải băn khoăn về sự ngưỡng một của các người đẹp dành cho ông? Mà ông thì khá đẹp trai…

Ông Dương Trung Quốc: Đôi khi mình vẫn công khai quan niệm của mình, rằng: Kẻ tham lam chỉ có thêm, không có bớt. Nếu những người đó cũng chấp nhận như thế thì mình… Ok (cười!).

Ông có e ngại gì khi vợ ông đọc được những dòng này?

Ông Dương Trung Quốc: Vợ tôi thường hay nói đùa: Đàn ông các anh 10 ông thì cả 11 ông đều “hư”, càng già thì càng “đổ đốn” (cười!). Bà còn nói là rất thích mình được bầu làm đại biểu Quộc hội vì cho rằng (tôi nói ngoài lề thôi đấy nhá): như thế là gửi được mình vào một cái... “Nhà trẻ vĩ đại”… (lại cười!)

Ông có trù tính gì cho công việc trong tương lai?

Ông Dương Trung Quốc:
Hoạt động xã hội đã ngấm vào máu mình rồi. Hiện nay mình tham gia thêm Chủ tịch Hội UNESCO Hà Nội. Mình đang tham gia xây dựng hệ thống các thư viện trong nhà tù và hoàn trả lại các sắc phong xưa do bạn bè khắp nơi trên thế giới sưu tầm được trao gửi tôi từ nhiều năm qua cho chủ nhân của nó là nhân dân các địa phương trên khắp cả nước sau khi giám định lại.

Cảm ơn ông!

Ngọc Kha-Hoàng Đình thực hiện

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Giáo sư, tiến sĩ đánh bạc

Câu chuyện về một nhóm giáo sư và tiến sĩ đánh bài (tôi quen cách nói miền Nam) được giới báo chí rầm rộ đưa tin (như bài dưới đây). Có lẽ ý định báo chí (hay có chỉ đạo từ “trên”) là nêu vấn đề đạo đức xã hội xuống cấp và lấy mấy ông sư và sĩ này ra làm ví dụ minh họa.

Ai cũng biết đạo đức xã hội xuống cấp từ lâu rồi, chứ đâu phải mới đây. Thầy giáo gạ tình học trò. Giáo sư y khoa gạ tình sinh viên trong phòng mạch, nham nhở và sàm sở với cấp dưới một cách dơ bẩn, v.v… Về đạo đức, tất cả những chuyện này còn động trời hơn vụ đánh bài.

Đánh bài nói trên lí thuyết là tiền của họ, họ có quyền làm gì thì làm với tiền của họ, miễn là họ không tham nhũng và ăn cắp ngân quĩ Nhà nước. Mà, tham nhũng và ăn cắp của công hiện nay lại đang là một quốc nạn. Thành ra, nếu nhìn tổng thể thì những chuyện đánh bài của mấy ông sĩ sư đó có đáng gì so với vụ đánh bài của mấy người trong vụ PMU18.

Nhà giáo, nhà khoa học, bác sĩ, luật sư, kĩ sư, v.v… cũng chỉ là những thành viên trong xã hội, và cũng chịu sự chi phối của môi trường và bối cảnh xã hội. Do đó, tôi nghĩ nếu có một nhóm giáo sư tiến sĩ đánh bài thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên.

Tôi nghĩ thay vì than thở về đạo đức của mấy vị sĩ sư này, sao ta không chịu khó nghiên cứu tìm hiểu cặn kẽ tại sao người Việt Nam chúng ta mê đánh bài. Vâng, phải nói rằng bài bạc đỏ đen là một đặc tính hình như có trong văn hóa của người Việt (và vài sắc dân Á châu khác như Tàu, Nhật, Hàn, v.v…) Ở nước ngoài, người Việt nổi tiếng mê đánh bài. Đi vào bất cứ casino lớn nào là nghe tiếng Việt ở đó. Ở bất cứ vùng nào có người Việt định cư là các sòng bài chính thức (như trong club) cũng như chui phát triển rất hoành tráng. Thay vào đó là hàng ngàn, hay thậm chí hàng chục ngàn, gia đình người Việt tiêu tan vì hệ quả thu bài.

Theo quan điểm y khoa, mê đánh bài là một bệnh: bệnh tâm lí (có khi là bệnh tâm thần nữa). Vì thế, giới y khoa đã tốn khá nhiều giấy mực để nghiên cứu. Ở Mĩ, người Việt mê đánh bài nổi tiếng đến độ chính phủ địa phương phải bỏ nhiều tiền ra để nghiên cứu. Một nghiên cứu trên 96 người tị nạn từ Việt Nam (phần lớn), Lào và Campuchea vào năm 2003 cho thấy vài thông tin thú vị (1):

(a) Xác suất (nguy cơ) đánh bài ở mức độ “pathological gambling” ở người Việt Nam (tức là mê bài bạc một cách bệnh hoạn) là 59%. Nói cách khác, cứ 100 người Việt sống đến 80 tuổi thì có 59 người mang bệnh đánh bài.

(b) Yếu tố nguy cơ dẫn đến hay có liên quan với bệnh đánh bài là: nam giới, li dị hay li thân, trẻ tuổi.

Các nhà nghiên cứu nhận xét rằng tỉ lệ bệnh đánh bài ở người Việt là “extraordinary” (tức là quá cao), bởi vì so với các cộng đồng khác thì tỉ lệ này chỉ dao động từ 1% đến 6%. Ở người phương Tây, tỉ lệ đánh bài ở mức độ bệnh hoạn là 4-5%. Nhưng ở người Việt, tỉ lệ này 59%! Dù tôi nghĩ nghiên cứu này có vấn đề về phương pháp và con số 59% là không thực tế, nhưng nó cũng là tín hiệu cho thấy nạn đánh bài ở người Việt có lẽ thuộc vào hàng cao nhất thế giới.

Một nghiên cứu khác ở Úc cho thấy vài thông tin khác cũng thú vị không kém. Họ làm một cuộc điều tra trong cộng đồng Việt Nam ở bang Nam Úc (South Australia), và kết quả như sau:

(a) 60% đánh bài bingo (loại cạo mã số) mỗi tuần;
(b) 50% đánh lottory mỗi tuần;
(c) 20% hay đi đánh bài trong casino; và
(d) 20% hay chơi bày bằng máy điện tử (gọi là “đánh máy”) trong club.

Trong công trình nghiên cứu trên, khi được hỏi tại sao những người trẻ ham đánh bài thì họ trả lời là “thích làm giàu nhanh”. Họ cho rằng làm công nhân mỗi tuần lương rất khiêm tốn, trong khi đó đánh bài nếu trúng thì có thể bằng cả tháng lương. Có người biện minh rằng vì họ có bổn phận phải lo cho gia đình bên Việt Nam, nên chỉ có cách là họ phải kiếm nhiều tiền (ngoài tiền lương) để đáp ứng nhu cầu đó. Mỗi khi họ đặt niềm tin vào xác suất thắng cao hơn xác suất thua, họ có “lí do nội tại” để đánh bài.

Khi được hỏi tại sao họ biết đánh bài là hành động xấu mà vẫn tiếp tục đánh bài, không chịu đi chữa trị, thì họ cho biết lí do là:

(a) 80% sợ làm xấu và gây tai tiếng cho gia đình;
(b) 70% do hạn chế ngôn ngữ;
(c) 70% cảm thấy tội lỗi với người thân nhưng không dám thú nhận;
(d) 50% không biết tìm đâu để chữa trị;
(e) 40% tin rằng “dám làm dám chịu” chứ không cần ai giúp đỡ;
(f) 30% sợ “miệng thế gian” đồn đại linh tinh; và
(g) 10% không tin rằng điều trị sẽ giúp được gì.

Như tôi đề cập trên, đánh bài hình như là một nét văn hóa của người Việt. Trong các dịp lễ hội, như Tết chẳng hạn, là chắc chắn có đánh bài, tổ tôm, bầu cua cá cọp, v.v… Có thể nói cả nước đánh bài vào dịp Tết! Hồi còn nhỏ, tôi nghe người lớn nói ăn bài trong 3 ngày Tết là một tín hiệu tốt lành cho năm! Nhưng nếu bây giờ mà đánh giá niềm tin đó bằng nghiên cứu đàng hoàng thì chắc chắn đó chỉ là … niềm tin.

