Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

Tiếng Anh: Khi các nhà khoa học gật đầu và mỉm cười

"Đã biết bao nhiêu lần, tôi chứng kiến cảnh diễn giả nói tiếng Anh không rành phải được yêu cầu nhường cho người khác nói; cảnh các nhà khoa học trong nước ra ngoài họp chỉ biết lịch sự gật đầu và … mỉm cười".

Trong thời đại toàn cầu hóa, thông thạo một ngoại ngữ mở ra một cánh cửa và lựa chọn sự nghiệp cho cá nhân.

Ở nước ta trong quá khứ, có nhiều “làn sóng” học tiếng Pháp, Nga, và tiếng Trung Quốc. Nhưng xu hướng chung của HSSV ngày nay có lẽ là học tiếng Anh. Thật ra, chẳng phải riêng gì ở nước ta, mà trên thế giới ngày nay, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất, được nhiều người học nhất, và có nhu cầu cao nhất (1). Theo thống kê hiện nay, tiếng Anh là ngôn ngữ mẹ đẻ của khoảng 400 triệu người. Ngoài số này, còn có hơn 430 triệu người sử dụng tiếng Anh như là một ngôn ngữ thứ hai, và khoảng 750 triệu người sử dụng tiếng Anh như là một ngoại ngữ (1). Có nghiên cứu cho rằng đến năm 2015, phân nửa dân số trên thế giới sẽ sử dụng tiếng Anh.

Bất cứ sự mất cân bằng nào cũng đáng quan tâm. Phong trào theo học tiếng Anh ở nước ta làm cho vài người quan tâm đến vấn đề chiến lược hay “làm nghèo văn hóa”. Thật ra, tôi rất cảm thông với những quan tâm này, nhưng chúng ta cũng cần nên nhìn vấn đề thực tế hơn. Ở đây, tôi chỉ muốn bàn qua vấn đề này qua kinh nghiệm và cái nhìn của một người làm khoa học.

Trên thế giới ngày nay, tiếng Anh không chỉ là một ngôn ngữ quốc tế trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, mà còn là một thứ ngôn ngữ Esperanto trong hoạt động khoa học quốc tế. Vào thập niên 1980s, trên 60% các tập san khoa học trên thế giới sử dụng tiếng Anh. Hai mươi năm sau, con số này là trên 80%. Trong vài lĩnh vực như y khoa và sinh học, hiện nay hơn 90% các tập san sử dụng tiếng Anh (2). Ngay cả tập san khoa học tại các nước không nói tiếng Anh như các nước Bắc Âu và Nhật cũng sử dụng tiếng Anh làm phương tiện thông tin. Các tập san danh tiếng và uy tín vào hàng số một trên thế giới (như Science, Nature, Cell, Lancet, New England Journal of Medicine, Nature Genetics, v.v…) đều xuất bản bằng tiếng Anh.

Ngoài ra, tiếng Anh đã trở thành một ngôn ngữ quốc tế cho các hội nghị khoa học quốc tế. Ngay cả các diễn giả đến từ các cường quốc khoa học như Đức, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển … cũng chỉ dùng tiếng Anh để trao đổi vớ đồng nghiệp quốc tế. Những ai không thạo tiếng Anh là cũng có khi đồng nghĩa với thiệt thòi. Một số hội nghị quốc tế thẳng thừng yêu cầu diễn giả phải trình bày nghiên cứu của mình bằng tiếng Anh, và nếu không thông thạo tiếng Anh thì ban tổ chức sẽ rút lại bài báo cáo! (Người viết bài này thường làm chủ tọa và nằm trong ban tổ chức các hội nghị quốc tế nên biết khá rõ điều này đằng sau hậu trường, và đã từng chứng kiến khá nhiều trường hợp các diễn giả gốc Á châu bị “ép”).

Đã biết bao nhiêu lần, trong các hội nghị, tôi chứng kiến cảnh diễn giả nói tiếng Anh không rành phải được yêu cầu nhường cho người khác nói. Đã biết bao nhiêu lần tôi chứng kiến cảnh các nhà khoa học trong nước ra ngoài họp và không nói và viết thạo tiếng Anh, không có khả năng diễn đạt kết quả nghiên cứu một cách rành rọt, và đồng nghiệp chỉ biết lịch sự gật đầu và … mỉm cười. Thật là một thiệt thòi!

Đến nay thì chúng ta đã biết rằng sự hiện diện của khoa học VN trên trường quốc tế còn quá khiêm tốn. Theo tác giả Phạm Duy Hiển (Tạp chí Tia Sáng số Tháng 6/2005) trong năm 2003, các nhà khoa học VN đã công bố trên 7000 bài báo trên các tạp chí hay tập san khoa học trong nước. Con số này rất ư là ấn tượng, song đó chỉ là những bài báo “ta viết cho ta đọc” chứ trên trường quốc tế thì sự hiện diện của các nhà khoa học VN còn rất khiêm tốn. Vẫn theo tác giả Phạm Duy Hiển, trong năm 2001 các nhà khoa học VN chỉ công bố được 354 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, mà 71% con số này là do cộng tác với các nhà khoa học ngoài VN. Trong ngành y khoa, trong suốt 40 năm qua (tính từ 1965) các nhà khoa học tại VN chỉ có khoảng 300 bài báo trên các tập san y sinh học quốc tế. Đó là những con số cực kì khiêm tốn, khi so sánh với Thái Lan (5000 bài) hay Singapore (20.000 bài).

Tình trạng khiêm tốn trên có nhiều lí do, nhưng một trong những lí do đó, theo tôi, là khả năng tiếng Anh của các nhà khoa học trong nước còn nhiều hạn chế. Điều này cũng có thể hiểu được vì hơn một thế hệ nhà khoa học ở nước ta thạo tiếng Nga hơn là tiếng Anh trong thập niên 1960s và 1970s. Tôi từng biết khá nhiều trường hợp các đồng nghiệp trong nước có nghiên cứu, thảo xong một bài báo và gửi cho tập san khoa học, nhưng bị trả lại vì chất lượng tiếng Anh chưa đạt tiêu chuẩn. Đó là một thiệt thòi cực kì thực tế cho khoa học VN.

Vì đóng vai trò biên tập trong vài tập san y khoa thế giới, nên tôi thường thấy rất nhiều trường hợp mà bài báo khoa học từ các nước như Nga, Cuba, Ba Lan, Ả Rập, Mã Lai, Thái Lan, thậm chí Nhật, ban biên tập phải trả lại cho tác giả vì vấn đề tiếng Anh. Do đó, một số nước giàu có như Nhật và Thụy Điển chẳng hạn, các trường ĐH bỏ tiền ra để mướn chuyên gia tiếng Anh chỉ để cố vấn và sửa bản thảo bằng tiếng Anh cho các nhà khoa học bản xứ.

Tất nhiên, các nhà khoa học trong nước vẫn có thể gửi bài báo đến các tập san ngoài tiếng Anh, nhưng rất tiếc là số lượng các tập san đó không nhiều và chất lượng cũng chẳng cao, và rất ít người đọc. Nhưng người làm khoa học muốn chia sẻ thông tin, muốn quảng bá ý tưởng của mình đến một diễn đàn rộng lớn nhất, và hiện nay chỉ có một ngôn ngữ duy nhất làm phương tiện cho việc quảng bá thông tin: đó là tiếng Anh!

Có nhiều người lí giải rằng chẳng cần học tiếng Anh vì biết tiếng Đức hay Pháp cũng có thể làm khoa học. Nhưng điều này chỉ đúng một phần, vì chính những giới khoa học từ các “cường quốc” khoa học này cũng học tiếng Anh để trao đổi với đồng nghiệp trên thế giới.

Do đó, đứng trên phương diện và vì lợi ích khoa học ở nước ta, tôi thấy tiếng Anh cần phải được xem là một ngoại ngữ chính không chỉ cho cho HSSV mà còn cho cả các quan chức. Cố nhiên, cũng nên được khuyến khích HSSV theo học các ngoại ngữ khác, nhưng hiện nay, tiếng Anh vẫn là một ưu tiên số một.

Chú thích:
1. Crystal D. English as a global language. Cambridge University Press ed 2, 2003.
2. Large A. The foreign language barrier. Deutsch, London, 1983.

http://www3.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2006/05/568368/

Tiếng Anh

Nói ra thì cũng thừa, nhưng sự thật là kĩ năng tiếng Anh rất cần thiết trong thời đại ngày nay, nhất là trong giới y khoa. Thế nhưng tiếc thay đây lại là một yếu điểm của gần như tất cả nghiên cứu sinh từ Việt Nam. Thật ra, kinh nghiệm tôi cho thấy ngay cả những giáo sư, tiến sĩ đã và đang làm nghiên cứu cũng rất hạn chế về tiếng Anh. Đó là một thiệt thòi.