Nếu những kết quả trên đây là những bài học, tôi nghĩ Việt Nam cần phải làm nhiều hơn nữa để tìm hiểu về tệ nạn bài bạc mà tôi nghĩ cực kì phổ biến ở Việt Nam. Như nói trên, bài bạc và tham nhũng có thể song hành với nhau, cho nên giảm tệ nạn bài bạc cũng là một cách giảm tham nhũng. Chỉ “giảm” thôi, chứ chắc chẳng ai dám nói là “ngăn ngừa” bởi vì ngăn ngừa là vấn đề của … cơ chế.
NVT

(1) NM Petry, et al. Gambling Participation and Problems Among South East Asian Refugees to the United States. Psychiatr Serv 54:1142-1148, August 2003

=====

http://www.baodatviet.vn/Home/Nha-giao-dau-xot-bat-binh-khi-co-dong-nghiep-danh-bac/20096/45184.datviet

Nhà giáo đau xót, bất bình khi có đồng nghiệp đánh bạc
Cập nhật lúc : 7:13 PM, 12/06/2009

Phó giám đốc Học viện Tài chính hôm nay công khai danh tính 8 cán bộ, nhân viên tham gia đánh bạc. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và nhiều nhà giáo bày tỏ sự đau xót trước hiện tượng tiêu cực này.

>> 6 giảng viên Học viện Tài chính đánh bạc trong nhà xe

Phó giáo sư, Tiến sĩ Quách Đức Pháp, Phó giám đốc Học viện Tài chính cho biết, vừa báo cáo vụ việc cán bộ, nhân viên của học viện bị bắt quả tang đánh bạc lên Bộ Tài Chính và Bộ Giáo dục đào tạo. Những người này gồm: Tiến sĩ Chu Văn Tuấn, Trưởng khoa Thông tin kinh tế; Tiến sĩ Nguyễn Văn Sanh, Giảng viên khoa Lý luận Chính trị, Tiến sĩ Thái Bá Công, Giảng viên khoa Kế toán; ông Đoàn Văn Mạc, Phó giám đốc Trung tâm thông tin thư viện; ông Nguyễn Mạnh Thường, Phó văn phòng Học viện; ông Phạm Quang Thịnh, Chuyên viên Ban Khảo thí và hai lái xe của học viện là ông Phạm Sỹ Điều và Nguyễn Văn Viện.

Theo ông Pháp, những người đánh bài bạc trong môi trường sư phạm là giảng viên, tiến sĩ đã khiến cán bộ, giảng viên của Học viện tài chính bàng hoàng. “Sự việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của Học viện Tài Chính”, ông Pháp nói. Ông Pháp cũng cho biết, đã yêu cầu các cá nhân tham gia đánh bạc làm bản tường trình. Việc xem xét kỷ luật sẽ tiến hành trong vài ngày tới vì Hiệu trưởng, Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thế Chi đang đi công tác nước ngoài.

Một lãnh đạo Công an huyện Từ Liêm, Hà Nội, cho biết, về tính chất, những người trên đánh tá lả với mục đích giải trí ngoài giờ làm việc. Tuy nhiên, hành vi đánh bạc là rất rõ và và số tiền thu được tương đối lớn (gần 30 triệu đồng) nên cơ quan điều tra đang xem xét hai khả năng: phạt hành chính hoặc khởi tố vụ án hình sự.Trước hiện tượng cán bộ, nhân viên Học viện Tài chính đánh bạc, đại biểu QH và nhiều nhà giáo bày tỏ:

Trong phiên chất vấn trong kỳ họp QH, chiều nay, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân nhận định, một số cán bộ, nhân viên Học viện Tài chính đánh bạc là việc rất đau xót với ngành giáo dục. "Đây là lần đầu chúng tôi nghe thấy trong tổng số 52.000 giáo viên cả nước có hiện tượng này. Ngành chúng tôi sẽ kiểm tra lại, có hướng để chỉ đạo khắc phục", Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói.

Đại biểu QH Trần Hoàng Thám, TP HCM: Hiện tượng tiêu cực ở Học viện Tài chính vừa qua là nỗi lo không phải riêng tôi, mà của người dân nói chung. Vì mấy vị đánh bạc bị phát hiện là tiến sĩ, nghĩa là nhà khoa học; là giảng viên, nghĩa là thầy giáo, phải làm gương cho người khác mà lại tham gia bài bạc. Tôi cũng muốn nêu câu hỏi với Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo, Bộ trưởng nghĩ thế nào khi tiêu cực này xuất hiện trong đội ngũ trí thức, thầy giáo và Bộ trưởng có giải pháp gì để phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra hiện tượng tương tự.

Giáo sư Văn Như Cương, Hiệu trưởng THPT Dân lập Lương Thế Vinh: Tôi không biết phải bày tỏ cảm xúc như thế nào. Tôi quá ngạc nhiên và buồn. Là người thầy đứng trên bục giảng, giáo dục đạo đức, giảng bài cho sinh viên mà lại tham gia trò đỏ đen thì làm sao mà dạy được nữa. Theo tôi, cần phải xử lý những trường hợp này theo đúng pháp luật, chứ không nhân nhượng để làm gương cho người khác.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khánh, Hiệu trưởng ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội: Đọc thông tin trên báo chí, cảm giác đầu tiên của tôi là buồn. Là giảng viên phải dành thời gian, sức lực để nghiên cứu chuyên môn, nâng cao kiến thức rồi truyền đạt lại cho sinh viên của mình, đằng này họ lại chơi trò đỏ đen. Hành vi của các giảng viên, nhất là trí thức lớn là không thể chấp nhận được. Không nên để những người này làm công tác giảng dạy nữa.

Bà Nguyễn Kim Anh, giáo viên THPT Dân lập Phan Huy Chú, Hà Nội: Những giảng viên tham gia đánh bạc đã làm tổn thương đến hình ảnh của người thầy, là một đồng nghiệp tôi rất bất bình trước hành vi của họ. Chắc chắn phụ huynh của các em sinh viên khi biết được sự thật này sẽ hoang mang, lo lắng và nghi ngờ ngành giáo dục của chúng ta. Học viện Tài chính cần phải đình chỉ không cho các giảng viên này đứng lớp, nên thuyên chuyển họ sang công việc khác, họ không đủ tư cách, đạo đức để đứng trên bục giảng.

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2009

Phản ứng trước sự lộng hành của Trung Quốc ở biển Đông

Đáng lẽ dành chỗ để nói chuyện cúm H1N1, nhưng đọc phản ứng của Phi Luật Tân và Việt Nam trước sự lưu manh của Trung Quốc ở biển Đông, tôi thấy cần có một vài hàng ghi lại như là một chứng từ.

Xin trích nguyên văn trên Tuần Việt Nam nhấn mạnh để thấy được sự khác biệt giữa Việt Nam và Phi Luật Tân: Dưới tựa đề "Philippines bác lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc", bài báo cho biết Bộ trưởng Quốc phòng của Phi Luật Tân Orlando Marcado tuyên bố thẳng thừng: "Chúng tôi đang đánh bắt cá trong vùng lãnh hải của chúng tôi ... Họ mới là người xâm phạm lãnh thổ chúng tôi".

Đọc bản tin này tôi mới biết phản ứng của Phi Luật Tân còn dứt khoát hơn nữa: họ cho tàu đâm vào tàu của bọn lưu manh Trung Quốc.

Còn Việt Nam nói gì? Phản ứng trước lệnh cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền lãnh thổ, mới đây, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã "đề nghị phía Trung Quốc không có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam". Bọn lưu manh chúng xâm phạm mình, mà mình "đề nghị"? Nếu không là hèn thì không biết ngữ vựng tiếng Việt còn chữ nào để nói không nữa.

Còn bọn Trung Quốc chúng nói gì? Chúng ngang nhiên bác bỏ “đề nghị” của Việt Nam. Chúng còn cho đội quân bát nháo trên mạng của chúng tuyên bố là sẽ “giải quyết vấn đề Việt Nam”, là Trung Quốc nên rút gươm, là Trung Quốc cần phải đánh Việt Nam để tỏ sức mạnh quân sự của chúng, v.v… Ấy thế mà chúng lại nói Việt Nam khiêu khíc h Trung Quốc! Đúng là một bọn côn đồ vừa đánh người vừa la làng!

Ta tự hào là một dân tộc anh hùng, mà lại để cho đám lưu manh nó đánh giết người mình giữa ban ngày! Đã vậy, lại còn có những cấm đoán không cho báo chí đưa tin về vụ này. Đúng là chưa bao giờ trong lịch sử, Việt Nam xuất hiện một cách khiếp nhược trên trường quốc tế như thế.

NVT

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009

Về cách phong chức danh giáo sư ở VN

Một bạn đọc sau khi đọc entry về hội đồng chức danh giáo sư của tôi, có gửi email và đề nghị tôi đăng để làm chứng từ. Lá thư của bạn đọc đó viết trích kèm theo đây.

Tôi không có ý kiến gì về lá thư của bạn đọc vì không phải là người trong cuộc và không biết câu chuyện, nhưng đọc 2 bài báo trên tờ Lao Động và Giáo dục Việt Nam, tôi thấy cũng … vui vui. Bài báo trên tờ LĐ cáo buộc một trường hợp một bác sĩ được đề bạt (hay nói đúng hơn là “phong”) PGS, dựa vào những thành tích khoa học có thể nói là “dubious” như xuất bản 6 cuốn sách trong một năm, bài báo khoa học “trùng tên” hay của tác giả khác, giảng dạy gần 1000 tiết học, v.v… Nhưng bài báo biện minh trên Giáo dục Việt Nam hoàn toàn né tránh các cáo buộc trên, và thay vào đó là những nhận xét cảm tính cá nhân của các vị chức sắc. Trong các vị đó, có vài người nay phục vụ trong hội đồng chức danh GS!

NVT

===

“Anh Tuấn,

Nhìn vào Hội đồng Y khoa thấy mà rầu!!!

Bà TKT là Viện trưởng Viện Mắt TU, là người có “nhiều vấn đề” với nhân viên, trong đó có một vụ ức hiếp một BS nhân viên giỏi. Do Viện Mắt tránh trách nhiệm về một tai nạn nghề nghiệp đối với bệnh nhân, bệnh nhân này tử vong khi bà KT vừa lên Giám đốc, bà đổ vấy tội hết lên bác sĩ này, nhưng thực ra anh ta không có tội, do sai sót trong quá trình bàn giao ca trực. Anh ta uất ức và bức xúc đến độ phải treo cổ tự tử vào cuối năm 1996 để lại vợ mang thai 4 tháng!!! Em suýt nữa bị đình chỉ công tác vì dám đứng ra can thiệp muốn cho xe tang của anh BS này dừng lại 5 phút trước cổng trường Y, để sinh viên Y ra tiễn đưa, trong khi đó trường sợ làm to chuyện. Em bị công an đến dắt tay vào trong, và sau đó bị trường gọi lên, nhưng may quá, không có bằng chứng nên họ không buộc tội gì cả. Qua vụ này em có cái nhìn rất thấp về tư cách đạo đức của bà TKT.

Trong này thấy hai phe Bắc/Nam:

Bắc: Phạm Gia Khánh (Học viện Quân Y), Lê Bách Quang, Vũ Minh Thuc, Trương Việt Dũng, Nguyễn Lân Việt, Hà Văn Quyết, Nguyễn Bá Đức, Phùng Đắc Cam, Tôn Kim Thanh, Lê Năm (Viện Bỏng Quốc gia)

Nam: Đặng Vạn Phước, Lê Quang Nghĩa (BV Bình dân), Hoàng Trọng Kim, Hoàng Tử Hùng, Trần Văn Sáng

Không có miền Trung (Đại học Y Huế) và dĩ nhiên không có miền Tây!!!

Để anh thấy chuyện phong giáo sư ở trong nước nó bệ rạc và dỏm như thế nào, em cho anh đọc một trường hợp sau đây sự sa đoạ đến báo động. Có lẽ chính vì những trường hợp này mà đại đa số GS/PGS của Việt Nam chẳng bao giờ được ai kính trọng cả. Cả một đội quân bất tài mà còn đại giả dối.

Đ"

http://www.laodong.com.vn/Home/Nhung-khuat-tat-can-lam-ro/20074/31174.laodong

Việc phong học hàm của một phó giáo sư Viện Tai mũi họng Trung ương:
Những khuất tất cần làm rõ

Lao Động số 80 Ngày 09/04/2007 Cập nhật: 10:42 PM, 08/04/2007

Nạn "đạo" công trình khoa học của người khác để làm luận án tiến sĩ báo chí đã không ít lần đề cập. Thế nhưng, "đạo" công trình của người khác để được phong hàm phó giáo sư (PGS) là "xưa nay hiếm".

Mới đây, Báo Lao Động đã nhận được đơn tố cáo những khuất tất trong việc phong hàm của một PGS tại Viện Tai mũi họng Trung ương.

Không khuất tất sao làm chui?

Tháng 11.2006, Viện Tai mũi họng Trung ương (Viện TMH) nhận thông báo: TS Nguyễn Thị Hoài An (sinh năm 1962) được công nhận là PGS. Thông tin này như một quả "bom" làm nóng dư luận trong ngành TMH cả nước. Đơn thư khiếu nại tố cáo bắt đầu được gửi đi. Ban lãnh đạo Viện TMH vào cuộc. Và điều bắt ngờ là, việc TS An làm hồ sơ, thủ tục để được phong hàm, lãnh đạo viện... không ai biết. Vì sao lại có chuyện làm "chui" như vậy?

Theo biên bản cuộc họp tại Viện TMH ngày 23.11.2006, TS An giải trình: Tôi xin đi làm học hàm khi giám đốc đi công tác nước ngoài. Tôi có nhờ phó giám đốc xác nhận lý lịch. Thế nhưng, PGS Nguyễn Thị Ngọc Dinh - Giám đốc Bệnh viện lại cho rằng: "Chị An nói sai, tôi đi công tác thời gian ngắn, không phải vào thời điểm chị đi nộp hồ sơ học hàm, và BS Cành có ký lý lịch cho chị An đi làm việc khác chứ không phải là xác nhận để đi làm học hàm". Quy định bắt buộc tại Nghị định số 20/CP ngày 17.5.2005 là phải báo cáo và được sự đồng ý của tổ chức nơi người xin xét học hàm PGS công tác.

Một điểm lưu ý khác, theo quy định người làm hồ sơ để phong học hàm phải hướng dẫn một người học cao học và tham gia giảng dạy đại học, sau đại học. Thế nhưng cũng theo PGS Dinh: "TS An hướng dẫn cao học, giảng lúc nào tôi không biết vì không báo cáo lãnh đạo bệnh viện".

Vi phạm vẫn được xét

Theo quy định của Chính phủ thì một trong những tiêu chuẩn mà người được công nhận chức danh GS, PGS phải có bằng tiến sĩ từ 3 năm trở lên. Tháng 5.2004, TS Nguyễn Thị Hoài An nhận bằng tiến sĩ. Như vậy, thời điểm mà TS An nộp hồ sơ xin xét tặng danh hiệu PGS năm 2006, TS An vẫn thiếu một năm so với quy định.

Theo tiến sĩ Hoàng Thị Thanh, Tổ trưởng Tổ thư ký Hội đồng Chức danh giáo sư cơ sở, Đại học Y Thái Bình, nơi "chấm điểm" hồ sơ của TS An thì để "bù" lại phần thiếu hụt, TS An phải đạt được số điểm gấp đôi so với những trường hợp thông thường khác. Vì thế, hồ sơ đăng ký xét học hàm của TS An có đến 7 tên sách chuyên ngành đã được xuất bản.

Thế nhưng 6/7 đầu sách TS An ghi trong hồ sơ, là nộp lưu chiểu sau 31.5.2006. Tức là quá hạn theo quy định. Một điểm khác biệt nữa là ngay trong năm 2006, năm TS An làm học hàm PGS, TS An đã viết tới 7 cuốn sách. Một sức viết quá "kinh khủng". Nhưng nếu không có 7 cuốn thì làm sao được chấm điểm cao để bù số điểm TS An chưa đạt 3 năm tiến sĩ?