Gần đây, rất rất nhiều bạn đọc đề nghị tôi “mở lớp” chỉ cách viết tiếng Anh trên trang blog cá nhân. Thật là một vinh dự cho tôi! Làm sao tôi có thể từ chối. Thật ra, đây cũng là ý định của tôi, nhưng cho đến nay vẫn chưa thực hiện được. Thoạt đầu, tôi và Dr. Nguyên định thực hiện một loạt bài giảng bằng video như youtube vậy (cái này tôi bắt chước từ anh Nguyễn Văn Chuyển, người mới đột ngột qua đời năm ngoái ở Nhật), nhưng vì chưa rành kĩ thuật nên chưa làm được. Nay thì tôi sẽ tạm thực hiện qua trang blog vậy.

Về cái khoản này (tiếng Anh), tôi cũng có nhiều kinh nghiệm trong thời tị nạn, sau đó là thời sinh viên, làm nghiên cứu sinh, và học hỏi liên tục sau này, nên có nhiều điều có thể chia sẻ cùng các bạn. Thay vì làm theo kiểu lên lớp, tôi sẽ chọn ra những vấn đề tiếng Anh mà tôi biết là “phe ta” hay dễ sai phạm. Tôi dám nói “tôi biết”, vì tôi đã từng hướng dẫn cho nhiều nghiên cứu sinh Á châu viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh và qua đó tôi phát hiện chúng ta hay phạm phải một số lỗi lầm rất phổ biến và cũng rất … Á châu! Do đó, tôi sẽ cố gắng mỗi ngày hay mỗi tuần viết một vài hàng về một vấn đề nào đó. Xin nhắc lại là “cố gắng”, chứ không dám hứa nhé, vì tôi có nhiều việc phải làm.

Xin nói trước đây không phải là loạt bài giảng dạy gì cả, không có hệ thống như một sách giáo khoa. Thay vào đó là những ghi chép, chỉ dẫn chợt hứng. Mỗi ngày tôi đọc và sửa bài báo cho nhiều người, và khi thấy có “vấn đề” gì đáng chú ý là tôi sẽ lấy đó làm chủ đề cho một entry.

Vậy xin mời các bạn theo dõi nhé.

NVT

Kĩ năng mềm cho nghiên cứu sinh

Gần đây, tôi nhận được khá nhiều thư hỏi về những bài tôi viết về kĩ năng mềm cho giới làm nghiên cứu y khoa. Những bài này được soạn theo kiểu “chỉ dẫn”, được công bố rải rác trên các tạp chí trong nước và một số website. Bây giờ tìm lại cũng khó, vì tôi không giữ các bài viết đó một cách có hệ thống. Nay tôi sẽ dần dần gom về đây bằng những đường dẫn (link) để các bạn có thể tự tải về mà không cần viết thư hỏi tôi.

Kĩ năng mềm cho nhà khoa học
Web: http://tuanvannguyen.blogspot.com/2009/03/ky-nang-mem-cho-nha-khoa-hoc.html
Hoặc: http://www.bulletin.vnu.edu.vn/btdhqghn/Vietnamese/C1483/C1636/2009/03/N24427/?1

Thế nào là một bài báo khoa học?
Web: http://www.ykhoanet.com/congtacvien/nguyenvantuan/baokhoahoc.htm

Cách viết báo cáo khoa học cho các tập san khoa học quốc tế
Web: http://vietsciences.free.fr/khaocuu/nguyenvantuan/cachvietbaocaokhoahoc.htm

Cách viết báo cáo khoa học cho các tập san khoa học quốc tế
Web: http://vietsciences.free.fr/khaocuu/nguyenvantuan/cachvietbaocaokhoahoc.htm

Scientific writing: a friendly guide
Web: http://vietsciences.free.fr/khaocuu/nguyenvantuan/Guide%20to%20Scientific%20Writing.pdf

Vấn đề tác giả bài báo khoa học
Web: http://vietsciences.free.fr/khaocuu/nguyenvantuan/vandetacgiabaibaokhoahoc.htm

Hợp tác khoa học kiểu nhảy dù
Web: http://www.ykhoanet.com/binhluan/nguyenvantuan/khoahocnhaydu.htm

Khi nào tìm thấy bài khác, tôi sẽ cập nhật cho các bạn.

NVT

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2009

Bộ trưởng khoa học đạo văn ?

Ông Kamran Daneshjou mới được bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Khoa học Iran. Trước đó ông là giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Iran. Nhưng ngay sau khi ông trở thành bộ trưởng, người ta bắt đầu chất vấn văn bằng tiến sĩ và uy tín khoa học của ông.

Theo lí lịch chính thức do Chính phủ Iran công bố, Kamran Daneshjou có bằng tiến sĩ về kĩ thuật hàng không từ "College of London." Nhưng vấn đề là ở Anh không có trường nào với cái tên đó. (Có lẽ do cách dịch từ tiếng Anh sang tiếng Ba Tư chăng?). Vào tháng 8 vừa qua, tờ Los Angeles Times nêu lên những câu hỏi chung quanh luận án tiến sĩ của ông. Theo trang web của Đại học Khoa học và Công nghệ Iran vào lúc đó (tháng 8), học vị tiến sĩ của ông được “Manchester Imperial Institute of Science and Technology” cấp. Nhưng sau khi bài báo đăng thì thông tin trên đã được sửa lại và cho biết bằng tiến sĩ của ông được cấp vào năm 1989 sau khi ông làm nghiên cứu tại Imperial College (London), nhưng bảo vệ luận án thì được tổ chức tại Đại học Công nghệ Amirkabir ở Iran!

Theo website của trường Đại học Khoa học và Công nghệ Iran thì ông công bố khoảng 8 bài báo khoa học. Nhưng trong có bằng chứng cho thấy một trong số những bài này là đạo văn. Trong bài báo có tựa đề là "Analysis of critical ricochet angle using two space discretization methods" mà ông và Majid Shahravi đứng tên đồng tác giả được công bố trên tập san Engineering with Computers vào năm 2009, có nhiều đoạn văn, biểu đồ, và bảng số liệu trùng hợp với bài báo "Ricochet of a tungsten heavy alloy long-rod projectile from deformable steel plates", do Woong Lee, Heon-Joo Lee và Hyunho Shin (thuộc một trung tâm nghiên cứu quân sự ở Hàn Quốc) công bố trên tập san Journal of Physics D: Applied Physics vào năm 2002. Có thể xem qua vài đoạn mà tôi trích dưới đây để thấy sự đạo văn quá trắng trợn.

Ngoài ra, một số câu văn trong bài báo của Daneshjou cũng trùng hợp với những câu văn trong một bài báo của các nhà nghiên cứu Mĩ công bố vào năm 2003 tại một hội nghị chuyên ngành.

Về phần tập san Engineering with Computers, tổng biên tập đã tuyên bố rút bài báo ra khỏi tập san và sẽ đề "retracted" trong phiên bản online.

Những sự thật trên đây là xôn xao giới khoa học Iran, với hàng ngàn emails và blog liên tục bàn về vấn đề mà họ cho là một xì căng đan, một sỉ nhục cho khoa học Iran, nước đang có tham vọng bước chân vào câu lạc các nước có nền khoa học tiên tiến. Một nhà khoa học Iran trấn an dư luận quốc tế rằng “"Tôi muốn cam đoan với cộng đồng khoa học quốc tế rằng các nhà khoa học Iran là những người thành thật và có đạo đức, và hành động ngu xuẫn này làm cho họ cảm thấy xúc phạm." Một nhóm khoa học khác tuyên bố rằng họ sẽ gây áp lực để chính phủ điều tra cho ra việc, và nếu bằng chứng đạo văn là đúng thì họ sẽ yêu cầu ông từ chức bộ trưởng.

Ông Daneshjou từng là chủ nhiệm văn phòng Bộ Nội vụ Iran, nơi điều hành cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 6 vừa qua. Cuộc bầu cử đầy tai tiếng này đã đưa Mahmoud Ahmadinejad trở lại quyền lực. Do đó, người ta nghi ngờ rằng việc bổ nhiệm Daneshjou làm Bộ trưởng Bộ Khoa học Iran chỉ là một cách trả ơn của tổng thống Mahmoud Ahmadinejad. Thật vậy, giới khoa học Iran không đồng tình với sự bổ nhiệm này.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Năm 2007 tôi có nêu một trường hợp đạo văn ở nước ta, mà theo đó một bài do một nhóm nghiên cứu ở trong nước công bố năm 2004 với nội dung, (kể cả số liệu và biểu đồ, thậm chí hình ảnh) trùng hợp với một bài báo do một nghiên cứu sinh Việt Nam công bố vào năm 2000. Sự việc được nêu lên trên Tia Sáng, rồi cũng chìm vào quên lãng. Không ai trong giới khoa học có phản ứng. Càng ngạc nhiên hơn, không ai trong Bộ Khoa học và Công nghệ có động thái gì! Chắc chắn đó không phải là trường hợp đầu tiên, và càng chắc chắn không phải là trường hợp sau cùng, về tình trạng đạo văn và gian lận khoa học ở nước ta.