Trong danh mục các công trình nghiên cứu được đăng trên các báo, tạp chí chuyên ngành mà TS Nguyễn Thị Hoài An đã nộp trong hồ sơ xin xét học hàm PGS tháng 5 năm 2006 có trùng tên 3 bài đăng trong tập "Kỷ yếu hội nghị chuyên ngành TMH chào mừng 100 năm thành lập ĐH Y Hà Nội (2002) ". Nhưng cả 3 bài này đều mang tên tác giả khác.

Như vậy có phải là TS An "mượn" 3 bài của tác giả khác lấy tên mình để đưa vào hồ sơ xin xét chức danh PGS? Giải thích về vấn đề nêu trên, PGS Nguyễn Hoàng Sơn (tác giả của 3 bài trên) đã giải trình "hộ" đồng nghiệp của mình bằng một bức thư gửi Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước, xin trích: "...Thực chất đây là ba luận văn thạc sĩ, nội trú, chuyên khoa II làm tại Viện TMH, tôi là người hướng dẫn chính... Tôi cho TS An 3 bài báo là để có thêm thành tích trong nghiên cứu, không phải để có thêm điểm" (!?). Tuy nhiên, trên thực tế, cả 3 bài báo này đều được người thẩm định cho điểm.

Theo lãnh đạo Viện TMH, những năm qua, ngày công làm việc tại BV của TS An khá đầy đủ. Vậy thời gian đâu mà TS An tham gia giảng dạy gần 1.000 tiết học tại Đại học Y Thái Bình - theo hồ sơ? Ngày 4.4, ông Vũ Trung Kiên, Phó trưởng bộ môn TMH - Đại học Y Thái Bình cho PV Lao Động biết, TS An có giảng dạy tại Đại học Y Thái Bình từ năm 2000 đến 2006. Tuy nhiên, khi chúng tôi đề nghị được cung cấp số liệu cụ thể về thời gian giảng dạy của từng khoá học, ông Kiên cho biết "không còn lưu giữ" (?!). Mặc dù, theo quy định của trường này, tất cả các nhật ký dạy và học đều phải được Phòng đạo tạo quản lý, phải nộp lại ngay sau giờ học.

PGS, GS là một học hàm cao quý khẳng định trình độ cao. Nhưng nó còn có giá trị thực tế hơn khi trong ngành y, cứ khám PGS, GS là người bệnh phải trả thêm tiền. Với một PGS có nhiều khuất tất như vậy, phải chăng người bệnh đang bị lừa?

Anh Minh

http://www.giaoducvietnam.vn/Web/Content.aspx?distid=11251&lang=vi-VN

Tiếp tục vụ TS.Hoài An bị phê phán oan "Xung quanh việc được phong phó giáo sư"

Cập nhật lúc 14h9', ngày 19/06/2007

Hàng loạt bài trên một số báo phê phán việc phong hàm Phó giáo sư cho TS. Nguyễn Thị Hoài An đã làm xôn xao dư luận cho bạn đọc. Bài báo: “Vấn đề phong học hàm, học vị bà Hoài An bị phê phán oan” in trên Tạp chí Trí tuệ số trước, đã giải thích phần nào những tai tiếng mà bác sỹ An bị hiểu nhầm. Tuy vậy qua tìm hiểu dư luận, vẫn còn nhiều những ý kiến bức xúc, lo lắng của các đồng nghiệp trong bệnh viện về việc này. Chúng tôi tiếp tục gặp gỡ, phỏng vấn những người trong Hội đồng cơ sở và Hội đồng liên ngành, những người trực tiếp cho điểm, thẩm định những quyển sách, những bài báo của bà Hoài An để làm sáng tỏ hơn sự việc.

Không có tiêu cực trong Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước.

GS.TS Nguyễn Văn Nguyên nguyên là chủ tịch Hội đồng cơ sở, kiêm uỷ viên hội đồng liên ngành
Tôi có một vinh dự được Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước công nhận và bổ nhiệm làm Chủ tịch hội đồng cơ sở hai khoá liền của Đại học y Thái Bình. Vì thế tôi luôn luôn quan tâm đến chất lượng, độ chính xác và cũng quán triệt đến các uỷ viên trong hội đồng về trách nhiệm trong việc xem xét từng trường hợp cụ thể thông qua chức danh này. năm vừa rồi có 10 ứng viên, trong đó có 2 ứng viên bị loại, còn 8 người còn lại đưa lên Hội đồng ngành cũng đạt cả. 12 vị trong Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước đều hài lòng về kết quả bình xét của chúng tôi.

Trường hợp của bà Hoài An, vòng thẩm định cơ sở là PGS Kham (hiện nay là phó hiệu trưởng trường ĐH Y Thái Bình), PGS Quế (Nguyên là Phó chủ nhiệm khoa), Hội đồng ngành là tôi và giáo sư Thụ (nguyên là hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội- người đã nhiều năm tham gia hội đồng này có đủ kinh nghiệm để thẩm định) về cơ bản qua hai vòng thẩm định đều thống nhất. Chúng tôi đã bàn kỹ từng điểm một không thể lọt những điều lớn như báo chí đã nêu trên.

Tôi thấy rằng: Bác sỹ An là một cán bộ nữ, trẻ có năng lực, được đào tạo cơ bản, đã giảng dạy nhiều năm ở 2 trường đại học lớn: Đại học Y Hà Nội và đại học Y Thái Bình. Về hoạt động khoa học: Có tới 4 lần chủ nhiệm đề tài cấp bộ, và tham gia đáng kể đề tài cấp nhà nước. Về viết sách báo: Có đến 7 đầu sách trong đó có 2 Sách giáo trình, 2 sách chuyên khảo, 3 sách tham khảo. Đối với nghề giáo thì sách giáo trình rất quan trọng, giáo trình này đã được giảng dạy ở 2 trường đại học và được Hội đồng khoa học và đào tạo thẩm định đạt chất lượng. Có 31 bài báo trong đó ở hội đồng cơ sở có 14 bài được tính điểm, lên đến hội đồng ngành thì nâng lên là 17 bài. Như vậy những thành tích mà bác sỹ An đã đạt được là không nhỏ, đánh dấu một sự nỗ lực không ngừng và liên tục. Về tư cách đạo đạo đức, Hội đồng thấy bác sỹ An được nhiều người khen, không chỉ ở Viện Tai Mũi Họng mà các đồng nghiệp ở hai trường đại học cũng yêu mến”.

Vậy tại sao vẫn có chuyện kiện tụng, hay kiến nghị từ phía lãnh đạo?

Chúng tôi đến gặp TS.BSCKIII Trần Công Hoà, hiện là Tổng thư ký Hội Tai-Mũi-Họng Việt Nam, Trưởng Phòng Tổ chức cán bộ Bệnh viện Tai Mũi Họng-TW, một thầy thuốc ưu tú đã gắn bó với viện mấy chục năm qua ông tâm sự: “Thú thực tuy là Trưởng phòng tổ chức cán bộ nhưng tôi không biết xuất phát từ vấn đề gì mà có chuyện lãnh đạo kiến nghị lên báo chí về nhân viên của mình. Không thể lấy danh nghĩa một tập thể đưa lên chính kiến của cá nhân mình trước công luận. Tôi cảm thấy rất buồn vì có chuyện lục đục nội bộ, chỉ mong sao được ổn định để làm việc. Nếu nhân viên trong cơ quan có vấn đề, giám đốc có thể tổ chức 1 cuộc họp Đảng uỷ, BGĐ để làm sáng tỏ sự việc. Trong khi đó Đại hội công nhân viên chức ở cơ quan, chị Dinh (Nguyên là giám đốc bệnh viện) chỉ nêu ra những vấn đề nghi hoặc về bác sỹ An, khi bác sỹ An xin phép được giải trình thì không được giải trình với lý do là thời gian không còn nữa”.

“ Là một đồng nghiệp tôi rất mừng khi bác sỹ An được phong hàm PGS, bệnh viện lại có thêm một PGS đây sẽ là động lực phấn đấu cho những bác sỹ trẻ khác. Việc phong PGS là việc rất khó bởi bản thân tôi được đào tạo cơ bản ở nước ngoài về, vừa làm công tác chuyên môn, cũng như công tác quản lý của bệnh viện tôi luôn ý thức phấn đấu để lên PGS nhiều năm nay nhưng vẫn chưa được. Một phần là do mình, một phần là do không được tạo điều kiện. Bởi vì: Muốn làm hồ sơ để xét phong học hàm PGS thì một trong số những tiêu chí là phải đạt được số giờ giảng ở trường ĐH trong năm. Trong khi đó Bệnh viện Tai-Mũi-Họng là cơ sở thực hành của trường Đại học Y Hà Nội, vậy mà có tới 3 lần tôi làm đơn xin làm giảng viên kiêm nghiệm mà vẫn không được chấp nhận. Hàng năm viện hướng dẫn biết bao nhiêu sinh viên về thực hành, như vậy chúng tôi không trực tiếp đứng trên bục giảng nhưng cũng đang là những người giảng dậy thực tế nhất. Nhưng từ trước đến nay, chưa một ai được tính điểm.

GS.TSKH.Vũ Minh Thục –Nguyên là uỷ viên hội đồng cơ sở Giáo sư.

TSKH Vũ Minh Thục Bức xúc: “Đây là một vấn đề tạo ra sự bức xúc trong cơ quan chúng tôi mấy tháng nay. Với tư cách là uỷ viên hội đồng cơ sở Thái Bình tôi thấy rằng: Vấn đề phong học hàm cho TS Hoài An không giống như báo Nông nghiệp đưa:Thứ nhất, bác sỹ An xin được phong PGS là hoàn toàn đúng thủ tục. Khi Chị Dinh (giám đốc) đi vắng, thì phó giám đốc là anh Lê Xuân Cành (vừa là Bí thư Đảng uỷ) đã ký và giới thiệu lên bộ Y tế, như vậy không có gì sai cả. Chưa kể việc anh Cành là một cán bộ đã gắn bó với Viện mấy chục năm nay, hơn ai hết là người hiểu được tâm tư nguyện vọng của nhân viên mình. Chắc chắn ở đây có một vấn đề tế nhị nào đó… khó nói ra. Bởi một giám đốc phải vui khi có nhân viên của mình tham dự và đạt được thành công, Viện càng có nhiều PGS, có người tài để đem sức mình phục vụ bệnh nhân, phục vụ đất nước.

Vấn đề thứ hai về 3 bài báo in ở Tai-mũi-họng không nằm trong danh sách hội đồng học hàm chấm điểm, vì thế không thể nói là “mượn công trình” hoặc “gian trá được”. Bản thân bác sỹ An biết rất rõ là báo đó không được chấm điểm. Và bản thân chị An cũng đã giải trình với Hội dồng chức danh Giáo sư Nhà nước về việc tại sao đưa vào hồ sơ. Hơn nữa GS Nguyễn Hoàng sơn- Giảng viên trường Đại học Y Hà Nội là người chủ nhiệm ba đề tài đó, đã lên Bộ Y tế xin bổ sung thêm TS An là người đồng hướng dẫn. Sau này, thầy Sơn cũng đã bổ sung tên bác sỹ An vào khi đưa lên báo. Vì thế có gì để bàn luận nữa.

Về 7 đầu sách, Hội đồng khoa học của trường Đại học Y Thái Bình đã thẩm định những sách này là sách đã được sử dụng vào đào tạo đại học và sau đại học thì sách của BS An mới được cho vào bộ hồ sơ để tham dự. Hội đồng cơ sở gồm có 9 người, và 9 nhà khoa học đều nhìn thấy 7 quyển sách để trên mặt bàn thẩm định. Còn việc nộp lưu chiểu muộn là lỗi của nhà xuất bản.

Với cơ quan đồng nghiệp, đến các giáo sư đầu ngành Tai-Mũi-Họng đều vui mừng khi BS An được phong hàm PSG, như giáo sư Hoà, PGS Phong, TS…

Ngay từ khi còn trẻ bác sỹ An đã là một bác sỹ nội trú. Với ngành y bác sỹ nội trú phải có một trình độ nào đó, phải là người yêu khoa học, yêu nghiên cứu. Suốt mấy chục năm, BS An liên tục tham gia các đề tài cấp bộ và cấp nhà nước, cố gắng không mệt mỏi, say mê và làm việc rất nghiêm túc. Cho nên, việc BS An được phong học hàm PGS, các đồng nghiệp, các giáo sư đầu ngành không ngạc nhiên cả. Sinh mạng chính trị của con người nó còn quý hơn sự sống. Nên khi nói về một người nào đó chúng ta phải hết sức cẩn trọng. Có thể BS An có những thiếu sót nhưng chỉ là thiếu sót về mặt thủ tục hành chính.

Trong cơ quan còn rất nhiều những tiến sỹ trẻ và giỏi: Như TS Hoa, TS Châu, TS Kỳ…Việc BS An là TS đầu tiên được phong hàm PGS có tác dụng động viên để khuyến khích rất lớn cho mọi người phân đấu theo. Đó là mục đích cao đẹp, là lý tưởng sống của những người thầy thuốc mong muốn phục vụ tốt công tác chữa trị cho bệnh nhân khi họ là chuyên gia. Vì vậy những người đi trước, phải khuyến khích động viên và ủng hộ các bạn trẻ.

Chúng tôi ra về GS Vũ Minh Thục còn nói với theo: “Các nhà báo phải cứu lấy danh dự cho bác sỹ An. Bởi còn bao nhiêu các bác sỹ trẻ là tiễn sỹ giỏi họ cần có niềm tin để phấn đấu.

YT

Đại dịch H1N1

Sau nhiều tuần xem xét và cân nhắc, Tổ chức y tế thế giới (WHO) hôm qua (11/6/09) đã chính thức tuyên bố cúm H1N1 là một đại dịch (họ nói nguyên văn: “The world is now at the start of the 2009 influenza pandemic.”) Như tôi từng dự đoán, WHO qua phát biểu của tổng giám đốc Margaret Chan cũng thêm rằng đại dịch này chỉ ở mức độ nghiêm trọng trung bình (“moderate severity.”). Nói cách khác, không có gì phải cuống cuồng lên, mọi sinh hoạt vẫn nên diễn ra bình thường.

Kể từ khi cúm H1N1 được phát hiện ở Mexico vào giữa tháng 2/2009 cho đến nay đã có 74 nước trên thế giới báo cáo trên 30,000 ca cúm H1N1, với hơn 200 tử vong. Con số tử vong thực tế có thể thấp hơn.

Để hiểu con số đó có ý nghĩa gì, chúng ta nên so sánh với cúm thông thường. Nên nhớ rằng cúm mùa (xảy ra hàng năm chủ yếu vào mùa đông) gây tử vong cho khoảng 400,000 người mỗi năm. Tuy nhiên, khác với cúm mùa thường gây tử vong cho người cao tuổi, cúm H1N1 xảy ra ở người dưới 25 tuổi. Theo WHO, chỉ có 2% các ca cúm H1N1 là nghiêm trọng.

Việc tuyên bố “đại dịch” của WHO là cả một quá trình cân nhắc cẩn thận đến tác động đến kinh tế xã hội. Ngày 27/4/09, WHO tuyên bố cúm H1N1 ở giai đoạn 4 (tức lây truyền từ người sang người ở một cộng đồng). Ngay từ đó, các quan chức WHO đã cho biết một đại dịch khó tránh khỏi. Chỉ 2 ngày sau, với nhiều bằng chứng lan truyền qua nhiều nước, WHO “nâng cấp” lên cấp 5. Phải đợi đến hơn 1 tháng sau, WHO mới chính thức tuyên bố cấp 6 (tức cao nhất).

Tại sao WHO lại chậm trễ trong tuyên bố đại dịch? Nghe nói rằng vì WHO phải “tham vấn” các nước thành viên để xem ý kiến của họ là gì, và một số nước này phản đối cụm từ đại dịch. Nước nào phản đối? Xin thưa là Anh, Tàu, và Nhật là những “kẻ” phản đối vì họ … sợ. Trong khi đó ở Mĩ các quan chức y tế không sử dụng hệ thống phân cấp như WHO, nhưng trong thực tế họ đã xem đó là một đại dịch.