Trường hợp một bộ trưởng Iran đạo văn là một cảnh báo cho chúng ta thấy đạo văn có thể xảy ra ở những người có quyền cao chức trọng, chứ không phải chỉ ở những nhà khoa học “vô danh”. Giới khoa học Iran cảm thấy xấu hổ vì một đồng nghiệp của họ đạo văn, nhưng ở nước ta hình như giới khoa học chẳng ai quan tâm hay cảm thấy xấu hổ khi có đồng nghiệp phạm phải lỗi lầm như thế. Có lẽ cộng đồng khoa học quốc tế chẳng mấy quan tâm đến khoa học Việt Nam, nên chúng ta chẳng cần ồn ào. Nhưng dù sao đi nữa, những sự cố như thế này cho thấy chúng ta rất cần một cơ chế để giảm thiểu tình trạng gian dối trong khoa học.

NVT

TB. Trích vài đoạn văn trong 2 bài báo:


Biểu đồ giống nhau!

Và bảng số liệu cũng giống nhau!




IDS tự giải thể và sự hạn chế quyền phản biện

Trong thời gian còn ở bên Mĩ tôi đọc được tin Viện nghiên cứu phát triển (IDS) tuyên bố tự giải thể. Dù biết rằng đây là một kết cục có thể đoán trước được, nhưng sự “ra đi” của IDS cũng làm cho tôi suy nghĩ về tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và vai trò của giới trí thức trong nước trước hiện tình đất nước. Tôi vừa nói rằng sự giải thể của IDS có thể đoán trước được là do hai lí do:

Thứ nhất là cái quyết định 97 của Thủ tướng Chính phủ mà tôi có dịp bàn trước đây ở đây và ở đây (Tôi có nói rằng những phát biểu của ông thứ trưởng Bộ KHCN biện minh cho Quyết định 97 là phản khoa học.) Đọc qua những điều trong văn bản này, ai cũng có thể thấy đây là một cách bịt miệng những tiếng nói phản biện xã hội. Người trong cuộc thì ai cũng biết rằng đối tượng của quyết định 97 chính là IDS.

Thứ hai là trước đây, ở TPHCM cũng có một nhóm có tên là Saigon Times Research Center hay STR (hay Trung tâm Nghiên cứu Saigon Times) được thành lập vào ngày 14/12/2007, do Ts Trần Hữu Quang làm giám đốc và chính cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt làm “patron”. Nhóm này sau một năm hoạt động cũng tự tuyên bố giải thể. Tôi là một thành viên trong nhóm STR, và cũng là người sau cùng thuyết trình tại đây (ngày 26/3/2008) và một ngày sau thì nhóm tuyên bố tự giải thể.

Quyết định 97 và sự “ra đi” của STR chính là hai lí do làm tôi đoán rằng IDS rồi cũng sẽ có chung số phận như STR. Chỉ có điều IDS ra đi tạo được dư luận, có kèn có trống, còn nhóm STR thì ra đi một cách âm thầm. Thật ra, nói như thế cũng không hẳn công bằng, bởi vì tin tức về việc IDS tự giải thể chỉ ồn ào trong cộng đồng cư dân mạng mà thôi, chứ báo chí chính ngạch thì đưa tin rất hời hợt và miễn cưỡng.

Ở các nước ngoài Việt Nam, kể cả các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Singapore, v.v… đều có những “think tank”, những trung tâm phi chính phủ chuyên nghiên cứu các vấn đề vĩ mô, đề ra những chính sách xã hội, đường lối ngoại giao. Những thành viên trong các think tank này thường là những cựu quan chức trong chính quyền, cựu chính trị gia, tướng lãnh, nhà khoa bảng, tu sĩ, v.v… Ở Mĩ có thể kể đến những think tank nổi tiếng như Brookings Institution, American Enterprise Institute, Council on Foreign Relations, Heritage Foundation, RAND Corporation, Center for American Progress. Ở Singapore thì có East Asian Institute, Institute of Policy Studies, Institute of Southeast Asian Studies. Các tổ chức này đã góp phần không nhỏ vào định hướng và chính sách của chính phủ các nước vừa kể.

Ở nước ta, sự có mặt và vai trò của thank tank có lẽ vẫn còn quá mới mẻ. Trước 1975, ở miền Nam theo tôi biết không có think tank, và do đó những tranh luận về chính sách thường rất ồn ào trên báo chí, mang tính “chợ búa”, hơn là những lí giải mang tính học thuật và có hệ thống. Đến sau 1975, khi đất nước thống nhất, cũng không có think tank, bởi vì tất cả chính sách đều do Đảng đề ra và quyết định. Mãi đến những năm đầu thế kỉ 21 lần đầu tiên xuất hiện hai nhóm như STR và IDS. Thật ra, hai nhóm này cũng không phải là think tank, bởi vì họ chưa có (hay nói chính xác hơn là không có quyền) vạch định chính sách, mà chỉ đóng vai trò phản biện xã hội. Dù đóng vai trò khiêm tốn này, nhưng việc làm của họ có lẽ cũng không được giới chính quyền đón nhận.

Thật ra, trong môi trường văn hóa ở nước ta, rất khó để các quan chức đón nhận những tiếng nói phản biện. Học trò trưởng thành trong nền giáo dục mà trong đó “thầy giảng, trò chép” là một phương pháp chủ đạo. Học trò trả bài theo những gì đã học thuộc lòng hay theo khuôn bài có sẵn được điểm cao. Học trò không được khuyến khích tham khảo thêm tài liệu ngoài. (Còn nhớ vài tháng trước khi một cô giáo khuyến khích học trò đọc thêm tài liệu văn học hải ngoại liền bị bị công an thẩm vấn và sau cùng là bị cho thôi việc). Tương tự, các quan chức cao cấp là đảng viên, và họ không có lựa chọn nào khác là phải nói và làm theo chủ trương của Đảng. Họ phải trung thành với Đảng. Đảng là người thầy của họ. Quan điểm “cứ làm theo chủ trương của Đảng” rất phổ biến ở thành phần quan chức, vì nó an toàn cho vị trí của họ. Do đó, khi trực diện với một quan điểm trái chiều với chủ trương của Đảng, phản ứng của họ là lờ đi, hay thậm chí nặng nề hơn là gán cho nó một nhãn hiệu như “phản động”. Thật buồn khi đọc những dòng chữ hậm hực và thù địch của quan chức an ninh như “bọn họ tụ tập tại 53 Nguyễn Du để làm gì” dành cho các thành viên trong IDS.

Một lần tôi bình luận về những sai lầm trong chính sách phòng chống dịch tả của Bộ Y tế (vụ mắm tôm và V. cholera), một quan chức trong Bộ cảnh cáo tôi là “Ông không có quyền nhận định đó là sai lầm”! Chỉ có thể xem đó là thái độ của một kẻ độc tài, bịt miệng người khác.

Một quan điểm phổ biến khác là phản biện cần phải có kiến thức chuyên sâu về một ngành nào đó. Điều này sai, bởi vì xã hội cần những người “ngoại đạo” phản biện, chứ không cần những người mà đầu óc của họ bị trói buộc theo những nguyên lí giáo điều hay theo kiểu chôn đầu vào cát (bury head in the sand). Cựu thủ tướng Pháp Georges Clemenceau có nói một câu với hàm ý rằng chiến tranh rất ư là quan trọng để có thể giao tất cho các tướng lãnh điều hành. Quan điểm này cũng có thể áp dụng cho chính sách phản biện xã hội: sự an nguy của quốc gia quá quan trọng và không thể giao cho các quan chức Nhà nước toàn quyền quyết định. Xã hội Việt Nam trong tình hình hiện nay cần nhiều nhóm như STR và IDS. Do đó, việc hai nhóm này tự nguyện giải thể là một điều bất hạnh cho đất nước.

Sự ra đi của STR và IDS còn cho thấy một khía cạnh cơ bản khác liên quan đến xã hội dân sự. Ở Việt Nam việc lập một tổ chức nghiên cứu tư nhân, dù dưới danh nghĩa bất vụ lợi, là cực kì khó khăn. Ngay cả trước đó, việc thành lập Câu lạc bộ khoa học kĩ thuật Việt kiều (OVS) cũng “trần ai”, khởi đầu là ban vận động, rồi cả năm sau mới có giấy công nhận. Nhóm phản biện giáo dục (gồm những cựu quan chức cao cấp trong chính quyền) cũng chẳng đi đến đâu, chưa có gì chính thức, và gửi thư cho Bộ GDĐT thì lại rơi vào khoảng không im lặng đáng sợ. Thật khó hiểu tại sao trong thời bình, việc thành lập các nhóm xã hội như thế lại quá khó khăn, trong khi các nhóm này làm việc hoàn toàn mang tính xây dựng. Có thể chính quyền hay cao hơn là Đảng không muốn hay chưa sẵn sàng lắng nghe những tiếng nói phản biện. Nếu điều này đúng thì đó là biểu hiện của một tình trạng thiếu bản lĩnh tri thức của người cầm quyền.

Hình như Voltaire có lần nói: “Tôi không đồng ý với những gì ông nói, nhưng tôi bảo vệ đến chết quyền ông được nói”. Chính vì thế mà trong một xã hội hiện đại, người dân phải có quyền tự do tư tưởng (tức là quyền tự do của cá nhân được giữ quan điểm, ý tưởng độc lập với những người khác), tự do ngôn luận (có quyền phát biểu mà không bị kiểm duyệt hay giới hạn). Ở nước ta, trên danh nghĩa, người dân đều có 2 quyền cơ bản này (hiến pháp ghi rành rành như thế), và trong thực tế thì cũng có tự do phát biểu và tự do ý tưởng đấy, nhưng mức độ tự do thì bị hạn chế. Sự hạn chế đó thể hiện ở chỗ người dân vẫn thiếu những phương tiện, thậm chí cơ hội, để bày tỏ ý kiến của mình. Sự giải thể của IDS ngày nay (và STR trước đó) là một tín hiệu cho thấy sự hạn chế của hai quyền này vẫn còn tồn tại ở Việt Nam.

NVT

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

Những ngộ nhận về học vị tiến sĩ

Hai tuần qua, dù bận đi công tác ở bên Mĩ, tôi vẫn thỉnh thoảng vào mạng đọc báo để theo dõi tình hình trong nước, và thấy nhiều sự kiện mà tôi rất muốn bình luận nhưng vì quá bận rộn nên đành “lực bất tòng tâm” do không có thì giờ. Hôm nay, việc phó hội cũng đã xong xuôi, nên lại có thì giờ để góp nhặt vài lời để gọi là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Hôm nọ, đọc một tin rất lạ mà thoạt đầu tôi mỉm cười một mình vì nghĩ rằng phóng viên có trí tưởng tượng phong phú quá: đó là bản tin cho biết “Hà Nội mong 100% cán bộ Thành ủy ‘quản’ là tiến sĩ”. Nhưng tôi nghĩ sai: phóng viên tường thật hoàn toàn chính xác về chủ trương của chính quyền và đảng ủy Hà Nội, vì hôm sau có một quan chức của Sở nội vụ Hà Nội lí giải rằng cần phải “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”. Vị quan chức này, với danh xưng tiến sĩ, chính là tác giả của “Chiến lược cán bộ, công chức khối chính quyền thành phố”.

Nếu xem chủ trương nâng cấp 100% cán bộ diện thành ủy có bằng tiến sĩ thì quả thật ông tiến sĩ này có tư duy đột phá. Nhưng chữ “đột phá” ở đây phải hiểu là phá hoại cái ý nghĩa của học vị tiến sĩ một cách đột ngột. Để hiểu cách diễn giải đó, thiết tưởng tôi có nhiệm vụ giải thích mục tiêu và ý nghĩa của học vị tiến sĩ.

Học tiến sĩ để làm gì ?

Học vị tiến sĩ thường dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Để dấn thân vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học, học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” quốc tế, cũng giống như muốn hành nghề kĩ sư thì phải có bằng kĩ sư. Cố nhiên cũng có một số người tham gia nghiên cứu khoa học dù họ không có học vị tiến sĩ, nhưng đây là những trường hợp ngoại lệ. Do đó, trong quá trình đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh phải làm quen với những kĩ năng cơ bản như phát hiện vấn đề, cách đặt giả thuyết, thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu (kể cả đo lường), phân tích và diễn giải kết quả nghiên cứu, v.v… Đây là những kĩ năng mà bất cứ một nghiên cứu sinh tiến sĩ nào cũng phải có sau khi xong chương trình đào tạo.

Do đó, để có được học vị tiến sĩ, thí sinh phải làm nghiên cứu khoa học một cách nghiêm chỉnh. Hai chữ “nghiêm chỉnh” ở đây rất quan trọng trong trường hợp Việt Nam, bởi vì rất rất nhiều nghiên cứu khoa học ở trong nước chẳng những không nghiêm chỉnh mà còn phạm quá nhiều sai sót. Điều này cũng có nghĩa là nếu muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị kinh doanh, quản trị hành chính, thì học vị tiến sĩ không cần thiết, và thí sinh không nên tốn thì giờ để đạt được học vị này.

Học vị tiến sĩ dành cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp khoa bảng. Học vị tiến sĩ là một “chứng từ” để theo đuổi sự nghiệp khoa bảng (academic career). “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng cơ hội tiến thân trong các nấc thang khoa bảng ngày nay cho những cá nhân như thế không mấy cao. Nhiều trường đại học lớn trên thế giới đòi hỏi các giảng viên và giáo sư hay các nhà nghiên cứu phải có học vị tiến sĩ. Tại sao? Tại vì họ muốn đảm bảo trường đại học có đầy đủ chuyên gia để giảng dạy các môn học cấp cao và bắt buộc các chuyên gia này phải làm nghiên cứu khoa học. Phần lớn giáo sư đại học có học vị tiến sĩ, nhưng không phải ai có bằng tiến sĩ đều có thể trở thành giáo sư.

Do đó, nếu thí sinh muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị doanh nghiệp, kĩ nghệ và khoa học (như muốn làm giám đốc doanh nghiệp, giám đốc các cơ sở khoa học) hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì thí sinh không nên theo học chương trình tiến sĩ, mà nên theo học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh hay quản trị hành chính (MBA – Master of Business Administration). Tôi biết ngày nay có đại học đưa ra chương trình huấn luyện Tiến sĩ quản trị hành chính (Doctor of Business Administration), nhưng mục tiêu vẫn là đào tạo nhà nghiên cứu và giáo sư. Xin nhắc lại: cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị.

Những ngộ nhận về tiến sĩ

Do đó, chủ trương hướng tiến sĩ hóa cán bộ hành chính thể hiện một sự hiểu lầm về mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Chủ trương này sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều người tìm cách theo học để lấy được một học vị tiến sĩ, nhưng động cơ của việc theo học thì lại quá sai lầm. Những sai lầm về động cơ theo học tiến sĩ, theo tôi, có thể tóm lược trong những ngộ nhận phổ biến sau đây:

Ngộ nhận 1: nhiều người hiểu lầm rằng học vị tiến sĩ sẽ tự động đem lại uy danh cho cá nhân. Hầu hết các thí sinh đã đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu. Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ. Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, là một minh chứng rằng người có bằng đó “trưởng thành” trong khoa học, chứ nó (văn bằng tiến sĩ) chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công trình nghiên cứu nào có giá trị.

Ngộ nhận 2: ý kiến của một cá nhân được nâng cao chỉ vì cá nhân đó có văn bằng tiến sĩ. Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ý kiến của họ. Nhưng niềm tin này chỉ là hoang tưởng. Người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác. Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 3: học vị tiến sĩ là mục tiêu sau cùng trong học hành, nghiên cứu. Học vị tiến sĩ chuẩn bị thí sinh vào sự nghiệp nghiên cứu. Nếu thí sinh chỉ muốn có mảnh giấy để treo trên tường thì không nên theo đuổi học vị tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có cơ hội để so sánh thành quả của mình với các nhà khoa học khác. Thí sinh sẽ nhận thức rằng cái được “tính sổ” không phải là danh xưng hay học vị tiến sĩ, mà là nghiên cứu khoa học do chính thí sinh tiến hành và hoàn tất.

Ngộ nhận 4: học tiến sĩ để gây ấn tượng trong gia đình và bạn bè. Người thân trong gia đình và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương trình tiến sĩ, bởi vì họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai. Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xã hội. Không phải lúc nào cũng đòi người khác phải gọi mình là ông / bà “tiến sĩ”.

Ngộ nhận 5: học vị tiến sĩ là cái cớ để thử trí thông minh. Nhiều người nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi trò thách thức xem tri thức của mình cỡ nào. Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi vì chương trình huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân não hay để thử khả năng tri thức. Ngoại trừ thí sinh dành trọn thì giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ vì mình “thông minh”. Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong phòng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động não để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

Ngộ nhận 6: học tiến sĩ để kiếm nhiều tiền. Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân bình thường trong hãng xưởng. Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc. Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu. Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

Ngộ nhận 7: học tiến sĩ là một lựa chọn tốt nhất. Cống hiến cho xã hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn đó. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi đọc phát biểu này, nhưng đó là một thực tế. Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một lựa chọn sai lầm! Thí sinh phải tự hỏi mình muốn làm người lãnh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường. Thí sinh phải biết và quyết định mình muốn gì, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích mình nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho mình nhất.