Thật ra, đứng trên phương diện dịch tễ học, không ai ngạc nhiên đây là một đại dịch cả. Còn nhớ vào ngày 28/4/09, qua phân tích các điều kiện của một đại dịch, người viết bài này có viết rằng “Nói tóm lại, trong 3 điều kiện cho một đại dịch, virút H1N1 đã hội đủ cả 3 điều kiện. […]đây là một vấn đề toàn cầu, với tầm quan trọng lớn hơn nhiều so với dịch cúm do H5N1 gây ra trong thời gian gần đây.”

Liên quan đến tuyên bố của WHO là một nghiên cứu mới nhất và rất thú vị về quá trình tiến hóa của virút H1N1 từ heo sang người như thế nào, và kể từ đó đã phát triển thành một “đại dịch”. Tôi nghĩ ý nghĩa lớn nhất của nghiên cứu này là nó bác bỏ những luận điệu lan truyền trong vài tuần qua cho rằng virút H1N1 là do con người cố tình (hay vô ý) gây ra.



Biểu đồ cho thấy các virút khác nhau kết hợp với nhau như thế nào qua nhiều thập niên để sản sinh H1N1. Màu xanh chỉ virút tìm thấy từ chim, đỏ là virút trong heo, và xám là virút từ người.

Diễn giải một cách tổng quan, nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng vấn đề bệnh truyền nhiễm không còn giới hạn trong một quốc gia. Việc đi lại bằng máy bay đã trở thành một “phương tiện” lan truyền virút cúm một cách nhanh chóng. Thế giới này quả thật chỉ là một.

Quay lại tuyên bố “đại dịch” của WHO, câu hỏi đặt ra là nó có nghĩa gì? Theo tôi, nó chẳng có ý nghĩa gì trong thực tế cả, ngoài tác động làm cho một số người hoảng hốt. (Hi vọng rằng mấy ông Úc không dở trò bế quan tỏa cảng như 2 tuần trước). Tôi nghĩ dù có gọi là đại dịch hay danh từ gì đi nữa thì sự việc đang xảy ra, và điều mà chúng ta cần biết là tốc độ lan truyền và mức độ nguy hiểm của virút. Do đó, cách hay nhất là thông báo số ca hàng ngày trên internet để thế giới biết mà phòng ngừa.

NVT

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009

Đại dịch đã đến ?

Hôm qua, một quan chức của Tổ chức y tế thế giới (WHO) là Tiến sĩ Keiji Fukuda có một cuộc họp báo về tình trạng cúm H1N1. Trong buổi họp báo, Ts Fukuda có nói nhiều về chuyện có nên tuyên bố đây là một đại dịch hay không. “Đại dịch” là chữ tôi dịch từ thuật ngữ “Pandemic”.

Pandemic là gì ?

Pandemic là chữ gốc Hi Lạp, với hai phần: phần đầu “pan có nghĩa là “tất cả”, và tiếp vĩ ngữ demic có gốc là “demos” có nghĩa là “người”. Do đó, sách dịch tễ học định nghĩa pandemic là một dịch cúm ảnh hưởng đến nhiều người và lan truyền giữa người với người trên qui mô đa quốc gia. Đó là định nghĩa hàn lâm, còn theo định nghĩa thực tế và hiện hành của WHO thì dịch cúm được chia thành 6 giai đoạn có thể tóm lược như sau:

Giai đoạn 1 (Phase 1) là khi các virút tìm thấy trong thú vật và gia cầm nhưng không gây nhiễm trùng cho con người.

Giai đoạn 2 là khi virút tìm thấy trong thú vật hay gia cầm được biết là nguyên nhân gây truyền nhiễm ở người.

Giai đoạn 3 là khi có virút lan truyền từ thú vật hay gia cầm sang người, và gây ra một số ca bệnh trong những nhóm nhỏ, nhưng không có lan truyền từ người sang người, hoặc có nhưng chỉ trong điều kiện tiếp xúc rất gần nhau.

Giai đoạn 4 là khi virút tìm thấy ở thú vật hay gia cầm gây cúm cho người, có bằng chứng cho thấy virút đó lan truyền từ người sang người, và gây dịch bệnh cho một cộng đồng nhỏ.

Giai đoạn 5 là khi virút lan truyền từ người sang người, và lan truyền sang ít nhất là 2 quốc gia trong một vùng. (Hiện nay một cách chính thức cúm H1N1 đang ở giai đoạn này.)

Giai đoạn 6 (còn gọi là pandemic hay đại dịch) là khi virút lan truyền từ người sang người, và lan truyền sang ít nhất là 2 quốc gia ở khác vùng trên thế giới.

Do đó, đại dịch hiểu theo nghĩa thông thường là dịch bệnh lan truyền ở qui mô xuyên quốc gia và toàn cầu, và gây ra nhiều tử vong. Những đại dịch trong qúa khứ như dịch cúm Tây Ban Nha gây ra tử vong cho gần 40 triệu người, hay đại dịch 1968-1969 cũng gây tử vong cho hơn 1 triệu người. Theo những dự đoán lạ lùng của giới khoa học chiêm tinh gia, có người cho rằng một đại dịch sẽ xảy ra nhưng không biết lúc nào. Trước đây khi cúm H5N1 người ta cũng tiên đoán “đại dịch”, và trước đó SARS cũng không thoát khỏi ngữ vựng này. Nay thì đến H1N1. Vậy chúng ta thử xem WHO nói gì, và xem lại tình hình thực tế ra sao.

Dữ liệu thực tế

Theo tôi hiểu từ phát biểu của Fukuda, đại dịch H1N1 quả thật đang xảy ra trên thế giới. Nhưng WHO tỏ ra lúng túng có nên tuyên bố chính thức đây là một đại dịch (tức là giai đoạn 6, giai đoạn cao nhất trong hệ thống kiểm soát dịch bệnh toàn cầu). Fukuda cho biết WHO đang chờ ý kiến từ các quốc gia thành viên và sẽ quyết định tuyên bố đại dịch hay không.

WHO là một cơ quan của Liên hiệp quốc có trách nhiệm theo dõi và cải tiến y tế toàn cầu. Vai trò của WHO là lãnh đạo, chứ đâu phải theo đuôi mà phải chờ ý kiến người khác. Cách làm việc của WHO kể ra thì cũng khiêm tốn đấy, nhưng nó cũng chẳng khác gì mấy người khởi xướng cuộc cách mạng năm 1848 rượt đuổi đám đông ở vườn Luxembourg (Paris) và hô hào: "Ta là người lãnh đạo của họ! Ta phải theo họ!"

Bây giờ chúng ta thử xem xét dữ liệu thực tế. Có hai dữ liệu chúng ta có thể dựa vào để bàn luận:

Thứ nhất là dịch cúm H1N1 dù có qui mô toàn cầu, nhưng số ca không nhiều. Tính đến ngày hôm qua (9/6/2009), thống kê của WHO cho thấy thế giới có 25,228 ca bệnh. Trong tương lai, cúm có thể vẫn còn lan rộng, nhưng trong thời gian qua thì tốc độ lan truyền có vẻ chậm so với các đại dịch trước đây. Không ai đoán được số ca bệnh là bao nhiêu, nhưng nếu theo tốc độ hiện nay, thì số ca toàn cầu có thể chỉ giới hạn trong con số dưới 100 ngàn.

Thứ hai là tử vong không cao. Thật vậy, trong số 25,228 ca bệnh, có 139 người tử vong, tức tỉ lệ tử vong là 0.55%. Trong thực tế, tỉ lệ này có thể còn thấp hơn, nhưng chúng ta tạm chấp nhận tỉ lệ này như là một ước số. Riêng Việt Nam ta có 15 ca, và chưa có ca tử vong nào.


Nguồn: CDC

Thứ ba là số liệu từ biểu đồ trên đây cho thấy chỉ 2.8% ca là các virút cúm thông thường (cúm mùa loại A và B). Phần 97% còn lại là virút H1N1 mới (75%) và không mới (15%) hay không rõ (7%). Do đó, phần lớn cúm lan truyền hiện nay là virút H1N1.

Ba dữ liệu trên cho thấy dù H1N1 có lan truyền ở qui mô toàn cầu (đáp ứng tiêu chuẩn đại dịch) nhưng không nguy hiểm.