Đột phá tư duy ?

Quay lại câu nói bất hủ (“Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”) tôi muốn trích lại lời thuật của Gs Đặng Phong (trong trang blog của Huy Đức) như sau: “Một lần, ông Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô đến thăm xí nghiệp đánh cá Vũng Tàu-Côn Đảo, một điển hình đổi mới lúc đó. Xí nghiệp này khi sắp bị phá sản đành phải mời một ông chăn vịt vốn là người thạo nghề đánh cá hồi trước 1975 làm giám đốc. Ông đòi được toàn quyền ‘khoán’ cho xã viên và xí nghiệp trở nên làm ăn rất hiệu quả.” Gs Đặng Phong kể tiếp: “Sau khi thăm và hỏi chuyện ở Xí nghiệp, ông Viện trưởng Viện Hàn Lâm Liên Xô hỏi các cán bộ ở trường Quản Lý Trung Ương: ‘Các anh có biết bí quyết thành công của ông giám đốc là gì không?’ Và, ông Viện trưởng đáp: ‘Đồng chí ấy thành công vì đồng chí ấy chưa được học qua lý luận’. Đổi mới trong giai đoạn ấy chủ yếu đều bắt đầu từ những nhà lãnh đạo địa phương chưa qua các trường lớp chính quy lý luận.”

Câu chuyện đơn giản trên cho thấy không phải có bằng tiến sĩ mới có tư duy đột phá. Thật ra, những gì gọi là “đột phá” đều phần lớn xuất phát từ những người không bị ràng buộc bởi những lí thuyết, không có bằng cấp đại học (chứ chưa nói đến học vị tiến sĩ). Cứ nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế ở các nước phương Tây thì rõ: có bao nhiêu nhà lãnh đạo chính trị có bằng tiến sĩ đâu. Ở nước Úc tôi đang định cư, cựu thủ tướng Paul Keating được xem là một thủ tướng tài ba, một người có tầm nhìn xa và đột phá trong chính sách ngoại giao cũng như kinh tế. Ông Keating được xem là một thủ tướng giỏi, không phải vì ông có bằng cấp cao, mà vì ông biết dùng người có tài. Thật vậy, ông Keating thậm chí chưa tốt nghiệp trung học, nhưng người cố vấn và viết diễn văn cho ông là một chuyên gia có bằng tiến sĩ. Dưới “trướng” của Keating cũng là những cố vấn giỏi, nhưng chỉ có một số rất ít trong nhóm cố vấn này có bằng tiến sĩ.

Do đó, xin đừng sùng bái văn bằng tiến sĩ như là một chứng từ cho sự đột phá tư duy. Thật ra, ngược lại thì đúng hơn: phần lớn tiến sĩ không có tư duy đột phá. Điều này đúng, bởi vì phần lớn (có thể 99%) các nhà khoa học với học vị tiến sĩ chỉ làm việc trong những mô thức (paradigm) thông thường, và mô thức này thường được định hướng bởi những nhà khoa học tiền phong khác.

Đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam

Các trường đại học Âu châu đã từng đào tạo và cấp học vị tiến sĩ về thần học, luật học, y học trong nhiều thế kỉ qua. Nhưng học vị tiến sĩ trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm chỉ mới xuất hiện từ đầu thế kỉ 19. Đến giữa thế kỉ 19, học vị tiến sĩ được du nhập vào Mĩ. Năm 1861, Đại học Yale trở thành trường đại học Mĩ đầu tiên cấp học vị tiến sĩ cho sinh viên. Các đại học Anh cũng theo trào lưu và bắt đầu cấp học vị tiến sĩ từ năm 1919. Từ đó, học vị tiến sĩ trở nên phổ biến trong hầu hết các đại học trên thế giới. Ở Mĩ, chỉ tính riêng các bộ môn y sinh học, số lượng tiến sĩ tốt nghiệp hàng năm đã tăng từ 5400 năm 1987 đến 7700 năm 1995. Ở Việt Nam, có 144 trung tâm đào tạo và trường đại học cấp học vị tiến sĩ, và mỗi năm các trung tâm này thu nhận vào khoảng 1000 nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Theo thống kê thì hiện nay VN có khoảng 6600 giáo sư và phó giáo sư. Vẫn theo thống kê, trong số 48000 giảng viên đại học, có 13% hay 6250 người có học vị tiến sĩ. Như vậy, có lẽ cả nước có khoảng 12000 tiến sĩ (kể cả những “phó tiến sĩ” sau một đêm thành “tiến sĩ”).

Nhưng trình độ của các tiến sĩ này ra sao? Trong bài Cả nước có bao nhiêu tiến sĩ thật, tác giả phản ảnh nhiều khiếm khuyết trong việc đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Những lem nhem về đạo văn, đánh tráo luận văn, mua luận văn, nhầm lẫn giữa nghiên cứu khoa học và dịch vụ, giải pháp, v.v… Thật vậy, theo bài báo này, trong số 97 đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở Trường ĐH Kinh tế TPHCM, thì có đến 57 đề tài về giải pháp, không xứng tầm luận án tiến sĩ. Chỉ cần đọc qua vài luận án đã được cấp bằng tiến sĩ, có lẽ chúng ta không khỏi mỉm cười:

"Nhận thức của công chức hành chính về việc sắp xếp lại bộ máy của cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố”.

''Nhận thức của thanh niên nông thôn về chất lượng cuộc sống gia đình hiện nay''.

“Nghiên cứu nhu cầu điện ảnh của sinh viên”

“Phát huy vai trò của tri thức ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới”.

“Lịch sử phát triển giáo dục – đào tạo ở An giang (1975 – 2000)

Đó là chưa nói đến sự lợi dụng chức quyền để có bằng tiến sĩ, mua bán bằng cấp, nghiên cứu ma (giả tạo hay thay đổi số liệu), nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn khoa học hay sai phương pháp, v.v… được đề cập đến với nhiều bức xúc. Trong thực tế, rất nhiều người có học vị này chưa chứng tỏ mình là một nhà khoa học chuyên nghiệp xứng đáng với học vị tiến sĩ, vì họ được cấp học vị qua những cống hiến mang tính hành chính và quản lí hơn là những cống hiến mang tính khoa học và hàn lâm mà một luận án tiến sĩ đòi hỏi. Do đó có người mang bằng tiến sĩ từ nước ta sang Thái Lan để học nhưng chỉ được công nhận tương đương bằng y tá! Đã có người khẳng định rằng có nhiều luận án tiến sĩ ở trong nước không đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế của một luận án tiến sĩ. Những vấn đề về đào tạo tiến sĩ đã được nêu lên nhiều lần, nhưng hình như vẫn chưa có ai đề ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một học vị tiến sĩ là gì.

Trong bối cảnh như thế mà có quan chức nói đến chuyện có bằng tiến sĩ để có tư duy đột phá!

Như nói trên, học vị tiến sĩ là “giấy thông hành” để làm nghiên cứu khoa học. Sản phẩm quan trọng của nghiên cứu khoa học là bài báo khoa học được công bố trên các tập san quốc tế. Nhưng với 6600 giáo sư và phó giáo sư, cộng với 6250 tiến sĩ, đáng lẽ Việt Nam phải công bố khoảng (ít nhất là) 6000 bài báo khoa học. Nhưng hiện nay, mỗi năm, Việt Nam công bố được chỉ khoảng 1000 bài báo khoa học. Con số này thấp nhất so với các nước khác trong vùng Đông Nam Á, và chỉ bằng 1/5 Thái Lan và 1/10 Singapore.

Tại sao năng suất khoa học của Việt Nam quá tồi trong khi có nhiều “sĩ sư” như thế? Hiện nay, trong số GS/PGS ở các đại học chỉ có khoảng 1/3 (chính xác là 35%) tham gia giảng dạy đại học. Phần 65% còn lại là các quan chức trong các bộ và sở. Có lẽ con số tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học cũng khoảng 60-65%. Như vậy, có thể nói rằng Việt Nam đã và đang lãng phí nhân lực khoa học ở qui mô rất lớn.

Đó cũng chính là lời giải thích tại sao các quan chức trong các bộ ở Việt Nam, nhất là Hà Nội, thường có danh thiếp chi chít với những học vị tiến sĩ. Thoạt đầu tôi ngạc nhiên và thấy khó hiểu là tại sao các bộ, thậm chí sở, có quá nhiều quan chức với văn bằng tiến sĩ như thế, vì ở nước ngoài, hiếm thấy tiến sĩ làm việc trong các cơ quan hành chính. Nhưng nay thì tôi đã hiểu tại sao: vì Nhà nước muốn có những con số ấn tượng về phần trăm tiến sĩ trong đội ngũ cán bộ. Một cách làm đẹp con số thống kê.

Chủ trương tiến sĩ hóa cán bộ hành chính là một cách biến học vị tiến sĩ thành một loại giấy thông hành, một chứng từ, một tiêu chuẩn để tiến thân trong sự nghiệp quản trị hành chính. Chẳng hiểu từ đâu mà có qui định lạ lùng như phải là tiến sĩ mới được làm trưởng khoa trong một đại học, hay được đề bạt lên một chức vụ nào đó trong hệ thống quản trị hành chính. Chính vì qui định này mà không ít trường hợp, người ta đề bạt (hay nói thẳng ra là xếp đặt) người vào vị trí nào đó, rồi tìm cách hợp thức hóa cho người đó bằng cách cấp bằng tiến sĩ!

Việc hợp thức hóa đó bất chấp tiêu chuẩn khoa bảng và ý nghĩa của học vị tiến sĩ thể hiện một sự phá hoại các chuẩn mực giáo dục đại học.

NVT

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Nguyên nhân khủng hoảng giáo dục bậc đại học ở Việt Nam

Đây là bản báo cáo / nhận xét của một giáo sư ĐH Harvard về tình hình giáo dục đại học ở Việt Nam. Những ai theo dõi tình hình đều không ngạc nhiên với những nhận xét chính xác này. Xin trích một số đoạn mà tôi nghĩ là nghe như là một ca khúc:

Tình hình hiện tại:

“Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình”

“Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận.”

"Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam."

"Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu."


Đâu là nguyên nhân?

Di sản của lịch sử: "Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này."

Chính sách quản lí: "Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước."

Bị kiềm chế: "Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ."

Tham nhũng: "Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn lan. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân."

Khác biệt thế hệ, đố kị: "Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương."

Vô trách nhiệm: "Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong."

Chính trị hóa: "Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn."


NVT

===

Giáo dục bậc đại học ở Việt Nam: Khủng Hoảng và Phản Ứng

Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson (tháng 11/2008)
Bản dịch của Hồng Lĩnh
Bản gốc: http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview112008.pdf

I. Dẫn nhập:

Bài tiểu luận này nhằm cung cấp cho các ủy viên phía Hoa Kỳ thuộc Ủy Ban Đặc Nhiệm Song Phương về Giáo Dục Đại Học (Higher Education Task Force) những phân tích về sự khủng hoảng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Chúng tôi bắt đầu bằng cách phân tích mức độ khủng hoảng và nguồn gốc của khủng hoảng. Kế đến, chúng tôi cân nhắc những nhân vật chính liên quan – chính phủ Việt Nam, người Việt Nam, và cộng đồng quốc tế - đã phản ứng ra sao trước tình trạng đó. Chúng tôi kết luận bằng cách nhấn mạnh rằng: việc đổi mới thể chế là một thành phần quan trọng để tạo ra nền móng cải cách giáo dục hiệu quả. Một bài luận ngắn về giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học ở Việt nam, do một nhà khoa học có tiếng người Việt, được gửi kèm theo đây trong phần phụ lục để tham khảo.

II. Mức độ khủng hoảng:

Quả thật là khó phóng đại hơn nữa sự nghiêm trọng của những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học. Chúng tôi tin rằng, nếu không có những cải cách nhanh chóng và tận gốc dành cho giáo dục đại học, Việt Nam sẽ thất bại trong mục tiêu đạt tới các tiềm năng to lớn của mình [2]. Phát triển kinh tế ở Đông và Đông Nam Á cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển và giáo dục đại học. Mặc dù mỗi một quốc gia thịnh vượng nhất trong khu vực này – Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc - đã đi theo những con đường riêng của mình, nhưng có một điểm chung trong sự thành công của họ là họ đã chuyên tâm đeo đuổi một nền giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học chất lượng cao. Những quốc gia kém thành công hơn trong khu vực Đông Nam Á – Thái Lan, Philippines, Indonesia – cho chúng ta một câu chuyện cảnh giác. Các quốc gia này thường không đạt chất lượng cao trong giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, và họ đã thất bại trong việc phát triển những nền kinh tế hiện đại. Đây là một điều không lành cho tương lai của Việt Nam, bởi các trường đại học Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình.





Bảng 1: Số bài báo đăng trên các tạp chí có cơ chế thẩm định chéo (peer-review) năm 2007


Việt Nam không có dù chỉ là MỘT trường đại học có chất lượng được công nhận. Không có một trường nào của Việt Nam xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng các đại học có chất lượng cao tại Châu Á được nhiều người biết đến nào. Về phương diện này, Việt Nam thua kém ngay cả so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Phần lớn các quốc gia này đều khoe khoang rằng ít nhất một vài học viện đứng đầu của họ có mặt trong các bảng xếp hạng. Trường đại học Việt nam đa phần cách biệt với dòng kiến thức quốc tế, như những con số nghèo nàn trong bảng 1 đã chỉ ra, và giáo sư Hoàng Tụy đã khái quát rất rõ trong bài luận của mình [3].

Đại học Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam. Các cuộc khảo sát do các cơ quan có liên hệ với Nhà Nước cho thấy có tới 50 phần trăm các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học xong đã không thể tìm được việc làm trong ngành nghề chuyên môn của họ, chứng tỏ có một khoảng cách to lớn giữa lớp học và thị trường công việc. Với mức độ 25 phần trăm giáo trình đại học bị bắt buộc tập trung vào các môn học chính trị giáo điều (political indoctrination) thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sinh viên Việt Nam chỉ được chuẩn bị một cách tồi tệ cho công việc tương lại hoặc cho các học trình cao đẳng ở nước ngoài.

Sự kiện công ty Intel đã phải lăn lộn vất vả để mướn các kỹ sư cho cơ sở sản xuất của họ ở TP HCM là một ví dụ điển hình. Khi Công ty này tiến hành một cuộc thi tuyển cho 2000 sinh viên IT Việt Nam thì chỉ có 90 ứng viên, tức 5%, đạt tiêu chuẩn. Và trong nhóm này, chỉ có 40 ứng viên vừa hội đủ trình độ Anh ngữ để có thể mướn được. Công ty Intel “khẳng định” rằng đây là kết qủa tồi tệ nhất mà họ gặp phải trong bất kỳ quốc gia nào mà họ đầu tư vào. Các nhà đầu tư Việt Nam và quốc tế nói rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ. Chất lượng giáo dục đại học nghèo nàn đã có một ảnh hưởng tiêu cực khác: Trái với những sinh viên Trung Quốc và Ấn Độ, sinh viên Việt nam thường khó cạnh tranh để chiếm một xuất học bổng tại các chương trình giáo dục trên đại học tinh túy tại Mỹ hay Châu Âu.



Bảng 2: Chỉ số Phát Minh Sáng Chế (Thống kê số lượng Bằng Phát Minh của các quốc gia trong vùng Đông Á - với Việt Nam nằm ở hàng cuối cùng với con số zero)

III. Nguyên nhân của khủng hoảng:

A. Di sản lịch sử:


Những vấn nạn Việt Nam đang phải đối đầu trong hệ thống giáo dục đại học ngày nay một phần là do hậu quả từ một lịch sử cận đại bi thảm của đất nước này.

Chế độ thực dân Pháp cai trị Việt Nam trong nửa sau thế kỷ 19 cho đến năm 1945 đã đầu tư rất ít vào hệ thống giáo dục đại học, ngay cả khi đem so sánh với các thế lực thực dân khác như Anh và Tây Ban Nha. Hậu quả là Việt Nam đã vuột mất cơ hội khi làn sóng cách tân thể chế giáo dục đại học quét qua phần lớn lục địa Châu Á trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Đây là thời gian rất nhiều học viện hàng đầu được thành lập tại vùng này.

Hậu quả là sau khi thu hồi độc lập, VN chỉ có một thể chế giáo dục đại học rất yếu kém để làm nền móng xây dựng (Đây là một điểm tương phản rõ rệt so với Trung Quốc, nơi mà, cho đến ngày nay, phần lớn các trường Đại Học hàng đầu đã được thành lập rất lâu trước cuộc cách mạng Cộng Sản). Giai đoạn Pháp thuộc, cộng với tổn hại từ chiến tranh, rồi đến giai đoạn cai trị độc tài nặng nề của chế độc xã hội chủ nghĩa, đã không phải điều kiện thuận lợi để tạo ra những học viện chất lượng cao cho nền giáo dục đại học.

B. Chính sách quản lý của Nhà Nước:

Nguyên nhân hiện đại tạo nên khủng hoảng là sự thất bại sâu rộng trong chính sách quản lý của Nhà Nước. Các đại học có phẩm chất cao từ Boston cho đến Bắc Kinh đều được hưởng những chính sách quan trọng mà không tồn tại ở Việt Nam [4]:

Vấn đề tự trị và tự quản tại đại học (Autonomy):

Tất cả các học viện tại Việt Nam đều phải chịu sự kiểm soát của một hệ thống quản lý tập trung cao độ. Chính Nhà Nước quyết định con số sinh viên được tuyển nhận, và (trong trường hợp các trường công lập) mức lương của các giảng viên. Ngay cả những quyết định về điều hành cũng như việc thăng thưởng của các Khoa Ban đều lệ thuộc vào sự kiểm soát trung ương. Hệ thống kiểm soát này gạt bỏ ra ngoài những khuyến khích cần thiết cho việc cải tổ và tiến thủ của các đại học.