Nên gọi là gì ?

Vấn đề tôi đặt ra là có cần thiết gọi là đại dịch hay không? Như tôi vừa nói, tình trạng lây lan toàn cầu hiện nay có thể nói là cúm H1N1 đã là một “đại dịch”, cho dù WHO có muốn gọi như vậy hay không. Nhưng nếu H1N1 là đại dịch thì tại sao chúng ta không gọi những dịch cúm hàng năm vào mùa đông là đại dịch, bởi vì những trận cúm này cũng xảy ra ở qui mô toàn cầu hàng năm và còn gây ra nhiều tử vong hơn là cúm H1N1 hiện nay.

Nhưng chẳng ai sợ đại dịch cúm mùa, mà rất sợ đại dịch H1N1 hay H5N1. Nghiên cứu tâm lí cho biết con người chúng ta thường sợ hãi những gì mình chưa biết, những gì bất ngờ, cho dù nguy cơ thì rất thấp. Chúng ta sợ tai nạn máy bay nhưng không sợ tai nạn xe cộ. Người Việt chúng ta sợ cúm H1N1 (dù cúm chưa gây tử vong cho ai) nhưng không sợ xe gắn máy là “thủ phạm” giết chết cả 15 ngàn người mỗi năm. Do đó, tuyên bố đại dịch sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế toàn cầu, vì do sợ hãi, nên chắc chắn có người sẽ từ chối đi làm, sẽ có “bế quan tỏa cảng” như Úc đã làm, sẽ có hạn chế đi lại, giao dịch thương mại, v.v… Nhìn ở khía cạnh này tôi rất thông cảm cho WHO khi họ cân nhắc có nên tuyên bố pandemic hay không.

Tuy nhiên, tôi nghĩ cách phân cấp dịch bệnh của WHO không còn thích hợp nữa. Thay vì phân cấp dịch bệnh theo 6 cấp, WHO có thể cập nhật hóa số ca bệnh hàng ngày để thế giới biết sự lan truyền bệnh ra sao.

Thật vậy, điều mà công chúng cần biết không phải là một thuật ngữ “đại dịch” hay “tiểu dịch”, hay dịch cấp 5, cấp 6, mà là bao nhiêu bệnh nhân chịu ảnh hưởng và bao nhiêu trường hợp tử vong. Trong thời đại y học thực chứng, chúng ta cần bằng chứng, và bằng chứng trong trường hợp này phải thể hiện bằng con số cụ thể, chứ không phải những mĩ từ dịch bệnh mang tính hành chính.

NVT

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Cái chết của vua Quang Trung

Xin giới thiệu các bạn một lí giải của Bs Bùi Minh Đức (Mĩ) về nguyên nhân tử vong của vua Quang Trung. Tôi vẫn phân vân về phương pháp nghiên cứu, và một số dữ liệu tác giả sử dụng. Tuy nhiên diagnosis cuối cùng thì xem ra có vẻ có lí.

NVT

===

Cái chết của vua Quang Trung

Bùi Minh Đức

1. Đặt vấn đề

Theo các tư liệu về Sử học, vua Quang Trung mất ngày 16 tháng 9 năm 1792 lúc mới 40 tuổi, sau một cơn “bạo bệnh”. Không có một tài liệu lịch sử nào nói rõ “bạo bệnh” đó là bệnh gì. Nhiều giả thuyết về cái chết của vua Quang Trung đã được đưa ra nhưng chưa có một khảo cứu nào căn cứ vào Y khoa ngày nay phối hợp với các sự kiện đã được ghi trong các tư liệu Sử học để có thể cho chúng ta biết một cách rõ ràng hơn về bệnh trạng cũng như về nguyên nhân tử vong của nhà vua.

2. Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào những tư liệu có giá trị đích thực của Sử học Việt Nam có đề cập đến bệnh trạng của vua Quang Trung để suy nghiệm ra các triệu chứng lâm sàng của Nhà vua. Sau đó, đối chiếu các triệu chứng tìm được đó với một số bệnh cũng có cùng những triệu chứng đó trong Y khoa ngày nay để có thể phỏng đoán được bệnh trạng của nhà vua. Dựa trên các hiểu biết ngày nay về căn bệnh đã phỏng đoán được đó, quay ngược lại để biết thêm những triệu chứng khác của Quang Trung.

3. Hồ sơ bệnh lý của vua Quang Trung trước giờ lâm chung

Bệnh sử (History of the Illness)

Hai tư liệu sử học có giá trị là Đại Nam thực lục chính biên Đại Nam chính biên liệt truyện cho biết diễn tiến của bệnh nhà vua lúc khởi đầu như sau: “Bệnh nhân đang ngồi chơi buổi chiều, bỗng cảm thấy xây xẩm tối tăm, đau đầu như có ai cầm gậy sắt đánh vào trước trán và té xuống kiền, hôn mê bất tỉnh. Sự việc xẩy ra rất đột ngột. Giờ lâu bệnh nhân mới tỉnh lại”.

Triệu chứng lâm sàng (Clinical Signs)

Xét kỹ bệnh sử, chúng ta có tám yếu tố định bệnh lúc khởi đầu như sau: 1/ Bệnh nhân còn trẻ, chỉ mới 40 tuổi 2/ Đau đầu dữ dội, đột ngột 3/ Xây xẩm chóng mặt 4/ Tối tăm = hỗn loạn thị giác 5/ Hôn mê ngất xỉu thình lình 6/ Bệnh nhân không vận động sức lực 7/ Bệnh nhân không bị tổn thương trên đầu 8/ Bệnh nhân đã tỉnh lại sau đó, không bị hôn mê dài ngày.

Chẩn đoán phân biệt (Differential Diagnosis):

Dựa vào triệu chứng quan trọng là “bất tỉnh” (Loss of Consciousness = LOC). Khi có “Bất Tỉnh bất thình lình” mà không có chấn thương trên đầu, Y khoa ngày nay nghỉ ngay đến “nguyên nhân não bộ”, thường là do “tai biến mạch máu não” (Cerebrovascular Accident = CVA). Theo thống kê, 95% các trường hợp “bBất tỉnh thình lình” là do các mạch máu trên não gây ra. Trong số này, 80% là do “nghẽn động mạch não”, 20% là do “xuất huyết trong não” với 14% “xuất huyết trong não bộ” và 6% “xuất huyết dưới màng nhện”.

Nghẽn động mạch (Arterial Occlusion): Chia ra 50% nghẽn động mạch do “máu đông tại chỗ” (Thrombotic Stroke) và 30% do “cục máu di chuyển tới” (Embolic Stroke). Bệnh nhân thường lớn tuổi. Thông thường không có đau đầu và bệnh trạng xẩy ra không đột ngột.

Xuất huyết não: (Intracerebral Hemorrhage): Do vỡ động mạch trong chất não. Bệnh nhân thường bất tỉnh đột ngột, hôn mê sâu (Coma) nhưng thường là ở những người cao tuổi, thường do cao huyết áp và thường xẩy ra lúc đang vận sức .

Xuất huyết dưới màng nhện: (Subarachnoid Hemorrhage): Thường thường đa số “xuất huyết dưới màng nhện” là do chấn thương sọ não. Số còn lại do “vỡ mạch máu tự phát” (Spontaneous Rupture): 80% do vỡ mạch phình (Aneurysm) và 5% do vỡ mạch dị dạng bẩm sinh (Congenital AV Malformations). Bệnh nhân thường là người trẻ khoảng 14-40 tuổi. Triệu chứng thường rất đột ngột (Sudden Onset). Đau đầu đột ngột, rất dữ dội. Bệnh nhân bất tỉnh ngay lập tức. Ngoài ra còn có thêm: chóng mặt, ói mửa, liệt nửa người, tê nửa người, liệt nửa mặt, rối loạn thị trường, rối loạn nuốt… Ngoài ra, vài tháng trước khi bị bệnh này, 50% các bệnh nhân thường có các “dấu hiệu cảnh báo” (Warning Symptoms) như đau đầu hoặc chóng mặt, tê và liệt nhẹ tay chân .