Lương thưởng được dựa trên thâm niên và lương chính thức thấp kém đến nỗi các giảng viên phải làm việc phụ trội vượt mức mới đủ sống. Ngược lại với Trung Quốc, Việt Nam chưa có chế độ hậu đãi những chuyên viên tốt nghiệp từ nước ngoài.

Cơ cấu tuyển chọn dựa vào thành quả:

Tham nhũng tràn lan và ai cũng biết bằng cấp và tước vị là những thứ có thể mua bán tràn làn [5]. Hệ thống nhân viên cán bộ thì mập mờ và mọi sự thăng thưởng đều dựa trên những tiêu chuẩn bên ngoài khả năng học thuật, như mức độ thâm niên, lai lịch chính trị, lai lịch gia đình, cũng như sự móc nối cá nhân.

Giảng viên các Khoa và Ban quản trị cao cấp của hệ thống đại học có khuynh hướng bị thống trị bởi những cá nhân được huấn luyện từ Liên Xô hoặc Đông Âu, không nói được Anh ngữ và trong không ít trường hợp, tỏ ra ác cảm với các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn được giáo dục từ Tây Phương.

Tiêu chuẩn và mối liên kết quốc tế:

Học tập nâng cao kiến thức là một hệ thống không có biên giới, nhưng các học viện tại VN thiếu hẳn những mối liên hệ quốc tế có ý nghĩa. Thực tế là các học giả trẻ, được đào tạo từ nước ngoài, thường dùng mối lo ngại rằng họ không thể cập nhật những nguồn kiến thức đương thời như một lý do khiến họ tránh né trở thành giảng viên tại ĐH Việt Nam. Như GS Hoàng Tụy mô tả, các học viện tại VN rất hướng nội và không lượng giá chính mình dựa trên tiêu chuẩn quốc tế.

Trách nhiệm (Accountability):

Đại học Việt Nam không phải báo cáo hoặc chịu trách nhiệm trước các cổ đông bên ngoài, cũng như trước cán bộ công nhân viên bên trong. Trong hệ thống ĐH công cộng, các nguồn tài trợ không dựa vào phẩm chất hoặc thành quả của trường. Tương tự như thế, tài trợ của Nhà Nước cho các công trình nghiên cứu được phân phát không dựa trên khả năng cạnh tranh, mà như là một hình thức lương bổng phụ trội.

Bởi vì số chỗ dành cho tuyển sinh trong các ĐH rất thấp – chỉ có 1 trong 10 học sinh thuộc lứa tuổi ĐH được nhận vào ĐH - do đó, ĐH Việt Nam không bị ép buộc phải cải tổ. Họ nắm một thị trường độc quyền, bởi chỉ có một số rất nhỏ mới đủ năng lực để ra nước ngoài học.

Tự do trong giáo trình:

Ngay cả khi so sánh với Trung Quốc, đại học Việt Nam tỏ ra nổi bật về mức độ kiến thức bị kiểm soát. Ngay cả khi các trường đại học đã được nhận một không gian thông thoáng hơn, một mạng lưới kiểm soát chính thức cũng như trá hình vẫn còn vây bọc, khiến các trường đại học Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị bóp nghẹt về tri thức, trong khi công chúng đang phản ứng ngày càng lớn.

* * *

Có rất nhiều hàm ý xuất phát từ những phân tích trên đây:

Thứ nhất, chướng ngại chủ yếu cho sự cải tiến trong nền giáo dục cao đẳng không nhất thiết là vấn đề tài chánh. Thực ra, tính theo phần trăm của GDP, Việt Nam tiêu nhiều hơn các quốc gia khác trong khu vực cho giáo dục. Và con số này chưa tính tới khoản tiền rất lớn mà các gia đình Việt Nam chi vào giáo dục cho con cái, tại nhà và ở nước ngoài. Cách sử dụng các nguồn tài chánh đó như thế nào là một vấn đề khác.

Thứ hai, đầu tư vào du học nước ngoài không đủ để cải tiến hệ thống. Trừ khi môi trường sinh sống và làm việc cho sinh viên du học được cải tổ, sẽ khó có thể lôi kéo được các sinh viên du học về công tác tại các trường đại học.

IV. Phản Ứng


A. Các chính sách của Nhà Nước:


Phần lớn thời gian trong kể từ năm 1986 khi Việt Nam bước vào giai đoạn Đổi Mới, tức là tiến trình cải cách kinh tế và tự do hóa, tốc độ của việc cải tổ nền giáo dục đại học vẫn ở trong tình trạng lãnh đạm. Trong giai đoạn này, chất lượng giáo dục trì trệ tới mức một số nhà khoa học Việt Nam đã tin rằng chất lượng giảng dạy ở những môn khoa học căn bản đã bị tụt hậu [6].

Trong ba năm vừa qua, Nhà Nước đã đặt ra ưu tiên cao hơn cho cải cách giáo dục đại học. Năm 2005 Nhà Nước áp dụng chính sách được nêu ra trong Nghị Quyết 14 về việc ”cải tổ toàn diện nền giáo dục đại học” tới năm 2020. Đây là một bước ngoặt kêu gọi cải cách trong việc điều hành, bao gồm trao quyền tự trị lớn hơn cho các trường, và sử dụng các cơ chế tuyển chọn dựa vào thành quả. Mặc dầu rất khó để đánh giá ảnh hưởng của Nghị Quyết 14 vào tiến trình đề ra chính sách, nhưng tốc độ thay đổi vẫn rất chậm.

Gần đây hơn, chính quyền đã loan báo những sáng kiến thiết lập những học viện với các đối tác quốc tế, và bày tỏ sự sẵn sàng sử dụng nguồn vốn vay từ các tổ chức cho vay đa phương như World Bank. Trong khi những kế hoạch này là dấu hiệu tốt, chứng tỏ người ta đã nhận ra nhu cầu thiết yếu của các trường đại học mới, nhiều câu hỏi vẫn tồn tại. Các quan chức ngành giáo dục Việt Nam vẫn có cách nhìn ”Nhà nước là Trọng Tâm” rất mạnh mẽ khi nói về sự hợp tác đào tạo đại học, trong đó ”chính quyền”, chứ không phải ”trường” là đối tác chính với nước ngoài. Cách tiếp cận này hoàn toàn không phù hợp khi làm việc với hệ thống giáo dục phân quyền ở mức độ cao (highly-decentralized) như ở Hoa Kỳ, trong đó mỗi trường đại học là một nhân vật quyết định chính và vai trò của chính quyền rất hạn chế.

Thứ hai, chính quyền vẫn phô bày não trạng ”kế hoạch hóa tập trung” khi thiết kế các sáng kiến phát triển các trường đại học, bào gồm cả việc quyết định trước những môn học mà trường đại học mới mở sẽ tập trung vào dạy (Dự án ban đầu gợi ý tập trung chủ yếu vào các ngành khoa học và kỹ thuật, có lẽ để tránh các môn nhân văn và xã hội).

Thứ ba, mặc dầu các dự án được hoạch định trên căn bản là các đối tác quốc tế sẽ cung cấp các quản trị viên và nhân viên giảng dạy, nhưng cách thức phân phối các nguồn tài chính như thế nào thì không được xác định, không ai biết các khoản tiền vay từ các nhà tài trợ đa phương có được dành cho các đối tác quốc tế hay không.

Cuối cùng, người ta phải chờ xem mức độ tự trị và tự quản mà các học viện này được phép như thế nào [7].

B. Chương trình trao đổi sinh viên:


Sinh viên Việt Nam ra du học nước ngoài ngày càng nhiều kể từ năm 1986. Trong những năm đầu của Đổi Mới, phần lớn các sinh viên du học qua các chương trình học bổng song hoặc đa phương như các chương trình Fullbright hoặc chương trình World Bank… Khi xã hội VN trở nên khá giả hơn, các gia đình Việt Nam đã bắt đầu cho con cái đi du học tự túc. Những năm gần đây, con số sinh viên VN đi du học tại Mỹ gia tăng nhanh chóng một cách đặc biệt. VN nằm trong số 20 quốc gia hàng đầu gửi sinh viên đến Hoa Kỳ du học. Các kinh tế gia VN ước lượng các gia đình VN đang tiêu dùng ít nhất 1 tỷ đô-la mỗi năm cho việc du học.

Du học nước ngoài là một phản ứng quan trọng trước sự khủng hoảng giáo dục đại học tại VN, nhưng nó không thể nào là một giải pháp được. Đầu tiên và quan trọng nhất, du học chỉ là một lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ, những người có tiền hoặc may mắn có được học bổng. Đang có một sự chênh lệch rộng và ngày càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn, giữa tầng lớp thượng lưu giàu có và đại đa số dân chúng còn nghèo. Việt Nam là một quốc gia rộng lớn, và không thể “khoán trắng” nền giáo dục đại học cho các trường đại học nước ngoài.

Thứ hai, ngày nào mà các trường đại học tại Việt Nam vẫn chỉ cung cấp được môi trường làm việc thảm hại và những gói khuyến khích không hấp dẫn, thì các chuyên viên được đào tạo từ nước ngoài vẫn tránh né các ngành nghề giảng dạy tại ĐH. Một thăm dò không chính thức dành cho sinh viên trên đại học Việt Nam ở Mỹ cho thấy đa số không muốn quay trở lại trường đại học Việt Nam, nhưng sẽ cân nhắc quay trở lại nếu môi trường làm việc hấp dẫn hơn.

C. Nhân Tố Quốc Tế:


Các cơ quan tài trợ quốc tế đã hỗ trợ các chương trình trao đổi sinh viên trong nhiều năm qua. Do yêu cầu của chính phủ Việt Nam, các cơ quan này đã đầu tư rất nhiều vào hệ thống giáo dục đại học. Theo quan điểm của chúng tôi, nỗ lực của các nhà tài trợ trong lĩnh vực này không hiệu quả, bởi vì họ làm rất ít, nếu không nói là không có gì, để giải quyết các vấn đề liên quan đến điều hành của chính phủ. Các khoản tài trợ đã không được phân phối trên cơ sở cạnh tranh, và những viện / trường được nhận tiền báo cáo rằng họ có ít quyền trong việc quyết định các khoản tiền được sử dụng như thế nào.

Các trường đại học quốc tế đã được khuyến khích để thiết lập các chương trình đào tạo tại Việt Nam, một cách độc lập hoặc (thường xảy ra hơn) thông qua hợp tác với các học viện trong nước. Với một vài ngoại lệ, các dự án này chỉ nhằm mục tiêu trục lợi và do đó chỉ nhắm vào những ngành thực dụng đã sẵn có nhu cầu (như marketing, quản trị, lập trình v.v…). Việc tuyển lựa SV phần lớn dựa vào khả năng trả học phí và phần lớn vượt quá tầm tay của đại chúng. Điều duy nhất có thể kết luận là những chương trình như thế chiếm một phần nhỏ trong hệ thống giáo dục đại học.

Những học viện này không đáp ứng được nhu cầu giáo dục cao đẳng có chất lượng cao. Chính quyền VN rất hứng thú với việc thu hút sự tham gia hợp tác của những đại học hàng đầu trên thế giới, đặc biệt là các ĐH tại Hoa Kỳ. Chúng tôi cho rằng cần 3 yếu tố chính để đạt được mục tiêu này:

Thứ nhất, chính quyền phải nhận ra rằng, các đại học có chất lượng cao sẽ không vào VN dưới vai trò những công ty đầu tư. Hơn nữa, trong cuộc chaỵ đua toàn cầu để tìm tài năng xuất sắc, các ĐH Hoa Kỳ luôn luôn là những đối tác được nhiều người đeo đuổi. Nói thẳng ra là, Việt Nam phải chấp nhận trả giá cao.

Thứ hai, cũng quan trọng không kém, chúng tôi phải nhấn mạnh rằng, các trường đại học danh tiếng sẽ không chấp nhận hạ thấp tiêu chuẩn của họ, và như thế chính quyền Việt Nam chỉ có cách cam kết theo đuổi một quy cách điều hành tốt hơn cho hệ thống giáo dục đại học, bao gồm chấp nhận chương trình giảng dạy và chế độ tự quản lớn hơn cho các trường đại học.

Thứ ba, bởi vì hệ thống giáo dục đại học cao đẳng tại Hoa Kỳ mang bản chất phân quyền cao độ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ chỉ đóng một vai trò hạn chế, mang tính cổ vũ, trong việc thúc đẩy hợp tác của các viện đại học Hoa Kỳ.

IV. Kết Luận: Nhu Cầu cho Cải cách Thể Chế

Cải tổ toàn bộ cung cách điều hành của chính quyền là chìa khóa để cải tiến nền giáo dục đại học tại Việt Nam. Tuy nhiên, cải tổ các học viện giáo dục đào tạo ở bất cứ nơi đâu cũng là một tiến trình lâu dài. Đây là lý do tại sao chúng tôi tin rằng Việt Nam phải xây dựng một học viện đào tạo đại học mới, mà ngay từ đầu đã có cơ chế điều hành tốt nằm trong DNA của nó [8]. Nỗ lực như thế sẽ tạo ra tác động mang tính chuyển biến tới hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam. Một học viện mới sẽ cung cấp một mái nhà hấp dẫn cho các nhà khoa học trẻ Việt Nam, những người mà hiện nay không tha thiết theo đuổi nghề giảng dạy đại học tại Việt Nam [vì thiếu môi trường hấp dẫn]. Thứ nhì, một học viện mới như thế sẽ là kiểu mẫu cho các học viện khác học hỏi và bắt chước, cũng như là một động lực cạnh tranh lành mạnh và rất mực cần thiết. Chúng tôi tin rằng Ủy ban Đặc Nhiệm về Giáo Dục Đại Học có vai trò độc nhất vô nhị trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách ở Việt Nam bằng cách xây dựng một lược đồ toàn diện và khả thi cho cải cách thể chế ở Việt Nam.


Chú thích


[2] Để có đánh giá một cách hệ thống và tương đối về các thách thức chính sách mà Việt Nam phải đối mặt, xem thêm "Lựa chọn Thành Công: Quá trình phát triển Đông và Đông Nam Á và những bài học cho Việt Nam". Có sẵn ở địa chỉ:http://www.innovations.harvard.edu/showdoc.html?id=98251.

Bản tiếng Việt: http://www.diendan.org/viet-nam/lua-chon-thanh-cong/

[3] Hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ thống học viện Liên Xô, trong đó trường đại học chủ yếu là để giảng dạy, còn các nghiên cứu được thực hiện tại các viện nghiên cứu. Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu tại trường đại học, nhưng chỉ thành công rất nhỏ, vì lý do giải thích ở bên dưới đây. Như Bảng 1 chỉ ra, các viện nghiên cứu ở Việt Nam cũng không làm tốt việc nghiên cứu cho lắm.

[4] Phân tích của chúng tôi về thất bại của việc quản lý ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi những phát hiện của Ủy ban Đặc biệt về Giáo dục Đại học, được triệu tập bởi Ngân hàng Thế Giới và UNESCO, dưới sự chủ tọa của Giáo sư Henry Rosovsky (trường Harvard) và Giáo sư Mamphela Ramphele (trường University of Cape Town). Trong báo cáo kết quả của mình, "Peril and Promise: The Challenges of Higher Education in Developing Countries", Ủy ban này đã kết luận rằng quản lý của chính quyền chính là rào cản lớn nhất khiến giáo dục không đạt kết quả tốt hơn. (Có sẵn tại http://www.tfhe.net/.) Giáo sư Rosovsky hiện là cố vấn cho công trình nghiên cứu đang được tiến hành tại Ash Institute về cải cách thể chế ở Việt Nam.

[5] Cũng cần phải nhấn mạnh rằng còn một thứ trong hệ thống giáo dục chưa bị làm què quặt bởi tham nhũng và gia đình trị là các cuộc thi đầu vào đại học. Chính phủ đã bỏ khá nhiều công sức để đảm bảo rằng quá trình thi cử này không bị vẩn đục. Kết quả là những học sinh được nhận vào thường có tài năng và nhiều người đã thành công trong việc bổ sung kiến thức cho chương trình học lỗi thời bằng cách tự học.

[6] Trong những năm gần đây, các trường đại học tư nhân đã nở rộ. Tuy nhiên, những trường này vẫn phải chịu nhiều kiểm soát giống như đại học công. Hầu hết trong số đó là các tổ chức tìm kiếm lợi nhuận và dựa vào học phí để tạo ra lợi nhuận; và kết quả là chất lượng đồng loạt thấp.

[7] Trường "Đại học Việt Đức" là trường đại học mới đầu tiên kiểu này. Nó được mô tả như là một dự án liên kết giữa chính quyền Việt Nam và chính quyền Đức.

[8] Chúng tôi đã khuyến nghị chính quyền Việt Nam là nó cần tập trung một tập đoàn các trường đại học Mỹ để xây dựng một trường nghiên cứu, ban đầu là để cung cấp giảng dạy đại học, rồi từ từ đưa ra các chương trình giảng dạy sau đại học.