Chẩn đoán bệnh trạng (Clinical Diagnosis): Đối chiếu các triệu chứng tìm được trên người vua Quang Trung, chúng ta thấy căn bệnh khởi đầu của vua Quang Trung rất có thể là "xuất huyết dưới màng nhện do vỡ phình mạch máu" (Subarachnoid Hemorrhage by Spontaneous Aneurysm Rupture).


Diễn tiến bệnh trạng (Progress Notes): Vừa suy dẫn theo sử liệu, vừa suy đoán theo các hiểu biết của Y khoa ngày nay, ta sẽ có các triệu chứng khác của căn bệnh nhà vua như sau:

Theo Đại Nam thực lục chính biên: “…Huệ ngất ngã ra. Tã hữu đều sợ. Giờ lâu mới tỉnh. Nhân đó ốm không dậy được, dặn con là Quang Toản…”. Bệnh nhân đã không đứng dậy được hoặc vì bị 1/ "liệt tay chân" tức chứng "bán thân bất toại" (Hemiplegia), hoặc do chứng 2/ "chóng mặt" (Dizziness, Vertigo) và cũng có thể cả hai nguyên nhân nầy cùng xẩy đến một lúc. Chứng "huyền vựng" mà tác giả Hoa Bằng đã có lần nêu lên về bệnh trạng của vua Quang Trung trước đây chính là chứng "chóng mặt" này. "Chóng mặt" thường kèm theo 3/ "ói mửa" (Nausea or Vomiting). Ngoài ra, bệnh nhân chắc chắn vẫn còn có dư chứng 4/ "nhức đầu" (Recurrent Headache).

Theo Ai tư vãn: “Từ nắng hạ mùa thu trái tiết, xót mình rồng mệt mỏi chẳng yên”: Bệnh nhân trên hai tháng mới mất. Bệnh nhân nằm day trở “chẳng yên”trên giường bệnh, có thể do 5/ “chứng bồn chồn” (Restlessness) hoặc do chứng 6/ “co giật” (Convulsions) hoặc do chứng 7/ “động kinh” (Seizures) .

Theo suy nghiệm từ các triệu chứng của căn bệnh “xuất huyết dưới màng nhện” trong Y khoa ngày nay, chúng ta thấy nhà vua còn có thể có các triệu chứng (Clinical Signs) như sau: 8/ nuốt khó và nuốt sặc do rối loạn về chức năng nuốt (Swallowing problems), 9/ cứng cần cổ, đau cần cCổ (Meningismus), 10/ rối loạn vế thị giác, 11/ Chứng sợ ánh sáng (Photophobia)...

Điều trị (Treatment)

Theo Ai tư vãn: “Xiết bao kinh sợ lo phiền, miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu. Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước, phương pháp nào đổi được cùng chăng?”. Bệnh nhân đã được điều trị 1/ theo cách xưa cổ truyền là cầu đảo thần linh khắp nơi và 2/ chạy thầy chạy thuốc khắp chốn để mong cho bệnh của vua có thể chóng lành.

Tiên lượng bệnh trạng (Prognosis)

Về tư liệu chứng minh, theo Đại Nam chính biên liệt truyện và Đại Nam thực lục chính biên thì nhà vua “đã vời Trung thư Trần Văn Kỷ và Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về Phú Xuân để trối trăn và bàn bạc chuyện dời đô ra Nghệ An …” Suy nghiệm: Tiên lượng bệnh trạng của vua bằng cách đánh giá tình trạng hệ thần kinh (Bilan Neurologique) của vua sau ngày bị bạo bệnh:

- Nhà vua còn đủ óc phê phán, suy tính lợi hại, như vậy trí thông minh của vua vẫn còn tồn tại. Trung tâm của thông minh, của suy nghĩ và lý luận là ở thùy trán. Như vậy não bộ vùng trán của nhà vua vẫn còn hoạt động.

- Nhà vua còn năng khiếu ngôn ngữ để trối trăn, dặn dò và bàn luận với quần thần. Như vậy trung tâm về ngôn ngữ của vua vẫn còn hoạt động. Trung tâm về ngôn ngữ thường ở phía bên trái của những người thuận dùng tay phải (96%) và như vậy ta có thể phỏng đoán phía não bên trái của nhà vua vẫn còn hoạt động bình thường.

- Từ đó chúng ta có thể suy ra: phía chảy máu não của vua Quang Trung là phía phải và cũng từ đó, có thể suy ra thêm là vua bị tê liệt tay chăn (còn gọi là “bán thân bất toại”) bên phía trái vì các dây thần kinh vận động tay chân từ não bộ phía bên phải bị hư hại chạy tréo qua bên phía trái khi xuống phía dưới tủy sống... Như vậy, ta có thể đoán tay chân phía bên pahir của vua vẫn còn hoạt động bình thường. Nếu nhà vua lúc đó muốn cầm tay công chúa Ngọc Hân hay các cận thần để dặn dò trối trăn thì chắc chắn nhà vua đã phải dùng tay phải để cầm tay họ.

Theo tiên lượng (Prognosis) của Y khoa ngày nay về bệnh “xuất huyết dưới màng nhện” nầy thì 30% bệnh nhân sẽ chết ngay trong 30 ngày đầu, 30% sẽ hồi phục với các di chứng tàn tật nặng nhẹ khác nhau và 50% sẽ chết do xuất huyết lần đầu và do xuất huyết tái phát.

Các thử nghiệm ngày nay

Y khoa ngày nay đã có nhiều thử nghiệm để định bệnh và xác định vị trí trong tai biến mạch máu mão như CT Scan.

Chọc hút dịch não tủy (Lumbar puncture), X Quang mạch máu, MRI, MRA, Doppler Xuyên Sọ, Xenon CT Scanning, PET Scanning, chụp máu mão...

Điều trị xuất huyết dưới màng nhện hiện nay: “tai biến mạch máu não” cần phải được điều trị nhanh chóng vì não sẽ bị hư hại trong vòng vài giờ sau khi bị tai biến. Chữa trị thường bằng thuốc và bằng phẫu thuật. “kỹ thuật vàng” (Gold Standard) trong phép điều trị bằng phẫu thuật của “xuất huyết dưới màng nhện” là kỹ thuật “kẹp mạch” (Clipping).

Nguyên nhân tử vong của vua Quang Trung

Theo Ai tư vãn (“Từ nắng hạ mùa thu trái tiết”) thì vua Quang Trung đã qua đời khoảng 2 tháng sau khi bị bạo bệnh. Nguyên nhân nhà vua mất có thể do:

Bệnh tái phát (Recurrent Bleeding): chứng xuất huyết dưới màng nhện khi tái phát thường là trong vòng vài tuần sau đó. Theo “Ai tư vãn”, vua đã sống hơn hai tháng mới mất. Như vậy khó có thể do bệnh tái phát .

Viêm phổi hít (Aspiration Pneumonia): Bệnh nhân khi bị tê liệt nửa người trong xuất huyết não thường bị rối loạn chức năng NUỐT, phát sinh chứng sặc vì thức ăn dễ đi lộn đường vào khí quản. Phế quản có thể bị tắc nghẽn gây nên chứng xẹp phổi (Pulmonary Atelectasis). Ngoài ra, thức ăn vào trong khí quản sẽ bị nhiễm trùng, gây nên chứng “viêm phổi hít” (Aspiration Pneumonia), tiến dần tới viêm phổi dịch, viêm phổi mủ và cuối cùng dẫn đến chứng “suy hô hấp” (Respiratory Distress) và bệnh nhân chết. Và vì vậy, theo chúng tôi, sau hai tháng bị bệnh xuất huyết dưới màng não”, vua Quang Trung đã qua đời vì bệnh: “suy hô hấp do viêm phổi hít”

4. Kết luận

Dựa vào các hiểu biết của Y khoa hiện đại phối hợp với các tư liệu có giá trị đích thực của Sử Học còn lưu lại đến ngày nay, chúng ta đã CÓ THỂ suy nghiệm ra CĂN BỆNH của vua Quang Trung là: “XUẤT HUYẾT DƯỚI MÀNG NHỆN DO VỠ MẠCH PHÌNH” và NGUYÊN NHÂN TỬ VONG của vua Quang Trung là “SUY HÔ HẤP DO VIÊM PHỔI HÍT”.

HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”